23 thg 2, 2016


TƯ DUY THƠ VIỆT NAM...
1. 
Đời con thưa dần mùi khói
mẹ già nua như những buổi chiều
Lăng lắc tuổi xuân
lăng lắc niềm thôn dã
bếp lửa ngày đông
Mơ được về bên mẹ
ao xưa, mảnh vườn nhỏ ngày xưa
bậc thềm giàn giụa trăng mỗi tối
Bên những hoàng hôn loang lổ gò đồi
mùi bạch đàn xộc vào giấc ngủ
(Củi lửa - Dương Kiều Minh)

Không khép mình trong những tâm sự cá nhân, cái tôi ấy luôn ý thức về bản thân trong mối quan hệ đầy ưu tư và trở trăn với cội rễ lịch sử, văn hóa, đời sống tinh thần dân tộc:

Tổ tiên tôi thức quá lâu tôi lại ngủ quá lâu
Trong trầm vọng kèn hơi những họng người đã rách
Bầy lúa nước vừa mang thai vừa than thở
Với lũ cá rô đồng đang khao khát mọc chân
Tôi là con chim thay lông muộn và đang tập giọng bằng cặp mỏ mềm còn ứ đầy máu loãng
Trong niềm rời rạc hân hoan của nhịp trống chân trời
Đợi bài ca sinh ra từ những hạt cơm vương trong chân cỏ dại
Từ quả trứng buồn vừa bóc vỏ thời gian
(Bài hát – Nguyễn Quang Thiều)

Đề cao tiếng nói cá nhân, các nhà thơ Đổi mới đặc biệt đề cao tiếng nói bản năng, vô thức, tâm linh. 
Thơ Nguyễn Bình Phương là một ví dụ. Có thể nói, thơ ông có một thứ “ngôn ngữ” đầy khác thường, thứ ngôn ngữ của mộng mị, của những ảo giác hoang lạ chập chờn:

Chết làm ngôi sao đen
Nằm trên giường bình yên bí ẩn
Chết không thở cùng hoa
Thở cùng người đàn bà xa lạ
Ở trong khu rừng ma
Có những con hươu ma
Chết nở một nụ cười sáng nhẹ
Chẳng vĩnh biệt em chẳng vĩnh biệt ai
Từ tốn mơ màng
Bông cải cúc ra đi
(Nhẹ - Nguyễn Bình Phương)

Mơ mộng, tưởng tượng và linh cảm như là biểu hiện cụ thể của thế giới siêu thực cũng xuất hiện khá dày trong thơ Mai Văn Phấn. Từ những cảm giác, trạng thái cá thể của cái tôi nhà thơ, chúng đã được đẩy tới thành một trạng thái phổ quát của thế giới, trong đó, mọi trật tự thông thường đều bị đảo lộn. Hiện diện trong thơ tác giả này là một thế giới “xô lệch” dị thường:

Áo khoác kêu thất thanh khi đi qua bàn tủ. Máy điện thoại im lìm ngủ. Chiếc kẹp ghim mở miệng cố giấu đi móng vuốt. Cán chổi móc vào tay người lao công, kéo chị ta về bên hố rác. Vành mũ trên đầu kêu thảng thốt, rồi cúi xuống rỉa hết mặt nhân viên bảo vệ. Không ai mở cổng. Nhiều người vẫn tìm được lối đi vào.
(Biến tấu con quạ - Mai Văn Phấn)

Dĩ nhiên, đấy là một sự đảo lộn cố tình. Sự “đảo lộn” trật tự bề mặt này nhằm hướng tới mục đích nhận thức và diễn tả một trật tự khác, ở bề sâu của nó, nơi tồn tại những cảm giác siêu nghiệm không thể kiểm chứng bằng kinh nghiệm nhưng lại được “chứng ngộ” bởi trực giác, tâm linh. Khi đó, nói theo cách của Nguyễn Quang Thiều, thế giới đã được “phát hiện lại” từ một con mắt mĩ học khác:

Bàn tay chúng ta chuyển động. Không. Cái ly chuyển động. Không. Rượu chuyển động. Không. Đôi chân chúng ta chuyển động. Không. Con tàu chuyển động. Không. Nhà ga chuyển động. Không. Thành phố chuyển động. Không. Con cá bơi. Không. Nước bơi. Không. Dòng sông bơi. Không. Con chim bay. Không. Cái cây bay. Không. Bầu trời bay. Không. Tất cả không. Chỉ cái chết chuyển động. Và mang theo chúng ta.
(Trò chơi của ảo giác – Nguyễn Quang Thiều).

Những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen tõe ra như móng chân gà mái
Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy
Những người đàn bà xuống gánh nước sông
Những bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và ướt
Một bàn tay họ bám vào đầu đòn gánh bé nhỏ chơi vơi
Bàn tay kia bấu vào mây trắng
(Những người đàn bà gánh nước sông – Nguyễn Quang Thiều)

Cũng có khi tác giả tạo hình bằng cách giấu mặt triệt để cái tôi trữ tình, đẩy đối tượng mô tả lên bề mặt văn bản, rút tỉa tối đa những chi tiết tả thực, và bằng thứ ngôn ngữ như là khách quan, tô đậm ấn tượng lạ lùng về “cái gì đó không thật” mà lại dường như không thế thật hơn của cõi sống. Với bút pháp tạo hình này, “khối động” nổi lên lừng lững như một bức tượng đài nhân sinh:

Khối đá nắng
ngang nhiên lối mòn treo
ngang nhiên rút dây giày mở
Ai kia
lưng quảy đá
lưng quảy rừng
phủi thời gian và chồng xếp lại
phía trước có gì đó không thật
đẩy lối mòn phồng rộp
đẩy đôi giày há mõm
Ai kia
(Khối động – Trần Tiến Dũng)

Sử dụng những chi tiết tưởng tượng phi lý, đậm tính nghịch dị là một cách thức tạo hình khác, nhằm kích thích những liên tưởng, tưởng tượng, nhận thức đa chiều:

Lưỡi tôi bị thắt
treo lên đỉnh cột
mỗi lần nói
chiếc lưỡi phải co rút
kéo thân thể béo ị lên cao
Tôi giẫy giụa tựa mảnh vải quẫy trong gió mạnh
(Ở những đỉnh cột – Mai Văn Phấn)

Thu nạp những phương pháp và kĩ thuật mới của thơ tượng trưng, thơ siêu thực, thơ tân hình thức, thơ thị giác…, nhiều tác giả Đổi mới không ngại tổ chức hình thức văn bản thơ theo những cách thức mà nếu so sánh với truyền thống, ta sẽ thấy hết sức khác thường. Chẳng hạn, câu chữ, hình ảnh có thể được tổ chức thành những dòng chảy ngôn ngữ miên man, liên tục, đan xen giữa nhiều cảm giác, hồi ức, linh cảm… vô hạn vô hồi, không dấu ngắt, không ngừng nghỉ. Trong những câu/ dòng thơ này, dường như vô thức đã tìm thấy “hình hài” của chính nó:

… bức tượng trong vườn ngỡ bị trương lên bởi hơi ẩm mưa dầm quánh đặc tràn lỗ tai con chữ chết dính vào trang sách không rõ ràng cảm xúc văng vẳng cơn mơ tiếng cười lả câu đùa nửa thực nửa hư trong bóng râm mơ hồ muội ám gốc cây nhòa mái đình ngõ nhỏ người đi bóng dán xuống hai vệ cỏ liêu xiêu gợi nhớ bà nội đầu năm châm lửa thắp hương thoảng mùi diêm sinh bay từ chăn chiếu từ nhụy hoa đầy dấu chân ong…
(Mười bài tập mùa xuân - Mai Văn Phấn)...
( Trích từ facebook Mai Văn Phấn: Tư duy thơ V Nam...)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét