SEN XANH MỘT ĐÓA
Posted on 20.06.2012 by nguyentrongtao
TRẦN VŨ LONG
Nhà văn Sơn Tùng
Nhà văn Sơn Tùng tên thật là Bùi Sơn Tùng. Sinh ngày 8 tháng 8 năm 1928. Quê quán Diễn Kim, Diễn Châu, Nghệ An. Trước
năm 1945 từng tham gia mặt trận Việt Minh. Trong những năm kháng chiến
chống Pháp và chống Mỹ ông làm phóng viên chiến trường. Nhà văn Sơn Tùng
từng công tác tại báo Nông Nghiệp, báo Tiền Phong, Đại học Nhân Dân.
Ông là đại biểu Thanh niên Sinh viên Việt Nam tham dự Đại hội liên hoan
Thanh niên Sinh viên thế giới lần thứ V tại Vác sa va, Ba Lan. Ông là
thương binh nặng hạng ¼ từ năm 1971, kể từ đó đến nay tự khổ luyện để
tàn mà không phế, sống và viết văn. Nhà văn Sơn Tùng là tác giả của
hàng chục cuốn tiểu thuyết, bút kí, truyện thơ… Ông được trao giải đặc
biệt cho tác phẩm Búp sen xanh. Năm 2011, ông được Nhà nước trao tặng
danh hiệu Anh hùng Lao động.
Tôi có hai điều lo ngại khi chọn nhân vật
để viết chân dung. Thứ nhất là viết về một người có mối quan hệ thân
thiết với mình. Bởi nếu bài viết không hay, không lột tả được chân dung
của người đó…quả thật là ngại. Điều thứ hai là viết về nhân vật nổi
tiếng. Vì, trước đó sẽ có nhiều bài viết về con người ấy, và như thế khó
để tìm ra một góc nhìn mới, cách viết mới không bị trùng lặp, bạn đọc
không có cảm giác nhàm chán. Nhân vật trong bài viết này, thuộc vào điều
lo ngại thứ hai của tôi. Ông là nhà văn Sơn Tùng.
Tôi có thể viết gì về nhà văn Sơn Tùng
đây, khi đã có quá nhiều bài báo viết về ông. Ngay lúc này, trước mặt
tôi là một cuốn sách dày ngót nghét nghìn trang, tập hợp hàng trăm bài
báo viết về nhà văn Sơn Tùng. Trong đó là những bài viết của nhiều vị
tướng lĩnh, lãnh đạo cao cấp, các nhà văn, nhà báo, nhân sĩ trí thức có
tên tuổi. Cuốn sách có nhan đề “Hiện tượng Sơn Tùng trong văn học Việt Nam hiện đại”,
do anh em, bạn bè biên soạn, sau khi ông trở bệnh nặng. Không biết
người biên soạn dùng hai chữ “hiện tượng” để nói về sự nghiệp văn chương
hay để nói về con người ông. Với cá nhân tôi, ông đúng là hiện tượng
trong làng văn. Tôi không bàn luận đến sự nghiệp văn chương của ông. Bởi
đánh giá một nhà văn có phải là hiện tượng trong nền văn học nước nhà
hay không thì có lẽ tôi chưa đủ tầm để làm cái việc đó. Và, cái sự cảm
với văn chương là vô cùng, không định lượng. Việc đó hãy để cho cỗ máy
thời gian cùng nguyên liệu là tác phẩm của nhà văn tự vận hành. Nhưng
điều quan trọng hơn, và tôi tin là như thế, với một người suốt đời tôn
thờ chữ Tâm như ông thì cái sự nổi tiếng hay hai chữ “hiện tượng” chỉ là
thứ ảo ảnh phù du mà thôi. Với tôi, nhà văn Sơn Tùng là một hiện tượng
trong làng văn bởi chính sự dấn thân và cống hiến của ông cho văn chương
khiến người ta phải nể trọng. Từ một thương binh nặng, chỉ cần nỗ lực
vượt qua bệnh tật để sinh hoạt hàng ngày thôi đã là việc hết sức khó
khăn rồi; đằng này ông lại cầm bút viết văn và trở thành nhà văn có tên
tuổi với khối lượng tác phẩm khiến cho người ta phải giật mình kính nể.
Từ trước đến giờ, tôi có ba lần được gặp nhà văn Sơn Tùng:
Lần thứ nhất. Cách đây đến hai mươi năm,
ông đến để thăm và chia buồn với bố tôi khi bà nội tôi vừa mới mất. Tôi
vẫn còn nhớ, vợ ông đã đèo ông đến bằng chiếc xe đạp cọc cạch. Và, tôi
vẫn còn nhớ dáng hình cùng với bộ quần áo ông mặc. Hồi đó, tôi chỉ là
một đứa trẻ, đứng lấp ló từ xa để nhìn ông đang trò chuyện cùng bố. Về
sau này, qua sách báo, phim ảnh, qua lời kể của bố, tôi mới biết đó là
Sơn Tùng, một nhà văn rất nổi tiếng. Kẻ hậu sinh xin mạn phép nhà văn
được dùng hai chữ “nổi tiếng”, mặc dù có thể ông không thích nó, nhưng
thật khó để tìm từ khác thay thế một cách trọn vẹn. Ngay từ hồi đó tôi
bắt đầu đọc những tác phẩm của ông, bởi sau mỗi lần in sách ông đều gửi
tặng cho bố tôi. Chữ ký đề tặng của ông luôn làm tôi ngạc nhiên, mỗi khi
cầm những cuốn sách đó. Giải thích về chữ ký đặc biệt của mình, ông bảo
đó là cây tùng mọc thẳng trên núi, nhưng cũng có thể xem như một nén
nhang thắp trên mộ những anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì độc lập dân
tộc. Trên mỗi trang sách ký tặng, bao giờ ông cũng ghi một câu nói tâm
đắc, như: “Mắt mù không đáng sợ. Sợ nhất kẻ tim mù!” hay “Thành nhân trước khi thành nghiệp”. Có lẽ chỉ với trang sách đề tặng đó thôi đã phần nào khắc hoạ được cốt cách con người ông.
Lần thứ hai. Đó là mùa hè năm 2011, ông đến Hội Nhà văn Việt Nam để nhận danh hiệu Anh hùng lao động của
Chủ tịch nước. Có lẽ đối với rất nhiều người, trước ngày nhà văn Sơn
Tùng được nhận danh hiệu cao quý đó, từ lâu ông đã thực sự trở thành một
người anh hùng. Một anh hùng hy sinh xương máu cho sự nghiệp giải phóng
dân tộc. Một anh hùng vượt qua những cơn đau thể xác, miệt mài cống
hiến cho nền văn học Việt Nam. Và đặc biệt, một anh hùng về nhân cách và
phẩm giá con người. Hôm đó, khi chiếc xe ôtô chở nhà văn Sơn Tùng tiến
vào sân trụ sở Hội Nhà văn, tất cả các đồng nghiệp, anh em bè bạn đang
đứng đợi, ùa đến vây quanh. Tác giả của Búp sen xanh
được bế ra từ ôtô trong vòng tay của người thân và bè bạn. Đã mấy năm
nay ông bệnh nặng phải nằm viện thường xuyên. Ngồi trên xe lăn, ông nhìn
mọi người rồi chảy nước mắt mà không nói được. Cả hội trường thực sự
xúc động, vang dậy tràng pháo tay, khi chiếc xe lăn của nhà văn Sơn Tùng
tiến vào. Người đi sau đẩy chiếc xe, không ai khác chính là vợ ông, bà
Phan Thị HHồng Mai, một người phụ nữ đã từ lâu cũng được phong anh hùng ở
trong lòng những người yêu mến, kính trọng. Chủ tịch nước Nguyễn Minh
Triết, một người bạn thân thiết, thủy chung từ trong bom đạn, thân tình
chào đón và thăm hỏi vợ chồng nhà văn Sơn Tùng. Suốt mấy năm qua, khi
nhà văn Sơn Tùng luôn trong tình trạng nguy kịch, chiến đấu quyết liệt
với bệnh tật để giành lại sự sống, Chủ tịch nuớc Nguyễn Minh Triết vẫn
luôn đến thăm, lúc ở bệnh viện, khi ở nhà để động viên một người bạn,
một người anh mà ông vô cùng kính trọng. Chủ tịch nước từng nói với mọi
người rằng: “Đối với tôi, anh Sơn Tùng là một đại sư phụ”. Còn nhà thơ Hữu thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã nói trong buổi lễ hôm đó rằng: “Nhà
văn viết bằng tài năng, viết bằng cảm xúc thăng hoa thì có nhiều. Nhưng
nếu ai muốn biết nhà văn đã viết bằng máu như thế nào thì xin hãy đến
gặp Sơn Tùng… Tấm gương trong sáng của người anh hùng, nhà văn Sơn Tùng
là sách ở ngoài sách, là chữ ở ngoài chữ, là lời ở ngoài lời”. Lâu
rồi, tôi mới lại thấy một buổi lễ tôn vinh nhà văn diễn ra trong không
khí xúc động, nhận được sự quan tâm của nhiều nhà văn, độc giả và báo
giới đến vậy. Lần gặp thứ hai này tôi cũng chỉ lặng lẽ đứng từ xa nhìn
ông với một tâm trạng đầy xúc động. Còn ông thì cũng chẳng nói được, chỉ
những giọt nước mắt cứ lăn dài trên má trước tình cảm của mọi người
dành cho mình.
Lần thứ ba. Trước tết Nhâm thìn khoảng
hai tháng, tôi và một người bạn đến nhà thăm ông. Trước khi đến ngõ Văn
Chương, trên phố Khâm Thiên, trong đầu tôi lại nhớ đến những trang sách
mà ông ký tặng cho bố tôi. Phía cuối mỗi trang sách đó, ông luôn đề hai
chữ “Ngõ Văn” hoặc “Chiếu Văn”. Đã không ít lần tôi tự hỏi tại sao lại
có cái tên ngõ hay thế. Phải chăng đó là nơi lui tới của các tao nhân
mặc khách trước đây. Để bây giờ cũng có một văn nhân ẩn mình trong ngõ
Văn. Và hình như, đây là lần đầu tiên tôi đặt chân đến con ngõ này. Nó
khác hẳn với những gì tôi nghĩ trước đây, mỗi khi đọc được hai chữ “ngõ
Văn” trong sách của ông. Đó là một con ngõ rất rộng nhưng ồn ào, náo
nhiệt. Trường học và chợ búa xen kẽ. Người xe đi lại tấp nập. Căn nhà
của ông nằm trên tầng hai của một khu tập thể cũ nát. Vậy mà mấy chục
năm qua, ông đã nhiều lần từ chối lời đề nghị phân nhà của các vị lãnh
đạo cao cấp, của các cơ quan đoàn thể, rồi cũng có lần ông nhường lại
tiêu chuẩn cho một gia đình già cả neo đơn bên hàng xóm. Đối với ông,
mọi thứ tiện nghi hay danh vọng chỉ là cái vỏ bọc tầm thường. Ông chỉ
luôn tâm niệm và hướng tới một điều là giữ cho tâm hồn mình trong sáng,
ngay thẳng, sống nhân nghĩa và làm điều thiện. Dẫu cho thân thể tàn phế
nhưng không tàn phế tâm hồn. Ông bảo, ăn mày ở cửa quan thì cũng giống
như ăn mày ở ngoài đường, nên suốt đời không được ngửa tay xin ai cái
gì. Cũng có lần, một người bạn Nhật Bản đến thăm ông, đã không khỏi ngạc
nhiên và xúc động khi thấy điều kiện sống của một nhà văn tên tuổi, một
thương binh nặng lại quá khó khăn như vậy. Với sự ngưỡng mộ, kính trọng
của mình, ông bạn người Nhật muốn tặng nhà văn Sơn Tùng một ngôi nhà.
Nhưng rồi, nhà văn Sơn Tùng đã cảm ơn và từ chối rằng, mục đích sống của
đời ông không phải vì ngôi nhà hay vì những thứ vật chất nào khác. Nếu
chỉ vì những mục đích đó thì có thể ông đã có được những thứ ấy từ lâu
rồi. Có lẽ nhà văn Sơn Tùng là một tính cách đặc trưng cho tính cách của
người dân xứ Nghệ. Và dẫu ông có xa quê hương gần trọn đời người thì
bản tính đó vẫn không bị hoà tan, không bị pha loãng với những tính cách
ở vùng miền khác. Chính vì vậy ông có vô số những người bạn thực sự yêu
quý và kính trọng ông. Cũng chính tính cách đó mà không ít kẻ ganh ghét
nhưng vẫn phải nể ông. Trong căn nhà chật hẹp này, với mọi đồ vật đều
nhẵn bóng bởi nước men thời gian, đã từng chứng kiến sự hiện diện của
biết bao tầng lớp người trong xã hội. Họ là những vị quan chức, tướng
lĩnh số một của đất nước. Họ là những văn nghệ sĩ có tên tuổi. Họ là
những vị khách từ một đất nước xa xôi, hay từ một miền nào đó của tổ
quốc mà ông không hề quen biết. Họ là những người dân lao động chân lấm
tay bùn, buôn thúng bán mẹt. Họ cũng có thể là một người tâm thần hay
một giang hồ hảo hán. Vâng, không biết có bao nhiêu con người như thế đã
đến đây. Họ đến đây chính vì ông là Sơn Tùng. Họ đến vì ông là một nhà
văn nổi tiếng. Nhưng quan trọng hơn, họ đến vì có một nhân cách đáng
quý: thẳng thắn và kiên trung, nhẹ nhàng và nhân ái, đang hiện hữu trong
căn nhà tềnh toàng này giữa thời buổi phải trái, trắng đen, thật giả
lẫn lộn. Có người bảo, họ đến chỉ để nhìn thấy mặt ông Sơn Tùng thế nào
mà thôi. Tất cả những con người đó đều trở thành thượng khách trong căn
nhà này. Không phân biệt nghèo hèn, chức vị. Căn nhà này cũng nổi tiếng
trong làng văn vì đã tồn tại một Chiếu văn. Họ đến đây bằng một tình
người, bằng một tình yêu văn chương nghệ thuật, bằng một tấm lòng với
con người, với dân tộc. Đó là những: Văn Cao, Đặng Đình Hưng, Minh
Giang, Siêu Hải, Tân Trà, Mạc Phi, Nguyễn Trọng Phấn, Đào Phan, Phan
Ngọc, Phí Văn Bái, Hoàng Kính, Mai Hồng Niên, Cao Ngọc Thắng, Thiên Sơn…
Mỗi tuần một lần, họ đến đây để nghe tác phẩm, tâm sự và những trăn trở
của bạn mình. Để rồi cùng trao đổi, góp ý cho nhau. Căn nhà này cũng đã
từng cưu mang nhiều văn nghệ sĩ khi hoạn nạn giữa buổi nhiễu nhương. Có
người bạn lớn hơn nhà văn Sơn Tùng nhiều tuổi, nhưng vì yêu bạn mình
quá đã viết một bài điếu văn để khóc bạn, nhỡ sau này có chết trước lại
không được dự đám tang của bạn. Còn có người thì tự hào mà nói rằng: “Cuộc
đời tôi có ba lần may mắn. May mắn thứ nhất là được chụp ảnh với Bác
Hồ. May mắn thứ hai được chụp ảnh với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Còn may
mắn thứ ba là được chụp ảnh với Sơn Tùng”. Cách đây không lâu, khi
ông được đưa từ bệnh viện về, có một người hàng xóm chạy sang. Anh ta
quỳ gối từ ngoài cửa, vừa khóc, vừa vái lạy rồi lê gối vào đến giường
nhà văn Sơn Tùng: “Ông ơi, con thương ông quá. Con là thằng chẳng ra
gì, suốt ngày rượu chè cờ bạc, đánh vợ đánh con. Nhờ có ông dạy bảo mà
con đã thay đổi. Con đã biết đi làm, kiếm tiền nuôi vợ con. Bây giờ ông
ra nông nỗi này. Con thương ông quá ông ơi”. Cũng có khi, nửa đêm,
một người tâm thần đập cửa ầm gọi tên ông. Nhà văn Sơn Tùng vẫn bình
thản ra mở cửa mời anh ta vào, rồi hỏi đêm hôm vác dao đến đây làm gì.
Người đàn ông kia trả lời: “Tự nhiên cháu nghĩ đến bác nên đến để thăm. Bây giờ bác nghỉ, cháu xin phép về”. Sơn Tùng là thế đó.
Có nhiều người đến thăm, tỏ vẻ ái ngại
cho điều kiện sinh hoạt của ông, rồi những thiệt thòi từ cuộc sống, chèn
ép đến từ cõi người này, thậm chí phải kêu lên rằng cuộc đời này sao
quá tàn nhẫn với những tấm lòng chân thật, ngay thẳng. Nhưng không, xin
chớ vội chạnh lòng. Tâm ông đã thiền. Dẫu có khó khăn từ cuộc sống, dẫu
có sóng gió do cõi người mang đến, ông đều bất chấp và vượt qua. Ông
chấp nhận và vui vẻ với những gì mình có. Chính vì vậy mà ông luôn sống
một cuộc đời thanh bạch, thanh nhàn và thanh thản. Nguyên nhân của đau
khổ không phải vì sống ở trên đời này, mà chính là vì một sự nhận thức
nông cạn của con người đối với đời sống. Chúng ta cần phải cởi bỏ mọi
tư tưởng của một cái “tôi” và có vậy ta mới nhận được niềm vui. Một
hạnh phúc vĩnh cửu chỉ sống mạnh trong một tâm hồn giải thoát. Và những
tâm hồn giải thoát chỉ có thể thực hiện, một khi ta biết giới hạn.
Sự nghiệp văn chương của ông chủ yếu với
hai đề tài: Viết về danh nhân, đặc biệt là viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh
và viết về đề tài chiến tranh. Có thể nói, Sơn Tùng là nhà văn viết về
Hồ chí Minh hay nhất, nhiều nhất và công phu nhất. Ông là người đầu tiên
đã khai mở cách viết mới, cách nhìn nhận mới về Bác Hồ một cách chân
thực và sinh động để lại dấu ấn trong lòng công chúng yêu văn học. Ông
chính là một người anh hùng cầm bút, cho chúng ta những cảm nhận sâu sắc
về một nhân cách và phẩm giá của một con người và của một nhà văn. Ông
chính là một tấm gương sáng của sự dấn thân, dâng hiến cho đời và cho
nghề văn. Đó là một sự dấn thân cao đẹp và “vẹn tròn” như chiếc nón bài
thơ quê hương mà ông đã viết trong bài thơ “Gửi em chiếc nón bài thơ” từ hơn 40 năm trước, sau này được nhạc sĩ Lê Việt Hoà phổ thành bài hát rất nổi tiếng.
Nhà văn Sơn Tùng quan niệm: “Đạo là gốc của văn. Văn nhân đích thị dấn thân hành đạo”.
Và tôi thực sự thấu hiểu câu nói đó khi bước vào căn phòng làm việc của
ông. Ngay ở cửa ra vào phòng làm việc có dán một lá bồ đề đã khô. Ở vị
trí trang trọng nhất của căn phòng là một ban thờ, gồm bốn bức ảnh của
các danh nhân đất Việt: Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Du và Hồ Chí
Minh.
Và lần thứ ba này tôi cũng chỉ lặng lẽ
nhìn ông nằm đó với một thân hình gầy gò, chân bị co lại. Ông đâu có nói
được, chỉ phều phào mà không thành tiếng. Rồi ông lại khóc khi nghe anh
bạn tôi đọc những bài thơ của ông. Trước khi ra về, tôi đã nắm chặt tay
ông. Tôi thầm mong ông tiếp tục sống. Dẫu biết rằng cuộc sống hiện tại
thật là nghiệt ngã đối với ông. Nhưng tôi vẫn thầm mong như vậy, để tự
nhủ với mình rằng có một nhân cách, một tấm lòng như thế vẫn còn hiện
hữu trên cõi đời này.
Người giới thiệu: TQS, ngày 22 tháng 6 năm 2012
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét