19 thg 3, 2014

PHẠM LƯU VŨ 
PhatLaThapTrước khi nhập Niết Bàn, Đức Phật dặn các đệ tử đặt mình quay đầu về phía Bắc, ngụ ý đạo Phật rồi sẽ phải truyền về phương Bắc.
Hơn chín trăm năm sau (khoảng trước, sau năm 400 SCN trở đi), đạo Phật quả nhiên truyền sang Trung Quốc, một phần để tránh những cuộc xung đột đẫm máu với một số tôn giáo khác, một phần cũng nhằm bảo vệ và tiếp tục truyền bá kinh tạng…
Cuộc thiên di vĩ đại này có những “nhân duyên” hết sức ly kì, kèm theo những sự kiện làm kinh động cả trời đất, quỷ thần…
Thầy Thích Thông Lai (sinh năm 1952), một vị Tỳ Kheo hiện sinh sống và hành đạo ở Mĩ đã nói về chuyện này trong một buổi pháp thoại, lại khéo bắt đầu từ một câu chuyện rất chi là… đời nay. Với lối biện giải tuyệt vời, uyên áo, không những chỉ ra những “nhân duyên” ghê gớm dẫn đến cuộc “thiên di” kinh điển không tiền khoáng hậu đó, thầy còn cho ta thấy sự thẳm sâu, ẩn tàng, tầng tầng, lớp lớp những “vỉa quặng” trí tuệ trong từng đoạn, từng phần, trong từng câu, từng chữ của văn chương Phật Giáo (Kinh Phật). Đó là một điều mà người đọc kinh đời nào cũng không thể xem thường.
Với tư cách là một người vô cùng hâm mộ và biết ơn các bậc tiền nhân, tôi mạn phép thầy Thông Lai, xin được viết lại câu chuyện này dựa theo những lời giảng trong buổi pháp thoại của thầy.
Có một vị tỳ kheo trong nước được Ban quản trị của một ngôi chùa ở Mĩ bảo lãnh mời sang du lịch thuyết pháp với thời hạn một năm. Do có sự nghịch duyên (?) với BQT ngôi chùa này, nên giấy tờ di trú của vị thầy (bỗng) bị trục trặc và có nguy cơ bị trục xuất sớm về Việt Nam. Ái ngại cho hoàn cảnh của thầy, một vị nữ cư sĩ (là Việt kiều) trong chùa đã mời thầy về nhà mình để tìm cách giúp đỡ. Vợ chồng người nữ cư sĩ này có một cô con gái là kĩ sư, lại theo đạo Tin Lành, không quan tâm gì đến đạo Phật. Rước ông thầy về nhà, vị nữ cư sĩ nhờ cô con gái thuê luật sư để làm lại giấy tờ di trú cho ông thầy, đặng giúp ông thầy có thể ở lại một cách hợp pháp.
Cô gái ban đầu từ chối vì không muốn vướng bận thêm việc, sau vì sự thuyết phục và nể bố mẹ nên cũng đồng ý. Vì vợ chồng vị nữ cư sĩ kia không biết lái xe nên trong thời gian đi lại làm giấy tờ, cô con gái cũng kiêm luôn lái xe chở ông thầy đi. Hơn 6 tháng trời, cô gái đã nhiệt tình bỏ công, bỏ của thuê mướn luật sư (tổng cộng 12 ngàn đô la). Cuối cùng, ông thầy đã được chính phủ Mĩ cấp giấy chứng nhận thường trú theo diện thẻ xanh tôn giáo. Và… nghiệp chướng đã xảy ra.
Hơn 6 tháng ở chung một nhà, ngồi chung một xe, cô gái đã đem lòng… yêu ông thầy. Và cô đã trình bày với bố mẹ ý định “rủ” ông thầy hoàn tục để kết hôn với nhau. Khỏi cần nói cũng biết, đối với bà mẹ là một cư sĩ thuần thành, thì điều đó là không thể chấp nhận. Thế còn vị thầy? Vị thầy ấy đã trả lời bà mẹ: “tôi không có tình ý gì với con gái bà, nhưng vì mang ơn nên tôi muốn đền đáp lại. Cô ấy muốn thế nào, tôi sẽ đền đáp như thế ấy…”. Bà mẹ tuyên bố dứt khoát, rằng không muốn ông thầy đọa địa ngục, nhất là cô con gái mình, bà viện dẫn kinh Địa Tạng, kinh nói con gái thế gian mà quyến rũ Tỳ kheo, đệ tử của Phật thì sẽ bị đọa vào ngục Vô Gián, đời đời kiếp kiếp không thể nào thoát ra được…
Đến lượt vị thầy lại viện dẫn câu chuyện thời Đức Phật còn tại thế, có tôn giả Thất Lai xuất gia vào chùa tu rồi lại hoàn tục để cưới vợ, trước sau tổng cộng đến 7 lần mà cuối cùng vẫn chứng quả A La Hán. Bà mẹ càng giận lắm: “tôi nói phần thầy thì có thể hoàn tục 7 lần, chuyện đó tôi không lo. Nhưng tôi lo là lo con gái tôi sẽ bị đọa địa ngục 7 lần…”.
Khá khen cho lòng quyết tâm của cô con gái. Mấy ngày sau, cô tìm đến một ngôi chùa gần đấy, đem việc rủ rê của mình ra hỏi vị sư trụ trì. Vị sư trụ trì hướng dẫn cô gái, rằng nếu quả có nghiệp vợ chồng, thì vị kia nên xả giới Tỳ kheo, hoàn tục làm cư sĩ tu ngũ giới tại gia rồi cưới vợ thì Đức Phật cũng không ngăn cản. Đức Phật chỉ quở trách những Tỳ kheo chưa xả giới hoàn tục mà lén lút làm chuyện dâm thì mới bị đọa vào ngục Vô Gián. Về phần “rủ rê” của cô gái, vị sư trụ trì dẫn kinh Lăng Nghiêm, nói việc con gái Ma Đăng Già quyến rũ tôn giả A Nan, mà cuối cùng vẫn đắc quả A La Hán trước cả tôn giả A Nan. Cô gái vớ được lời sư như vớ được của báu, bèn về nhà làm dữ, quyết liệt đòi mẹ cho kết hôn với ông thầy.
Đến lượt bà mẹ đích thân đến gặp vị sư trụ trì kia, yêu cầu giải đáp tại sao lại hướng dẫn “bậy bạ” cho con gái mình. Không ngờ vị sự trụ trì lại an nhiên trả lời: “tôi thấy trong kinh có trường hợp tương tự như vậy, thì tôi cũng theo kinh mà giải thích…”. Bà mẹ càng tức giận: “tôi không đọc và cũng không tin những chuyện ấy…”. Vị sư hỏi vậy bà không tin chuyện tôn giả Thất Lai hay sao? chẳng hay hàng ngày bà thường tụng những kinh gì? Bà mẹ trả lời rằng xưa nay, mỗi ngày vợ chồng bà chỉ tụng kinh Pháp Hoa, và chỉ tin vào kinh Pháp Hoa mà thôi. Trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật đâu có dạy tỳ kheo hoàn tục để cưới vợ? Và bà càng bất ngờ hơn khi vị sư trụ trì mỉm cười bảo: “Ồ, nếu bà chuyên tụng kinh Pháp Hoa và tin kinh Pháp Hoa, thì hãy về đọc kĩ lại từ đầu tới cuối, sẽ thấy trong quyển kinh ấy có trường hợp tương tự như trường hợp của con gái bà”.
Tôi, người đang viết những dòng này nghe tới đây cũng cảm thấy kinh ngạc, bởi tôi cũng từng nhiều lần đọc kinh Pháp Hoa. Suốt hai mươi tám phẩm của bộ kinh ấy, tuyệt không có lấy một chữ nào ngụ ý đến một trường hợp tương tự. Vậy mà vị sư trụ trì kia lại khẳng định, lại tự tin đến thản nhiên như thế? Tất nhiên bà mẹ kia cũng giống như tôi. Chán nản vì không thể tìm ra lời dạy của Đức Phật nói về chuyện ấy trong bộ kinh, vợ chồng vị nữ cư sĩ bèn viết thư, gọi điện hỏi hầu hết các các vị Đại đức, Thượng tọa, Hòa thượng…  trong khắp nước Mĩ, kết quả cũng không thầy nào tìm ra để chỉ cho bà.
Chính thầy Thông Lai lúc ấy cũng không là ngoại lệ. Một người đã thọ giới tỳ kheo ngót bốn chục năm trời, đã từng giảng bao nhiêu bộ kinh (trong đó có cả kinh Pháp Hoa), thì kinh Pháp Hoa đối với thầy kể như đã thuộc lòng. Vậy mà thầy vẫn phải lật lại toàn bộ bộ kinh để dò từng câu, từng chữ rồi suy nghĩ đến mất ngủ…
Điều cần tìm lặn sâu tận đâu đó trong quyển kinh? Câu nói của vị sư trụ trì kia: “hãy về đọc kĩ lại từ đầu tới cuối…”. Phải có điều gì ẩn trong câu nói đó chứ không phải tự nhiên mà vị ấy nói ra… Thầy Thông Lai lại mở kinh ra. Câu đầu tiên: “Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, quyển thứ nhất, đời Diêu Tần, Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập phụng chiếu dịch…”. Phải chăng có chuyện gì đó ẩn mình trong 8 chữ: “Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập”? – thầy Thông Lai suy nghĩ.
Quả có chuyện thật, và đây, câu chuyện về Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập:
Hoàng đế nước Phù Tần là Phù Kiên (337-385 SCN) rất tôn sùng đạo Phật, nghe lời tâu của quan Khâm thiên giám rằng: “Bệ hạ muốn có người tài giỏi, tinh thông cả tam tạng kinh điển, mà lại thông thạo cả tiếng Hán để dịch kinh Phật từ tiếng Phạn, thì phải mời cho được một vị Tam Tạng Pháp Sư là ngài Cưu Ma La Thập về đây để giúp Bệ hạ phiên dịch kinh điển.”
Thế là “nhân duyên” để kinh Phật truyền sang Trung Quốc đã bắt đầu phát lộ từ lời tâu của vị quan trên. Song Tam Tạng kinh điển đâu phải chuyện đùa, và cái “nhân duyên” ấy đâu chỉ đơn giản nằm trong một chữ “mời” mà xong. Pháp sư Cưu Ma La Thập lúc ấy đang là một vị thuộc hàng Quốc bảo của quốc vương nước Quy Tư (tức Apganistan ngày nay). Nước Quy Tư nằm giữa Trung Quốc và Ấn Độ nên cư dân ở đó hầu hết biết cả tiếng Phạn và tiếng Hán. Pháp sư Cưu Ma La Thập chính là con trai của vị công chúa độc nhất của Quốc vương nước Quy Tư. Biết rằng không dễ gì mà Quốc vương Quy Tư lại để cho đứa cháu ngoại nối dõi của mình sang hoằng pháp tại Phù Tần, Hoàng đế Phù Kiên bèn cử Đại tướng là Lữ Quang đem mấy trăm vạn binh mã sang đánh nước Quy Tư nhằm cướp cho được Ngài Cưu Ma La Thập đem về làm Quốc sư.
Mặc dù Ngài Cưu Ma La Thập khuyên Quốc vương Quy Tư nên để cho mình sang Phù Tần, giúp Phù Tần phiên dịch kinh điển vài năm để tránh cho dân chúng khỏi nạn binh đao. Song Quốc Vương Quy Tư không nghe, vẫn đem quân chống lại. Kết quả sau 6 tháng giao chiến, Quốc vương Quy Tư thua trận bị giết, Lữ Quang bắt được Ngài Cưu Ma La Thập đem về Phù Tần.
Trên đường trở về, một hôm, Lữ Quang đóng quân tại một thung lũng để nghỉ qua đêm, Pháp Sư Cưu Ma La Thập nhập thiền định và biết đêm đó sẽ có động đất và mưa lớn ngay tại vị trí đóng quân. Ngài khuyên Lữ Quang nên rời khỏi chỗ đó nếu không sẽ gặp tai họa. Lữ Quang không tin và cứ đóng quân ở lại. Quả nhiên đêm ấy trời mưa lớn kèm theo động đất, nước dâng lên kèm theo đá từ trên núi lăn xuống làm chết tới phân nửa quân sĩ. Bấy giờ Lữ Quang mới tin rằng Ngàu Cưu Ma La Thập có tài biết trước cả thiên cơ.
Một nửa quân số còn lại của Lữ Quang tiếp tục trở về kinh đô nước Phù Tần. Giữa đường bỗng nghe tin trong nước có biến loạn, hoàng đế Phù Kiên bị Đại tướng của mình là Diêu Trường (331-394) giết chết và cướp ngôi, đổi thành nước Diêu Tần. Cả vợ con Lữ Quang cũng bị Diêu Trường tàn sát. Lữ Quang vì thế không thể trở về, bèn đóng quân lại ở vùng biên cương rồi chiếm lấy một vùng, lập ra một nước nhỏ làm căn cứ.
Ngài Cưu Ma La Thập ở trong quân của Lữ Quang, nghĩa là Tam Tạng kinh điển đang trên đường truyền sang phương Bắc. Những việc kinh động ấy của Trời, Đất, của nước Phù Trần kia đều nằm trong những “nhân duyên” ghê gớm của một cuộc thiên di vĩ đại. Kể cả việc Ngài cùng với quân sĩ của Lữ Quang rồi sẽ phải nằm lại thêm mười năm ròng rã ở chốn biên cương này mới hội đủ “duyên” cho những pho kinh điển bất hủ của cả Trời, Đất, quỷ thần kia chính thức chuyển sang thành Hán ngữ.
Lữ Quang vô cùng oán hận, chỉ vì một Cưu Ma La Thập mà cả vua mình lẫn vợ con mình đều bị giết. Xưa nay làm tướng cầm quân xông pha trận mạc, chỉ một là cướp đất, tranh thành, hai là cướp châu báu, gái đẹp. Có đâu lại đi cướp một ông… thầy chùa để đến nỗi nước mất, nhà tan. Lữ Quang những muốn đem Ngài Cưu Ma La Thập ra chém quách cho hả giận, nhưng nhớ lại trận động đất, mưa gió kinh hoàng khi trước mà Ngài đã báo trước, cộng với uy tín, tiếng tăm của Ngài đã đồn ra khắp thiên hạ làm Lữ Quang e ngại chưa dám ra tay.
Bấy giờ, những quân sư của Lữ Quang cũng căm việc ấy lắm, bèn bày kế dùng gái đẹp để dụ cho Ngài phạm giới để có cớ đem giết đi. Lữ Quang lập tức cho người đi khắp nơi, tuyển lấy một nghìn gái đẹp, đưa vào hầu hạ Ngài suốt cả ngày đêm đồng thời cử người theo dõi. Suốt mười năm liền như thế, Ngài Cưu Ma La Thập vẫn vững lòng một mực giữ giới, không hề lay động mảy may. Từ chỗ oán hận, dần dần Lữ Quang đã đổi thành sự kính phục đối với Ngài. Và, âm mưu thử thách đó, những kẻ phàm tục đời mạt pháp làm sao có thể hiểu được, rằng nó cũng nằm trong cái “nhân duyên” kì diệu của công cuộc truyền tống kinh điển của Ngài sau này.
Mười năm sống cùng những mĩ nữ ở khắp các vùng thuộc đất Trung Quốc đã khiến cho Ngài Cưu Ma La Thập trở nên tinh thông tiếng Hán hơn bao giờ hết. Bấy giờ mới hội đủ “duyên” cho Tam Tạng Kinh điển bắt đầu có thêm một ngôn ngữ mới: tiếng Hán. Năm 395, Diêu Trường chết, con là Diêu Hưng (396-416) lên nối ngôi. Diêu Hưng là một ông vua sùng Nho học, đề cao Phật Giáo, đã sai sứ đến gặp Lữ Quang thương thuyết, xóa bỏ hận thù và đón Ngài Cưu Ma La Thập về kinh phong làm Tam Tạng Quốc Sư, bắt đầu công cuộc phiên dịch kinh Phật. Bấy giờ là vào năm 401 SCN.
Thế là trải qua bao sự kiện kinh thiên động địa kể từ khi “nhân duyên” phát lộ, cuộc thiên di vĩ đại của Tam Tạng kinh điển đã tới cái nơi cần tới, đúng như sự tiên tri của bậc Toàn Giác ngót một nghìn năm về trước. Vua Diêu Tần huy động một lực lượng khổng lồ gồm 800 vị Tỳ kheo, 1200 vị Tú tài, 500 vị Bảng nhãn và 10 vị Tiến sĩ để hỗ trợ Ngài Cưu Ma La Thập dịch kinh. Trong lúc dịch, tất cả những vị này đều phải ngậm nhang. Suốt thời gian dịch phải trường chay giữ giới để giữ trọn ba nghiệp tuyệt đối thanh tịnh…
Không cần phải liệt kê ra đây những bộ kinh mà Ngài Cưu Ma La Thập đã phiên dịch trong công cuộc này. Chỉ biết rằng văn chương tuyệt hảo và chất lượng của những bản dịch ấy xứng đáng là mẫu mực cho môn dịch thuật khắp muôn đời về sau. Đến nỗi trước khi viên tịch, Pháp Sư Cưu Ma La Thập có lời nguyện rằng, nếu ông đã phiên dịch những bộ kinh ấy đúng với ý Phật, thì khi hỏa thiêu, lưỡi ông sẽ còn nguyên. Ngược lại, toàn thân ông cùng cái lưỡi sẽ cháy hết ra tro. Kết quả sau khi thiêu, ông đã để lại cho đời sau chiếc lưỡi đã biến thành xá lỵ, còn nguyên vẹn và bền vững như kim cương không gì phá hủy nổi.
Quay trở lại câu chuyện “trần tục” đời nay trên kia giữa ông thầy Tỳ kheo muốn xả giới và cô con gái vị nữ cư sĩ nọ. Cả một cuộc thiên di vĩ đại của Tam Tạng kinh điển ẩn phía sau 8 chữ: “Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập” ở đầu quyển kinh như đã nói, quả  có một chi tiết liên quan đến sự “hoàn tục” của một vị Tỳ kheo. Đó là chuyện Đại tướng Lữ Quang dùng 1000 mĩ nữ để “dụ” cho Ngài Cưu Ma La Thập phá giới nhưng bất thành. Song, câu chuyện đó chỉ có chút “liên quan”, quyết không phải là “một trường hợp tương tự” như hoàn cảnh của ông thầy và cô con gái, mà vị sư trụ trì ở ngôi chùa nọ muốn ngụ ý nhắm tới. Vậy phải chăng còn “vỉa quặng” nào nữa nằm sâu phía sau 8 chữ đó vẫn chưa được “đào” tới?
Và câu chuyện, thì ra còn phải lần tới… đời cha của Ngài Cưu Ma La Thập.
Cha Cưu Ma La Thập là Cưu Ma La Viên, vốn là một vị tể tướng của một nước thuộc Ấn Độ. Ngài vì ham muốn đạo Giác ngộ, Giải thoát nên đã từ chức tể tương để xuất gia tu hành. Trên đường hoằng pháp, Ngài đi qua kinh đô nước Quy Tư vào đúng thời gian Công chúa độc nhất của nước Quy Tư đang gieo cầu kén chọn Phò mã. Công chúa nước Quy Tư  lúc đó là người vốn cũng rất hâm mộ đạo Phật nên ăn chay từ thuở bé, tới năm 16 tuổi, Công chúa đòi xuất gia tu hành. Quốc vương nước Quy Tư vì chỉ sinh được mình Công chúa nên ra sức khuyên răn Công chúa lấy chồng để có người nối dõi ngôi vua. Khuyên bảo mãi, cuối cùng, Công chúa cũng đồng ý với điều kiện vua cha phải để cho Nàng được tự do kén chồng. Thế là đài gieo cầu được dựng lên giữa kinh đô nước Quy Tư.
Công chúa nước Quy Tư không phải người thường, mà có biệt nhãn, có thể xem được tướng mạo của mọi người trong khắp thế gian. Vì thế đài dựng lên đã được 3 năm mà vẫn không kén được ai ưng ý. Bất ngờ hôm ấy thấy một vị Tỳ kheo đang đi ngang qua, Công chúa nhìn tướng, biết vị này tu hành tuy khó thành chính quả, song có quý tướng sinh ra con Thánh, bèn rung chuông báo hiệu, sai người mời vị Tỳ kheo kia về.
Vị Tỳ kheo ấy chính là Ngài Cưu Ma La Viên. Thế là “màn” dụ dỗ, ép buộc xả giới để hoàn tục diễn ra. Công chúa nói thẳng với Ngài Cưu Ma La Viên rằng Ngài dẫu có tu đến cho hết đời cũng không thể trở thành chính quả. Song nếu kết hôn với Nàng, thì Ngài và Nàng có thể sinh một đứa con Thánh, sau này chính đứa con ấy mới có khả năng “độ” cho Ngài chóng được Giác ngộ, Giải thoát. Thế là một bên là cái chết, một bên là làm Phò mã và sẽ sinh con Thánh, rốt cuộc Ngài Cưu Ma La Viên đã đồng ý xả giới, từ bỏ kiếp tu hành để kết hôn với Công chúa, làm Phò mã nước Quy Tư.
Đến đây thì quả đã có việc “tương tự” với trường hợp ở đời vị lai này như đã nói ở trên. Vị sư trụ trì ở ngôi chùa nọ quả là một nhà tu hành có trí tuệ thâm sâu. Ngài Cưu Ma La Viên kết hôn cùng Công chúa nước Quy Tư, sau sinh ra Ngài Cưu Ma La Thập. Chú bé Cưu Ma La Thập cũng ham thích đạo Phật và ăn chay từ nhỏ. Năm lên 6 tuổi, Ngài được truyền tam quy ngũ giới và chính thức xuất gia tu hành. Ngay lúc đó, cả cha mẹ Ngài là Ngài Cưu Ma La Viên và Công chúa cũng đồng thời cạo đầu xuất gia. Cả ba người về sau đều thành chính quả.
Thế là rốt cuộc, phải “đào” sâu tít mãi phía bên trong của 8 chữ nằm ngay đầu quyển kinh Pháp Hoa ấy, mới tìm thấy quả có một câu chuyện tương tự, lại có được một cái “kết” vô cùng có hậu, đó là vô lượng công đức mà Ngài Cưu Ma La Thập đã, đang, và sẽ dành cho vô lượng kiếp của lớp lớp những chúng sinh sau này. Mới hay khi đọc những bộ kinh như kinh Pháp Hoa, thì không thể bỏ qua bất cứ một chữ nào, kể cả những ghi chú ở ngay đầu quyển kinh.
Không biết khi nghe được đến đây, thì bà mẹ cư sĩ kia có bị thuyết phục hay không? Và câu chuyện của ông thầy và cô con gái kia sẽ kết thúc thế nào? Thầy Thông Lai có một cách lý giải rất hay. Rằng tuy trong quyển kinh Pháp Hoa quả có chuyện tương tự, song về bản chất, câu chuyện thời quá khứ ấy vẫn khác một trời một vực với câu chuyện trần tục kia ở đời vị lai này. Tât cả đều xuất phát từ thâm ý của Đức Phật trước khi Ngài nhập Niết Bàn, rằng Tam Tạng Kinh điển cùng với sự hoằng dương rực rỡ của Đạo Phật, rồi sẽ được truyền sang phương Bắc. Để mà tận chín trăm năm sau, mới có thể xuất hiện những “nhân duyên” cho công cuộc thiên di vĩ đại, không tiền khoáng hậu đó. Vậy thì câu chuyện xả giới hoàn tục của Ngài Cưu Ma La Viên, sự xuất hiện của vị Công chúa ở cõi trần này, phải chăng không là ngẫu nhiên, mà chính là những “huyền cơ”, những “nhân duyên” không thể nghĩ bàn… tất cả nhằm cho ra đời một vị như Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập? Và cả ba vị, phải chăng là những vị Bồ Tát, La Hán thị hiện xuống cuộc đời ngũ trược này để thực hiện công cuộc thiên di Tam Tạng kinh điển vĩ đại đó?
Tháng 2 năm Giáp Ngọ.
tqs post ngay 19/3/2014

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét