NỖI BUỒN, NHƯ MỘT TIÊU CHÍ THẨM MỸ TRONG THƠ ĐỖ TRỌNG KHƠI
KHÁNH PHƯƠNG
Thơ Đỗ Trọng Khơi thiên về giãi bày, bộc bạch để sẻ chia hơn là chất vấn, tìm tòi, nổi loạn… Nhà thơ dễ dàng để cảm xúc tuôn chảy, lấn át và trở thành năng lượng chủ đạo của bài thơ, phương thức này có phần chiếm ưu thế hơn là tưởng tượng, hay xây dựng những cấu trúc ngôn ngữ mới tương ứng với những chiều sâu khác nhau của tâm thức.
Thế giới thơ Đỗ Trọng Khơi vẫn gắn bó và đặt nền móng trên những sự vật và sự kiện có thực trong đời sống, như mảnh ao làng, ngõ quê, nỗi tảo tần thương khó của mẹ, sân chùa, sắc thu, trời đất… Nhưng thế giới ấy luôn hiện lên lộng lẫy, muôn hình sắc, đủ thanh âm, dư ba vang động… trong dòng cảm xúc mãnh liệt. Sự thuần khiết và thăng hoa của cảm xúc khiến cho thơ Đỗ Trọng Khơi luôn giữ được bạn đọc trong từ trường của nó, tạo ra một cõi riêng biệt sâu lắng, và dường như cũng khởi đầu thấp thoáng một dạng thức “sự sống khác” của tâm thức so với hiện thực vật chất và những “tình cảm, tâm trạng” ít nhiều quan liêu mà người ta từng biết trước đây.
Thế giới thơ Đỗ Trọng Khơi vẫn gắn bó và đặt nền móng trên những sự vật và sự kiện có thực trong đời sống, như mảnh ao làng, ngõ quê, nỗi tảo tần thương khó của mẹ, sân chùa, sắc thu, trời đất… Nhưng thế giới ấy luôn hiện lên lộng lẫy, muôn hình sắc, đủ thanh âm, dư ba vang động… trong dòng cảm xúc mãnh liệt. Sự thuần khiết và thăng hoa của cảm xúc khiến cho thơ Đỗ Trọng Khơi luôn giữ được bạn đọc trong từ trường của nó, tạo ra một cõi riêng biệt sâu lắng, và dường như cũng khởi đầu thấp thoáng một dạng thức “sự sống khác” của tâm thức so với hiện thực vật chất và những “tình cảm, tâm trạng” ít nhiều quan liêu mà người ta từng biết trước đây.
***
Nỗi buồn ẩn hiện trong hầu khắp những câu thơ Đỗ Trọng Khơi, như một động lực trực tiếp thúc đẩy nhà thơ tìm đến sự biệt lập, thanh tĩnh của nội tâm:
Mai kia ngủ giấc thiên thu
buông tay bỏ lại tù mù thế gian
Nỗi buồn ẩn hiện trong hầu khắp những câu thơ Đỗ Trọng Khơi, như một động lực trực tiếp thúc đẩy nhà thơ tìm đến sự biệt lập, thanh tĩnh của nội tâm:
Mai kia ngủ giấc thiên thu
buông tay bỏ lại tù mù thế gian
Vầng trăng đáy nước ngấn vàng
từ lâu ta đã để tang ta rồi
(Ở thế gian)
Hay:
Một đêm ở với nỗi buồn
cùng hòn sỏi có nắm sương nằm kề
(Mê)
Đây chưa phải những câu thơ thật hay theo nghĩa, tạo được những kết hợp ngôn từ lạ, độc đáo, đi thẳng vào trực giác bạn đọc và mở ra một thế giới nội tâm đầy sức thu hút, nhưng lại hàm chứa bất ngờ và cái kỳ lạ một cách tinh tế: sự kết đôi, hóa nhập giữa cái đẹp kiểu cổ điển (Vầng trăng đáy nước ngấn vàng) với tâm trạng bi mẫn, mà cũng rất “chơi ngông” (ta để tang ta), vốn khá cách xa nhau trong cảm nhận; hay sự hòa hợp về cảm giác vật chất giữa “nỗi buồn”, “viên sỏi”, nắm sương” trong con người.
Khác với một số nhà thơ cũng tìm đến lục bát trước và cùng thời, như Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn…, những người có xu hướng tìm đến sự cân bằng giữa hình ảnh thơ chắc chắn, đầy đặn, hấp dẫn, với trạng thái nội tâm tương đối rõ ràng, bình ổn, Đỗ Trọng Khơi lại có khuynh hướng bị “lôi kéo” và nhiều lúc dường như lạc vào sự tha thiết bất tận của tâm trạng. Đây có lẽ là một ưu thế làm nên giọng điệu riêng biệt của nhà thơ, không nệ vào hình ảnh vật chất, bỏ qua những suy lý thông thường, chỉ tập trung vào diễn tả cái thần vía của cảm nhận. Chính vì vậy, đọc thơ Đỗ Trọng Khơi, người ta không mấy quan tâm đến những câu chữ, hình ảnh có lúc còn rườm rà, hay mang vẻ hơi lộn xộn, mà chỉ bị cuốn hút bởi tâm thái thiết tha, sâu lắng.
Nỗi buồn được nhà thơ cảm nhận thường xuyên, như một định mệnh, và nó trở thành nhiều trạng thái khác: nỗi xót xa, đau thương, tinh thần chấp nhận, hy sinh, và cao hơn hết thảy, nó trở thành một triết lý khoan dung với cuộc đời và sự sống, có khả năng làm vợi bớt những ngang trái, uẩn khúc của cuộc sinh tồn.
Nỗi đau xót được tiết chế tối đa, trở nên kín đáo, tinh tế, chuyển thành những biểu tượng mang vẻ đẹp nhuần nhị, dịu dàng. Lối thể hiện này khiến người đọc cảm thấy gần gũi như với mỹ cảm cổ điển, thanh thoát trong truyện Kiều của Nguyễn Du.
Vườn xuân lá xuân vẫn rơi
màu và sắc cứ ngời ngời tươi non…
thời gian hư ảnh cũng mòn,
nhuộm mờ mặt đất tiếng con chim chiều.
(Thời gian)
Trăng lên chưa chạm đỉnh không
cỏ xanh chưa ngọn cuối cùng chưa thôi
Hư vô thảm thắc với tôi
thời gian càng nắm càng rơi dọc đường
(Hư vô thảm thắc)
Con người trong thơ Đỗ Trọng Khơi không coi bất hạnh hay nỗi buồn từ định mệnh bất hạnh ấy là điều đáng sân hận, hay cảm giác đen tối, thê thảm, mà ngược lại, tự gánh chịu, chấp nhận, đối mặt với đau buồn, coi nó dần trở thành đương nhiên, như một cách thức để chứng nghiệm đời sống, đương đầu với nghịch lý của nhân sinh và thế giới. Nỗi buồn đưa con người tới gần hơn với thiên nhiên, sự bao dung cũng như cái cao cả, vô biên, vừa không thể hiểu được vừa xoa dịu, nâng đỡ… của thiên nhiên. Tâm thức này cũng khiến cho thơ Đỗ Trọng Khơi ngày càng tiến gần lại với vẻ đẹp trang trọng, cao quý, trầm mặc… gần gũi với mỹ cảm của Truyện Kiều, Nguyễn Du.
Xuân gió sắc, thu mưa màu
đục trầm cu gáy, ngùi sâu vạc đồng
Đông sương giá, hạ nắng nồng
đất trời thoắt có thoắt không nét hình
Hữu tình thoắt lại vô tình
ta thành chim đất nín thinh giữa trời.
(Cảm xúc thời gian)
Bứơc ngày đè nẻo hư hao
chiều nao chiều nảo chiều nào cũng sương
Dấu theo đã tỏ tấc đường
vẽ lên một sắc cỏ buồn như mây
(Nạm)
Sự đan quyện giữa những suy tưởng, chứng nghiệm về cuộc đời và thân phận, về vẻ đẹp và tâm hồn, với những biểu tượng quen thuộc của thiên nhiên nguyên khởi như mưa, nắng, xuân, hạ, thu, đông, sương, gió, mây… khiến cho câu thơ mang dáng vẻ duy mỹ, vừa có độ rộng lớn, kỳ vĩ của không gian hồi tưởng, vừa có sự kín đáo, uyển chuyển, tinh tế của tâm thức riêng tư.
Trong số những bài thơ hay nhất của Đỗ Trọng Khơi có những bài về thân phận, ẩn giấu triết lý của người đã đi hết và vượt qua nỗi buồn:
Ta về ở ẩn trong ta
đem thân thoáng chốc làm quà tặng chơi
khuất thì khuất một ta thôi
ngày đương trưa nắng chia ngôi thật dài
Đời ta không kể ngắn dài
tình ta bỏ lẽ đúng sai lại rồi
trong bao la một ta ngồi
một ta chơi với một người là ta
Không hề trẻ, sao lại già
không là lá, chẳng thành hoa, chẳng gì…
(Ta về cõi ta)
Tôi tự chèo lái lấy thôi
Con thuyền bào ảnh là tôi, hay là?..
… Tôi tự chèo lấy tôi sang
khi thuyền rời bến thì tan mất chèo
tôi là một thế gian nghèo
vay vũ trụ cõi trong veo không gì
Tôi tự chèo lái tôi đi
đi cho hết cõi không gì mới thôi.
(Cõi không gì)
Từ nỗi buồn về thân phận, về những ranh giới không thể vượt qua trong tồn tại hữu thực, Đỗ Trọng Khơi biết chối từ chính những ràng buộc hữu hạn (đúng, sai… những tiến trình cõi tạm, phù du, như lá, hoa, trẻ, già…) để đi tới bản chất “không gì” của cuộc sống. Đây là một chứng nghiệm, triết lý trái với thói quen, có thể gây hụt hẫng, thậm chí có thể bị coi là “hư vô”, ít có mối liên hệ nào với thực tại. Nhưng nguyên cớ sâu xa của nó là một tinh thần hy sinh và hỷ xả tới mức “vô ngã”, quên đi những đòi hỏi của chính con người bé nhỏ, hữu hạn là mình, để nhận thức, cái hữu thực đang tồn tại thực ra không hề to lớn, cái “không gì” –vô hình, vô ảnh, vô giá trị mà người ta thường ngại ngùng, sợ hãi, mới là bản tính chân xác của vũ trụ, đây là lòng can đảm và trí tuệ của người đạt đạo – tìm thấy khả năng tự quyết thân phận của chính mình và hướng tới điều cao cả.
***
Về thực hiện ngôn ngữ, thơ Đỗ Trọng Khơi căn bản vẫn đáp ứng những quy tắc của ngôn ngữ cổ điển, căn cứ vào những liên tưởng tương đồng kiểu ẩn dụ, hoán dụ, nhưng quan tâm hơn đến chi tiết và tiến trình của nét tương đồng ấy.
Ngàn thu trong một mùa thu
vàng chưa hết sắc đã từ rất lâu
tình còn đấy một đôi câu
làn mây, con nước chân cầu còn trôi
(Tựa)
Thời gian hư ảnh cũng mòn,
nhuộm mờ mặt đất tiếng con chim chiều.
(Thời gian)
Những liên tưởng xa, liên tưởng tương phản như trên, khiến câu thơ của Đỗ Trọng Khơi lạ lùng hơn, thu hút hơn, mặc dầu chưa thoát khỏi trường biểu cảm của tâm trạng buồn da diết, cô tịch đơn thuần.
Những chuyển động tinh tế trong từng câu thơ gợi nhớ cách cảm và lập tứ của thơ cổ điển:
Lịm vào hơỉ thở thời gian
hoa tàn, lá rụng, sương lan kín trời
(Khuya)
Gợi nhớ tầm cao rộng, mênh mang của không gian thông qua lan tỏa của những cảm giác cụ thể từ tai nghe, làn da cảm nhận… trong câu thơ Đường “nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên/ Giang phong ngư hỏa đối sầu miên”…
Rất phổ biến việc nhà thơ tận dụng lối đăng đối, trùng điệp, đề - dẫn (nêu tiền đề để tiếp tục triển khai) của cổ thi, nhưng với một tinh thần phóng túng, linh hoạt của thơ hiện đại:
Dấu theo đã tỏ tấc đường
vẽ lên một sắc cỏ buồn như mây
Hay:
Cầm hư ảnh vào đời chơi
mới hay cái cõi không lời thật sâu
Rằng nơi vô sắc bặt màu
điều thiêng quý, vết thương đau thật lòng
Mới hay cái nghĩa mênh mông
ở ngay trong khoảng tay cầm mà thôi
Ngày trong veo giấc mộng trôi
đêm rơi dìu dịu chân trời – bóng chim
Nhà thơ không quên “chơi ngôn ngữ” như một cách để thơ mình khắc sâu vào lòng bạn đọc vẻ đẹp lóng lánh của nhiều sắc diện khác nhau trong cùng một trạng thái:
Tôi chờ, tôi đợi, tôi quên
Tôi tàn phế, tôi sầu miên, tôi là
Một ngôi đất lạ, nữa và
hai ngôi đất lạ, nữa và…ba ngôi
(Tôi là)
chân mây liền với con đường
làng xa gõ một tiếng chuông lên chiều.
(Chiều)
không gian không một vết lời
(Khuya)
Những thủ pháp hiện đại đã giúp nhà thơ có được nhiều câu thơ ấn tượng và độc đáo.
Nằm ngoài sự tinh tường của câu chữ, cái tươi rói và thơ ngây hồn hậu trong cảm nhận của Đỗ Trọng Khơi, trong nhiều trường hợp, đã đưa được toàn bộ cảm thức thơ của nhà thơ vào một thứ ánh sáng bất thường, lạ lùng, làm lay chuyển tâm hồn người đọc:
Chim vóng qua mấy giọng tơ
hè xanh chưa lá đã thu rợp chiều
ngõ nhà non lại màu rêu…
Những câu thơ tưởng chừng vụng về, chệch choạc về âm điệu, vô hình chung làm lộ ra cái bỡ ngỡ, không đoán định trước được của tâm thức, và thật bất ngờ khi câu thơ chói sáng vẻ đẹp của tiềm thức hiện ra: Ngõ nhà non lại màu rêu…
Không có sự sắp đặt hay trau chuốt, thậm chí uyên thông nào, có thể tạo ra câu thơ như vậy.
Tương tự, bài thơ Khuya cũng là trường hợp mà nhà thơ Đỗ Trọng Khơi dường như đã xa dời những ám ảnh thường hằng, chạm tới cõi huyền ảo mơ hồ của tâm trí, nơi những cảm giác vi tế lại mang năng lượng vô chừng:
Lịm vào hơỉ thở thời gian
hoa tàn, lá rụng, sương lan kín trời
không gian không một vết lời
khuya ngân thoảng một tiếng cười con mơ.
từ lâu ta đã để tang ta rồi
(Ở thế gian)
Hay:
Một đêm ở với nỗi buồn
cùng hòn sỏi có nắm sương nằm kề
(Mê)
Đây chưa phải những câu thơ thật hay theo nghĩa, tạo được những kết hợp ngôn từ lạ, độc đáo, đi thẳng vào trực giác bạn đọc và mở ra một thế giới nội tâm đầy sức thu hút, nhưng lại hàm chứa bất ngờ và cái kỳ lạ một cách tinh tế: sự kết đôi, hóa nhập giữa cái đẹp kiểu cổ điển (Vầng trăng đáy nước ngấn vàng) với tâm trạng bi mẫn, mà cũng rất “chơi ngông” (ta để tang ta), vốn khá cách xa nhau trong cảm nhận; hay sự hòa hợp về cảm giác vật chất giữa “nỗi buồn”, “viên sỏi”, nắm sương” trong con người.
Khác với một số nhà thơ cũng tìm đến lục bát trước và cùng thời, như Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn…, những người có xu hướng tìm đến sự cân bằng giữa hình ảnh thơ chắc chắn, đầy đặn, hấp dẫn, với trạng thái nội tâm tương đối rõ ràng, bình ổn, Đỗ Trọng Khơi lại có khuynh hướng bị “lôi kéo” và nhiều lúc dường như lạc vào sự tha thiết bất tận của tâm trạng. Đây có lẽ là một ưu thế làm nên giọng điệu riêng biệt của nhà thơ, không nệ vào hình ảnh vật chất, bỏ qua những suy lý thông thường, chỉ tập trung vào diễn tả cái thần vía của cảm nhận. Chính vì vậy, đọc thơ Đỗ Trọng Khơi, người ta không mấy quan tâm đến những câu chữ, hình ảnh có lúc còn rườm rà, hay mang vẻ hơi lộn xộn, mà chỉ bị cuốn hút bởi tâm thái thiết tha, sâu lắng.
Nỗi buồn được nhà thơ cảm nhận thường xuyên, như một định mệnh, và nó trở thành nhiều trạng thái khác: nỗi xót xa, đau thương, tinh thần chấp nhận, hy sinh, và cao hơn hết thảy, nó trở thành một triết lý khoan dung với cuộc đời và sự sống, có khả năng làm vợi bớt những ngang trái, uẩn khúc của cuộc sinh tồn.
Nỗi đau xót được tiết chế tối đa, trở nên kín đáo, tinh tế, chuyển thành những biểu tượng mang vẻ đẹp nhuần nhị, dịu dàng. Lối thể hiện này khiến người đọc cảm thấy gần gũi như với mỹ cảm cổ điển, thanh thoát trong truyện Kiều của Nguyễn Du.
Vườn xuân lá xuân vẫn rơi
màu và sắc cứ ngời ngời tươi non…
thời gian hư ảnh cũng mòn,
nhuộm mờ mặt đất tiếng con chim chiều.
(Thời gian)
Trăng lên chưa chạm đỉnh không
cỏ xanh chưa ngọn cuối cùng chưa thôi
Hư vô thảm thắc với tôi
thời gian càng nắm càng rơi dọc đường
(Hư vô thảm thắc)
Con người trong thơ Đỗ Trọng Khơi không coi bất hạnh hay nỗi buồn từ định mệnh bất hạnh ấy là điều đáng sân hận, hay cảm giác đen tối, thê thảm, mà ngược lại, tự gánh chịu, chấp nhận, đối mặt với đau buồn, coi nó dần trở thành đương nhiên, như một cách thức để chứng nghiệm đời sống, đương đầu với nghịch lý của nhân sinh và thế giới. Nỗi buồn đưa con người tới gần hơn với thiên nhiên, sự bao dung cũng như cái cao cả, vô biên, vừa không thể hiểu được vừa xoa dịu, nâng đỡ… của thiên nhiên. Tâm thức này cũng khiến cho thơ Đỗ Trọng Khơi ngày càng tiến gần lại với vẻ đẹp trang trọng, cao quý, trầm mặc… gần gũi với mỹ cảm của Truyện Kiều, Nguyễn Du.
Xuân gió sắc, thu mưa màu
đục trầm cu gáy, ngùi sâu vạc đồng
Đông sương giá, hạ nắng nồng
đất trời thoắt có thoắt không nét hình
Hữu tình thoắt lại vô tình
ta thành chim đất nín thinh giữa trời.
(Cảm xúc thời gian)
Bứơc ngày đè nẻo hư hao
chiều nao chiều nảo chiều nào cũng sương
Dấu theo đã tỏ tấc đường
vẽ lên một sắc cỏ buồn như mây
(Nạm)
Sự đan quyện giữa những suy tưởng, chứng nghiệm về cuộc đời và thân phận, về vẻ đẹp và tâm hồn, với những biểu tượng quen thuộc của thiên nhiên nguyên khởi như mưa, nắng, xuân, hạ, thu, đông, sương, gió, mây… khiến cho câu thơ mang dáng vẻ duy mỹ, vừa có độ rộng lớn, kỳ vĩ của không gian hồi tưởng, vừa có sự kín đáo, uyển chuyển, tinh tế của tâm thức riêng tư.
Trong số những bài thơ hay nhất của Đỗ Trọng Khơi có những bài về thân phận, ẩn giấu triết lý của người đã đi hết và vượt qua nỗi buồn:
Ta về ở ẩn trong ta
đem thân thoáng chốc làm quà tặng chơi
khuất thì khuất một ta thôi
ngày đương trưa nắng chia ngôi thật dài
Đời ta không kể ngắn dài
tình ta bỏ lẽ đúng sai lại rồi
trong bao la một ta ngồi
một ta chơi với một người là ta
Không hề trẻ, sao lại già
không là lá, chẳng thành hoa, chẳng gì…
(Ta về cõi ta)
Tôi tự chèo lái lấy thôi
Con thuyền bào ảnh là tôi, hay là?..
… Tôi tự chèo lấy tôi sang
khi thuyền rời bến thì tan mất chèo
tôi là một thế gian nghèo
vay vũ trụ cõi trong veo không gì
Tôi tự chèo lái tôi đi
đi cho hết cõi không gì mới thôi.
(Cõi không gì)
Từ nỗi buồn về thân phận, về những ranh giới không thể vượt qua trong tồn tại hữu thực, Đỗ Trọng Khơi biết chối từ chính những ràng buộc hữu hạn (đúng, sai… những tiến trình cõi tạm, phù du, như lá, hoa, trẻ, già…) để đi tới bản chất “không gì” của cuộc sống. Đây là một chứng nghiệm, triết lý trái với thói quen, có thể gây hụt hẫng, thậm chí có thể bị coi là “hư vô”, ít có mối liên hệ nào với thực tại. Nhưng nguyên cớ sâu xa của nó là một tinh thần hy sinh và hỷ xả tới mức “vô ngã”, quên đi những đòi hỏi của chính con người bé nhỏ, hữu hạn là mình, để nhận thức, cái hữu thực đang tồn tại thực ra không hề to lớn, cái “không gì” –vô hình, vô ảnh, vô giá trị mà người ta thường ngại ngùng, sợ hãi, mới là bản tính chân xác của vũ trụ, đây là lòng can đảm và trí tuệ của người đạt đạo – tìm thấy khả năng tự quyết thân phận của chính mình và hướng tới điều cao cả.
***
Về thực hiện ngôn ngữ, thơ Đỗ Trọng Khơi căn bản vẫn đáp ứng những quy tắc của ngôn ngữ cổ điển, căn cứ vào những liên tưởng tương đồng kiểu ẩn dụ, hoán dụ, nhưng quan tâm hơn đến chi tiết và tiến trình của nét tương đồng ấy.
Ngàn thu trong một mùa thu
vàng chưa hết sắc đã từ rất lâu
tình còn đấy một đôi câu
làn mây, con nước chân cầu còn trôi
(Tựa)
Thời gian hư ảnh cũng mòn,
nhuộm mờ mặt đất tiếng con chim chiều.
(Thời gian)
Những liên tưởng xa, liên tưởng tương phản như trên, khiến câu thơ của Đỗ Trọng Khơi lạ lùng hơn, thu hút hơn, mặc dầu chưa thoát khỏi trường biểu cảm của tâm trạng buồn da diết, cô tịch đơn thuần.
Những chuyển động tinh tế trong từng câu thơ gợi nhớ cách cảm và lập tứ của thơ cổ điển:
Lịm vào hơỉ thở thời gian
hoa tàn, lá rụng, sương lan kín trời
(Khuya)
Gợi nhớ tầm cao rộng, mênh mang của không gian thông qua lan tỏa của những cảm giác cụ thể từ tai nghe, làn da cảm nhận… trong câu thơ Đường “nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên/ Giang phong ngư hỏa đối sầu miên”…
Rất phổ biến việc nhà thơ tận dụng lối đăng đối, trùng điệp, đề - dẫn (nêu tiền đề để tiếp tục triển khai) của cổ thi, nhưng với một tinh thần phóng túng, linh hoạt của thơ hiện đại:
Dấu theo đã tỏ tấc đường
vẽ lên một sắc cỏ buồn như mây
Hay:
Cầm hư ảnh vào đời chơi
mới hay cái cõi không lời thật sâu
Rằng nơi vô sắc bặt màu
điều thiêng quý, vết thương đau thật lòng
Mới hay cái nghĩa mênh mông
ở ngay trong khoảng tay cầm mà thôi
Ngày trong veo giấc mộng trôi
đêm rơi dìu dịu chân trời – bóng chim
Nhà thơ không quên “chơi ngôn ngữ” như một cách để thơ mình khắc sâu vào lòng bạn đọc vẻ đẹp lóng lánh của nhiều sắc diện khác nhau trong cùng một trạng thái:
Tôi chờ, tôi đợi, tôi quên
Tôi tàn phế, tôi sầu miên, tôi là
Một ngôi đất lạ, nữa và
hai ngôi đất lạ, nữa và…ba ngôi
(Tôi là)
chân mây liền với con đường
làng xa gõ một tiếng chuông lên chiều.
(Chiều)
không gian không một vết lời
(Khuya)
Những thủ pháp hiện đại đã giúp nhà thơ có được nhiều câu thơ ấn tượng và độc đáo.
Nằm ngoài sự tinh tường của câu chữ, cái tươi rói và thơ ngây hồn hậu trong cảm nhận của Đỗ Trọng Khơi, trong nhiều trường hợp, đã đưa được toàn bộ cảm thức thơ của nhà thơ vào một thứ ánh sáng bất thường, lạ lùng, làm lay chuyển tâm hồn người đọc:
Chim vóng qua mấy giọng tơ
hè xanh chưa lá đã thu rợp chiều
ngõ nhà non lại màu rêu…
Những câu thơ tưởng chừng vụng về, chệch choạc về âm điệu, vô hình chung làm lộ ra cái bỡ ngỡ, không đoán định trước được của tâm thức, và thật bất ngờ khi câu thơ chói sáng vẻ đẹp của tiềm thức hiện ra: Ngõ nhà non lại màu rêu…
Không có sự sắp đặt hay trau chuốt, thậm chí uyên thông nào, có thể tạo ra câu thơ như vậy.
Tương tự, bài thơ Khuya cũng là trường hợp mà nhà thơ Đỗ Trọng Khơi dường như đã xa dời những ám ảnh thường hằng, chạm tới cõi huyền ảo mơ hồ của tâm trí, nơi những cảm giác vi tế lại mang năng lượng vô chừng:
Lịm vào hơỉ thở thời gian
hoa tàn, lá rụng, sương lan kín trời
không gian không một vết lời
khuya ngân thoảng một tiếng cười con mơ.
***
Nếu như có một ưu điểm nào đó mà thơ Đỗ Trọng Khơi cần phải vượt qua, thì đó chính là sự mực thước, thăng bằng trong một số lối biểu đạt. Một tâm thức không hề bình lặng, với đủ cồn cào, day dứt, ngờ vực, bất an, kiếm tìm, triết lý… nhiều khi chưa được biểu tỏ bằng sự phóng dật và phát lộ tương xứng. Có cảm giác như nhà thơ còn ngần ngại ở bên này những thể nghiệm và bứt phá khỏi hình tượng, ngôn ngữ thơ cổ điển có sức níu kéo riêng tư nào đó…
Nếu như có một ưu điểm nào đó mà thơ Đỗ Trọng Khơi cần phải vượt qua, thì đó chính là sự mực thước, thăng bằng trong một số lối biểu đạt. Một tâm thức không hề bình lặng, với đủ cồn cào, day dứt, ngờ vực, bất an, kiếm tìm, triết lý… nhiều khi chưa được biểu tỏ bằng sự phóng dật và phát lộ tương xứng. Có cảm giác như nhà thơ còn ngần ngại ở bên này những thể nghiệm và bứt phá khỏi hình tượng, ngôn ngữ thơ cổ điển có sức níu kéo riêng tư nào đó…
K. P
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét