Những chiều xuân xưa, tìm đâu cho thấy ?
Tác giả: Đào Dục Tú
KD: Thỉ tìm trong hồi ức mỗi người, và tìm trong Tạp cảm của tác giả Đào Dục Tú- sẽ thấy thôi
Tôi có một người anh họ bên ngoại vốn là cựu học sinh “hai cấp liền” trường đầu bảng Chu Văn An của thủ đô; năm nay đã vượt cột mốc nhân sinh ” cổ lai hi”. Trước đây nhà bác tôi ở trong làng Yên Phụ, men theo bờ dậu dâm bụt quấn dây cúc tần vàng óng, xuôi mấy chục bước chân xuống bến có cái cầu nho nhỏ như cầu ao làng, là thấy sen, thấy bèo, thấy. . .mênh mênh mang mang mặt nước hồ Tây.

Sau, vào thời bao cấp lên tới đỉnh điểm đói ăn rách mặc, anh em tứ tán, ông kéo bầu đàn thê tử liều mạng vào “hòn ngọc viễn đông”, những mong đổi đời, làm lại cuộc đời. Mỗi lần đi công tác phía Nam ghé thăm ông anh, tôi thường được/ bị nghe than thở quanh đi quẩn lại vẫn cái ý rằng sống ở đây ồn ào tốc độ chóng mặt, rằng người trôi theo dòng đời như dề lục bình trôi sông, chẳng có gì đáng để nhớ cả .
Có bữa rượu vào lời ra, ông văn vẻ cao giọng nghe hơi bị. . .cải lương: “Chú ơi tôi sống không ký ức. Ký ức của tôi chấm hết trang cuối ở làng Yên Phụ rồi còn đâu! “Có lần ông tâm sự: ở cái xứ không nắng dầu nắng dãi chói chang từ lúc mở mắt thì lại là những cơn mưa bất chợt xối xả như hắt nước vào mặt, nên chú có biết tôi thèm, tôi ước ao khao khát cái gì không ? Đơn giản lắm. Gió bấc với mưa phùn. Gió lạnh, mưa bụi bay .Chấm hết !”
Đã lâu không “áo gấm về làng trong phố” vì ” chả còn ai ruột thịt ngoài ấy nữa”, ông anh tôi giầu có đi Mỹ thăm con thăm cháu như đi chợ đâu biết rằng, đất Bắc ngày xưa tháng giêng là tháng ăn chơi vắt sang tháng hai “trồng đậu trồng cà” làm mầu nhàn nhã, nay khí hậu đỏng đảnh thất thường nên đã không ít năm gần như mất trắng cảnh gió bấc với mưa phùn đẹp như mơ đẹp như thơ, mặc dù quê ta thời ấy quá nghèo, nghèo rơt mồng tơi luôn.
Ăn cơm mới nói chuyện cũ, nhớ tới cái nghèo thời đó, thời sổ gạo tem phiếu thực phẩm, trẻ con phiếu nhân dân (lại nhân dân!) ghi chữ N, mỗi tháng một lạng đường, nửa lít xì dầu. . .nhiều lúc giật cả mình. Trời thương nên mới bình an vô sự, cả nhà qua đạn bom chiến tranh và thiếu khó kinh khủng khiếp! Nhà tôi nuôi ba đứa con đang tuổi ăn tuổi lớn “chủ lực” bằng sổ gạo mậu dịch cộng với vài tạ khoai tây (trồng trên ruộng khoán 5 %) để gậm giường, khoai bi- bằng hòn bi, nuôi bạn lớn (nói lái), khoai to như quả trứng gà trở lên nuôi người!

Bữa nào đong gạo nấu cơm, đụng bàn tay thấy lon sữa bò lọc cọc dưới đáy thùng tôn là . . .thở hắt ra.. Hai vợ chồng ,ba đứa con,một mẹ già ,sáu khẩu ăn, nhà hết gạo gần như nỗi lo thường trực . Thời buổi người làm ra hạt thóc củ khoai mà ngày giáp hạt bà con trong họ ngoài làng nhiều nhà cũng rơi vào cảnh ” chạy ăn từng bữa toát mồ hôi” như cụ Tú thành Nam đời nảo đời nào ca thán, huống chi nhà cán bộ ăn gạo sổ hầu như ai cũng thiếu.
Gia đình tôi cũng như hầu hết mọi nhà thời đó, “thức ăn không có chất đạm” thừa mứa như bây giờ nên lấy gạo- nói cách khác, cơm tẻ làm chủ soái. Mỗi bữa đong chừng. . . năm bơ sữa bò gạo mậu dịch để kho lâu hết chất, được cái no nước nở tung, nồi cơm đầy có ngọn, thằng con mười bốn tuổi bê lặc lè. Gạo không ngon nhà đông con.. . ăn khỏe bữa nào cũng cạo sạch cả cháy.
Hết gạo biết vác rá vay ai. Ngày lo ăn đêm lo ngủ bởi chuột chạy trên xà nhà như giặc; nhiều khi bực quá phải lấy gậy chọc chọc mái ngói cũng chẳng ăn thua, chỉ được một chốc một lát, vừa nhắm mắt thiu thiu mơ mơ màng màng thì chuột lại phá bĩnh. Thời nghèo thiếu, túng bấn, chuột cũng không kiềng không nể mặt người !.
Thế nhưng đổi lại, môi trường sống làng quê thời đó còn nhiều phần trong trẻo lắm. Những chiều xuân xưa ông anh họ tôi nhớ từ Sài Gòn, vẫn còn “nguyên bản” lắm. Trời xám mầu thiếc cũ, mưa xuân bay phơi phới trên cánh đồng lúa chiêm đang thì con gái xanh mướt mát, mưa phủ bụi áo em gánh nước giếng đung đưa đường làng lát gạch nghiêng đỏ sậm mầu thời gian. . . Thi vị như “thơ Anh Thơ” bức tranh quê thời. . .tiền chiến !
Thời ấy, tuổi “tứ thập nhi bất hoặc” ( mọi sự đời,sự người chỉ biết qua thông tin một kênh, còn có gì để “hoặc”) ánh mắt thế hệ chúng tôi vẫn nhiều phần hồn hậu trong trẻo lắm. Chiều chiều,hết tám giờ vàng ngọc ở các cơ quan báo nói (Đài phát thanh) báo viết (báo hình chưa có), xuất bản , ngồi đối ẩm hoặc tam tứ ẩm trong các quán rượu thuốc(rượu mầu như nước củ nâu nhuộm vải) trên đường Nguyễn Du hoa sữa, có anh muộn vợ vẫn còn tơ tưởng đến những mối tình giăng gió giăng mưa thơ Nguyễn Bính ” Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay- Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy. . .”
Tiếc thay, chỉ chưa đầy một phần tư thế kỷ sau, do quản lý đất đai không bừa bãi thì lỏng lẻo, do tốc độ đô thị hóa “vô tri vô sách” vô quy hoạch và ” công nghiệp hóa nông thôn “(thực chất là sức người cộng một phần sức điện làm tiểu thủ công) vô kế hoạch, thậm chí nhiều nơi còn vô chính phủ nữa, nên làng tôi cũng như nhiều làng quê vùng châu thổ sông Hồng biến dạng ghê gớm quá !
Không ai không thấy quê mình giầu có hơn xưa. Cũng tự nhiên thôi, nước nổi thuyền nổi, các nước láng giềng xung quanh người ta còn tiến triển như ngựa phi nước đại , chả lẽ ở thời hội nhập toàn diện này một phần tư thế kỷ dân mình “đổ mồ hôi sôi nước mắt” mà đời sống kinh tế, mức sống người dân, lại không “nâng cao một bước” hay sao ?.
Nhưng ta chỉ khác người,ví như khác Nhật Bản chẳng hạn (là nghe nói thế) người ta siêu hiện đại giầu kinh tế ,mạnh khoa học công nghệ song vẫn giữ được môi sinh tử tế, văn hóa đàng hoàng. Nói chơi, thì người ta cũng phải qua ba bước tiền, trung, rồi hậu tư bản chứ bỗng dưng đi thẳng tới hâu công nghiệp hay sao ? Loáng thoáng thấy cảnh quan chùa chiền, khu nghỉ dưỡng ,khu du lịch sinh thái xứ người, nhát là dịp lễ hôi cổ truyền Nhật Bản hiện hình trên màn ảnh nhỏ vô tuyến truyền hình nhà nước, thấy mừng cho người ta và chạnh buồn cho mình quá
Những người hoài cổ, hiếu cổ của tôi ơi ! Những chiều xuân xưa in đậm ký ức văn chương người Việt ” Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay- Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy” (Nguyễn Bính), “Mưa đổ bụi êm đềm trên bến vắng- Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi” (Anh Thơ), , . đẹp cô liêu quạnh quẽ, những chiều xuân quê nguyên bản Việt đại loại như thế muốn giữ lại đâu đó như một sinh cảnh du lịch văn hóa làng cổ Việt, còn có ở đâu không vùng châu thổ sông Hồng?

Có lẽ những hình ảnh nên thơ nên nhạc “Gửi gió cho mây ngàn bay”(ca từ Đoàn Chuẩn) chỉ còn trong tâm cảm người đời đang đi tới hay đã được trời cho vượt qua cái ngưỡng nhân sinh thất thập, bát thập. Những chiều xuân nay mưa không đổ bụi trên dãy ao xuân xanh mướt rau cần, xanh ngắt tre trúc, mưa như có như không mơ hồ chẳng đậu trên má người thôn nữ phớt hồng mầu đào phai quý phái trong tiết xuân se lạnh.
Mưa xuân có. . . nhớ mùa thì về bay chao chát theo làn gió bấc trên nóc những ngôi nhà tầng xám ngắt nhâp nhô, trên nhiều vùng quê môi sinh bị đủ thứ ngoại lực ,nhân lực xâm hại thành trơ lì, vô cảm, lạnh lùng. Đâu phải chỉ có quê tôi :trên trời không chim,dưới nước không cá, mặt đất thiếu vắng cảnh quan tối thiểu nhất là “dặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì” (Du Tử Lê).
Vùng quê ấy, tiếc nhớ quá, mới ngày nào còn mát mắt một mầu lục diệp của “trên đồng cạn dưới đồng sâu”,của vườn tược cây cối và nhịp sống trữ tình thư thái an bình đầy thơ mộng của những người dân quê thuần hậu trong bốn lũy tre xanh thân thuộc ngàn đời của xứ Kinh Bắc xưa . Đã đành không ai hồ đồ nghĩ kéo lui đà tiến hóa, nhưng sao trong lòng nhiều lúc chỉ muốn kêu lên lời thành ngữ thời a- còng :”Bao giờ cho đến ngày xưa !” / .
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét