(Nhà Xuất bản Văn Học. Hà Nội.
2013)
TS PHẠM TRỌNG CHÁNH
Có gì vui hơn, khi những thành quả nghiên cứu văn học
của mình được bè bạn Hội Kiều Học trong nước hưởng ứng viết thành tiểu thuyết.
Nhận được sách anh Hoàng Khôi, Nguyễn Du trên đường gió bụi với lời đề tặng:
«Thân tặng anh Phạm Trọng Chánh. Cám ơn anh vì những bài viết của anh đã gợi ý
nhiều và tạo cảm hứng cho tôi hoàn thiện cuốn sách này». Người viết vội vàng
viết bài về quyển sách anh gửi tặng, giúp anh «nhặt sạn » những sơ sót trong lúc
say sưa viết. Tiếc là không được đọc bản thảo lúc sách chưa ra đời để công trình
anh được hoàn hảo hơn, thôi thì góp ý kiến để lần tái bản anh xem xét lại. Bài
viết cũng trả lời các thắc mắc nhiều bạn khi thấy dàn bài sách anh Hoàng Khôi
trùng hợp với tên tựa các bài tôi đã viết đăng trên nhiều site trong nước và hải
ngoại, gửi Email hỏi tôi, mong rằng bài viết này giải toả các nghi ngờ về sách
anh Hoàng Khôi.
Người nghiên cứu văn học sau bao năm tìm kiếm
giải quyết những thắc mắc của các học giảđi trước : Tại sao Nguyễn Du có những
bài thơ làm ở Trường An, Hàng Châu không nằm trên đường đi sứ năm 1813 ? Tại sao
trong Thanh Hiên thi tập có các địa danh : Liễu Cao Lâm, Trường An, Giang Hán,
Giang Bắc, Giang Nam, Nam Đài, Long Thủy, những địa danh ấy ởđâu ?Những người đi
trước không nghĩ tới chỉ dịch phớt qua hay bỏ quên ! Nhân vật Nguyễn Đại Lang
trong Thanh Hiên thi tập là ai ? Nguyễn Du trong thơ tiễn biệt có nói đã cùng
kết nghĩa sinh tử, cùng tồn vong, chia tay tại đâu mà hẹn gặp lại tại Trung
Châu ? Trung Châu là Hà Nội hay ở Trung Quốc. Nguyễn Du từ năm 1783 làm Chánh
Thủ Hiệu Quân Hùng Hậu hiệu tại Thái Nguyên. Sách sử các tài liệu rãi rác :
Nguyễn Khản làm Thượng Thư Bộ Lại kiêm trấn thủ Thái Nguyên, Hưng Hóa, Hoàng Lê
Nhất Thống Chí có nói đến Cai Gia, tay giặc già, thuộc hạ của Nguyễn Khản nắm
binh quyền tại Thái Nguyên. Lê Quý Kỷ Sự của Nguyễn Thu có nói đến cuộc khởi
nghĩa tại Tư Nông của cựu Trấn Thủ Thái Nguyên Nguyễn Đăng Tiến, tước Quản Vũ
Hầu, bị tướng Tây Sơn bắt giải về cho Vũ Văn Nhậm, Nhậm trọng khí khái dụ hàng,
lại tha bổng cho phép muốn đi đâu thìđi. Gom lại các tài liệu, tôi tìm được một
nhân vật, vừa là thầy, là anh kết nghĩa Nguyễn Du và cũng là Từ Hải, mở cách cửa
Nguyễn Duđã vào bước đường đi giang hồ khắp Trung Quốc thời thanh niên..
Những chi tiết rành rành trong
Thanh Hiên thi tập có những bài tả cảnh tuyết, núi non trùng điệp, lá vàng,
trưởng giảăn mặc còn theo nhà Hán (không theo nhà Thanh để tóc bính đuôi sam, áo
quần Mãn Châu), dân chúng theo lịch nhà Tần, xử dụng nhạc cụ« tù và » ? Nguyễn
Du có hư cấu, ở Quỳnh Hải, Hồng Lĩnh theo sách vở mà tưởng tượng làm thơ, hay
thơ chữ Hán Nguyễn Du là những trang nhật ký ?
Tại sao Nguyễn Du có những câu
thơ kỳ lạ : Tôi đọc kinh Kim Cương nghìn lượt ?. Muôn dậm mũ vàng chiều nắng
xế ? Giang Bắc, Giang Nam cái túi không ? Nguyễn Du làm gì màđọc kinh Kim Cương
trong ba năm, đội mũ vàng nhà sưđi muôn dậm (khoảng 5000km), làm gì không tiền
màđi hết các sông phía bắc đến sông phía nam Dương Tử Giang ? Nguyễn Du ởđâu mà
cách Trường An ngàn dậm về phía Nam ?
Theo Nguyễn Hành, cháu Nguyễn Du, có viết ông có
một cuộc đời giang hồ như cuộc đời làm quan : Giang hồ long miếu hai điều đủ,
Thi họa cầm thư bốn nghệ tinh.
Theo gia phả từ năm 1786 đến 1796
Nguyễn Du về quê vợ tại Quỳnh Hải, Thái Bình hợp cùng Đoàn Nguyễn Tuấn khởi
nghĩa chống Tây Sơn. Nhưng điều này không đúng vì từ năm 1788 Đoàn Nguyễn Tuấn
ra làm quan Tây Sơn vàđi sứ trong đoàn 158 người năm 1790. Đoàn Nguyễn Tuấn có
hai bài thơ viết tặng một văn nhân họ Nguyễn, gặp tại Hoàng Châu, Trung Quốc
vào mùa thu bàn luận về văn chương sôi nổi chuyện gì ?, Đoàn Nguyễn Tuấn phải
lên Nhiệt Hà nơi vua Càn Long đang nghỉ mát ? Văn nhân họNguyễn đi xe song mã về
Nam và hẹn gặp lại tại nước nhà vào mùa xuân. Trên đường đi cớ gì màĐoàn lại
viết một bài thơ Vô Đề về Hồng nhan đa truân khi gặp một ca nhi hát cho sứđoàn
tại bến sông Hán?.
Mang những thắc mắc bao nhiêu
năm, năm 2009, tôi đi Trung Quốc qua những thành phố Nguyễn Du đi sứ và các địa
danh trong thơ, tôi nghiên cứu, tham khảo sách vở từng con sông, từng hồ, từng
thắng cảnh Nguyễn Du đãđi qua, tôi dịch lại toàn bộ thơ chữ Hán Nguyễn Du, do
không nghĩ đến Nguyễn Du có một thời gian đi giang hồ tại Trung Quốc thời trẻ,
những địa danh bị người đi trước không hiểu nên bỏ qua hay dịch sai vàtôi hoàn
thành quyển Nguyễn Du mười năm gió bụi và mối tình Hồ Xuân Hương. Khuê Văn Paris
Xb 2011. Và gần đây tôi viết thành nhiều bài nhỏđểphổ biến trên các báo điện
tử.
Nghiên cứu không phải là chuyện
độc quyền của riêng ai, không phải chuyện người sau đánh đổ người trước để được
nổi danh hơn mà người đi sau nối tiếp người trước , làm giải quyết những nghi
vấn còn tồn động, làm cho việc nghiên cứu ngày càng phát triển, sáng tỏ. Điều
may mắn trong nghiên cứu về Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương tôi có dịp gặp gỡ bàn bạc
với Giáo sư Hoàng Xuân Hãn và Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn.
Những thắc mắc về Nguyễn Du tôi
đã từng bàn với Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, từ những năm 1980 thuở còn thanh niên
trong những lần tôi về nghỉ hè hàng tháng trời tại dã thự Cam Tuyền, tại
Trouville bờ biển Normandie, Giáo sư khuyến khích, chỉ dẫn tôi những điều giáo
sư nghi ngờ và chưa tìm ra câu giải đáp. Tôi mang nặng những lời hướng dẫn của
giáo sư suốt mấy mươi năm, nên đọc lại, dịch lại từng câu từng chữ thơ chữ Hán,
chữ Nôm Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du. Ở Paris mà nghiên cứu Văn Học Việt Nam quả
thật là chuyện gàn, vì ban ngày nói tiếng Pháp, làm ăn sinh sống bằng tiếng
Pháp, mà ban đêm cứ thao thức ngồi viết bằng tiếng Việt, dịch thơ tiếng Việt chữ
Hán, chữ Nôm. Được tiếp xúc với kho tàng văn hóa Hán Nôm lưu trử tại Trường Viễn
Đông Bác Cổ Paris, di sản cha ông mình nhiều quá, mà người nghiên cứu lác đác
như lá mùa thu, vì việc làm chẳng ai trả lương, chỉ để tiêu khiển. Ngày xưa, tôi
tò mò hỏi giáo sư Hoàng Xuân Hãn : Vì sao Bác tốt nghiệp trường Bách Khoa Paris,
tốt nghiệp Kỹ sư Hầm Mỏ, Thạc Sĩ Toán mà lại dành cả đời đi nghiên cứu văn
chương Việt Nam ? Bác trả lời : « Việc ấy các anh em trẻ có nhiều sẽ làm giỏi
hơn bác, nhưng kho tàng văn học Việt Nam nếu không ai làm, di sản tổ tiên sẽ mất
đi rất nhiều ». Rồi từ lúc, ngồi trên ghế trường Bách Khoa Paris, Giáo sư Hoàng
Xuân Hãn đã viết tựđiển danh từ Khoa Học bằng tiếng Việt, đặt nền tảng cho việc
giảng dạy tiếng Việt, chỉ một năm làm Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục và Mỹ Thuật, giáo
sưđã đặt nền tảng cho Chương Trình giảng dạy bằng tiếng Việt còn tồn tại cho đến
ngày nay. Trong tiếng súng chiến tranh Pháp Việt, giáo sư Dương Quảng Hàm lao
vào cứu thư viện của mình và bị chết cháy. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn vẫn tiếp tục
đi mua hàng gánh sách vở các đại gia bị con cháu đem bán làm giấy bổi, rồi mang
nó ra xa nơi chiến tranh ngồi tiếp tục nghiên cứu, chẳng màng đến danh lợi.Bác
Hãn viết sách cả đời, công sức nhưcả một Viện Văn Học nhưng không hề hưởng được
một đồng nào do sách vở mang lại. Với địa vị, bằng cấp tại Pháp, Bác Hãn có thể
trở nên giàu có, nhưng Bác biết dừng lại khi đã có đầy đủ và dành thì giờ nghiên
cứu di sản tổ tiên.
Tôi vốn nặng nợ với nghiệp văn chương, thuở học
trung học đã làm thơ viết báo, nhiều khi tự nhủ lòng : Trang Tích xưa khi bệnh
mới rên bằng tiếng Việt, chứ tôi đi du học từ năm 19 tuổi, mà cứ rên bằng tiếng
Việt suốt hơn 43 năm. Thôi thì như Tú Xương : Một chè, một rượu, một đàn bà..
mình thì chẳng rượu chè, cờ bạc chỉ mê có cô Hồ Xuân Hương và cô Kiều..
Công trình Nguyễn Du, mười năm
gió bụi và mối tình Hồ Xuân Hương sau khi hoàn thành từ Paris năm 2011, tôi gửi
sang Moscou tặng Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn trong những ngày cuối đời, giáo sư cho
biết bị phong thấp tê liệt cả nửa người, chỉ còn một tay gỏ chữ, bao ngày tháng
trông đợi, thường xuyên viết Email hỏi thăm khuyến khích, không có quyển Hoàng
Lê Nhất Thống Chí tại Moscou, Giáo sư nhờ môn sinh từ trong nước gửi qua, cầm
quyển sách trong tay, giáo sưđánh Email hỏi gấp : Cai Gia ở trang mấy, anh nói
gấp cho tôi biết, giáo sư rất vui khi đọc được những khám phá mới của tôi về
Nguyễn Du, nhất là về Cai Gia Nguyễn Đại Lang sẽ mở ra cánh cửa về cuộc đời
giang hồ của Nguyễn Du và Giáo sưvui vẻ nói rằng khám phá này rằng « sẽ làm mưa
làm gió »… không ngờđây là quyển sách cuối cùng Giáo sưđọc trước khi nhắm mắt
lìa đời.
Được Giáo Sư Nguyễn Văn Hoàn, vốn
đã quen biết từng sang chơi Paris hơn 30 năm, nay là Chủ Tịch Hội Kiều Học, mời
tham gia Hội Kiều Học vừa mới thành lập, nay được anh Vũ Ngọc Khôi, một hội viên
Kiều Học viết chuyện Mười năm gió bụi của Nguyễn Du thành tiểu thuyết còn gì vui
hơn. Hy vọng có một đạo diễn tài ba, một nhà sản xuất phim, một nhà viết kịch
bản phim..sẽ có cảm hứng làm phim truyện nhiều tập về Nguyễn Du – Hồ Xuân Hương
chắc chắn sẽ ăn đứt các bộ phim Trung Quốc – Hàn Quốc, sẽ phục hưng văn hóa Việt
đánh bạt được các ảnh hưởng văn hóa tình cảm lẩm cẩm, giúp cho giới trẻ Việt Nam
biết lịch sử Việt Nam nhiều hơn là sử Trung Quốc, Hàn Quốc. Hàn Quốc đã làm
được bộ phim Xuân Hương, một truyện thơ hàng đầu của Triều Tiên, còn Việt Nam
chờ đến bao giờ ?
Mơ ước nhiều, nhưng trước tiên đề
nghị với anh Hoàng Khôi, xây dựng lại quyển tiếu thuyết hoàn hảo hơn, và mắc
các sự kiện trên chiếc đinh lịch sử vững chắc.
Trước tiên, đểđóng những chiếc
đinh sự kiện vào lịch sử, cần tóm lược các sai lầm năm tháng trong Thanh Hiên
thi tập, và mười năm gió bụi. Thời gian các tài liệu cũ dựa theo gia phả cho
rằng Nguyễn Du theo vua Lê Chiêu Thống không kịp vềẩn lánh quê vợở Quỳnh Hải,
hợp cùng Đoàn Nguyễn Tuấn chống Tây Sơn 1786-1796 và từ 1796-1802 là thời kỳ
dưới chân núi Hồng, Vợ chết năm 1796, Nguyễn Du cõng con Nguyễn Tứ về Hà Tĩnh,
làm Hồng Sơn Liệp Hộ. Năm 1802 Nguyễn Du đón đường vua Gia Long tại Hà Tĩnh dâng
sớ và được đưa ra Bắc phong làm Tri huyện Phù Dung trấn Sơn Nam.
Cách chia này không đúng vì có các mâu thuẩn :
Ngược lạiĐoàn Nguyễn Tuấn ra làm quan Tây Sơn. Bài thơ Quỳnh Hải Nguyên tiêu :
Nguyễn Du hạnh phúc bên vợ : Nguyên dạ không đình nguyệt mãn thiên, Trăng
sáng đầu xuân tỏa ngập tràn., và mình đã trải qua chân trời góc biển đến 30
tuổi. Các tài liệu cũ không biết vợ Nguyễn Du tên gì, không biết năm sinh, làm
sao biết năm mất ? Tại Hồng Lĩnh, Nguyễn Du bị tù, Trấn thủ Nguyễn Văn Thận giữ
vững Hà Tĩnh cho đến năm 1802, Nguyễn Du không thể chiêu tập thủ hạ và không
thểcó lương thực, bò, ngựa để dâng vua Gia Long. Ngườiđã làm quan được mời ra
(cùng Nguyễn Thiếp) năm 1802 và đi theo vua Gia Long từ Phú Xuân ra Bắc là
Nguyễn Nể chứ không phải Nguyễn Du. Bài thơ Chí Hiên tặng của Nguyễn Du lưu
trong Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương , có hai câu : Ra Bắc phen này mong nổi
việc, Vào Nam ngẩm trước cũng hoài công . Chứng tỏ Nguyễn Du không tìm được
ai ủng hộ mình tại Hà Tỉnh (Tụđầu nan đắc thường thanh mục – Họp bạn khó tìm
người mắt biếc) Hà Tĩnh trải qua cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quýnh, làng Tiên
Điền bị làm cỏ, không ai còn muốn phiêu lưu chống Tây Sơn,(Tiếu đề tuẫn tục
can qua tế – Khóc cười thời loạn theo trần thế. Tạp thi II). Nguyễn Du không
thểở lại dạy học vì người bạn thân là Thực Đình dạy học cũng không sống nổi,
cái tên Thực Đình tự cười mình, nói lên số phận chỉăn no khi cóđám tiệc ởđình
làng. Nguyễn Du thất bại, bị tù tại Hà Tĩnh, mới ra trở lại Thăng Long, thì Hồ
Xuân Hương đãđi lấy chồng thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm. Nguyễn Du về Quỳnh
Hải cưới vợĐoàn Nguyễn Thị Huệ, do hai ông anh Nguyễn Nể – Đoàn Nguyễn Tuấn thu
xếp năm ấy Nguyễn Du 30 tuổi. Tại Quỳnh Hải Nguyễn Du dạy học văn võ, chiêu tập
thủ hạ, hoàn tất Truyện Kiều, làm ăn khấm khá mới có bò ngựa lương thực dâng vua
Gia Long. Từ Quỳnh Hải, Nguyễn Du dẫn thủ hạđi không xa đến Phù Dung cùng trấn
Sơn Nam, thì gặp vua Gia Long, vua phong ngay làm Tri huyện tại đây cho nên có
danh hiệu là Phi Tử. Nguyễn Nể cũng được vua Gia Long để lại Bắc Hà giúp Tổng
Trấn Nguyễn Văn Thành các nghi lễ cho sứđoàn do Binh Bộ Thượng thư Lê Quang Định
làm Chánh sứ xin nhà Thanh phong vương và đổi quốc hiệu là Nam Việt, nhưng
không giữ chức vụ gì. Nguyễn Nể không bị Đặng Trần Thường đem ra Văn Miếu đánh
đòn như Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích, Nguyễn An Lịch.. nhưng năm 1805 về Hà Tỉnh
thì bị tri phủ Trần Văn Chiêu tuy bức, ông uất ức mà chết. Nguyễn Du vợ mất năm
1804 để lại một con Nguyễn Tứ.
NIÊN BIỂU NGUYỄN DU
1766. Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu,
tính ra dương lịch là ngày 3-1-1766, mới đúng. (Các tài liệu cũ đều lầm lẫn khi
viết Nguyễn Du sinh năm 1765).
1771 Cha là Nguyễn Nghiễm xin về hưu trí sĩ, được
gia thăng chức Đại Tư Đồ. Chúa Trịnh cấp cho xe bồ, ngựa tứ và thuyền hãi mãđưa
về làng. Nguyễn Du theo cha về. Nguyễn Nghiễm lại được gọi ra làm quan Tham
Tụng.
1774. Nguyễn Nghiễm được sung chức Tả Tướng cùng
Hoàng Ngũ Phúc đánh Chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
1776 Nguyễn Nghiễm bị nhiễm bệnh dịch cùng hàng
ngàn quân sĩ, đưa về quê dưỡng bệnh và mất tại Hà Tĩnh 7 tháng 11 Ất Mùi
(7-1-1976). Được truy tặng tước Huân dụ Đô hiến đại vương, Thượng đẳng phúc
thần.
1778 Bà Trần thị Tần (1740-1778) mẹ Nguyễn Du qua
đời ngày 20-7-1978.
1780 Trong vụ án Canh Tý. Anh cả Nguyễn Khản
(1734-1786) thầy dạy Trịnh Tông bị khép tội mưu loạn cùng Trịnh Tông, được tha
chết nhưng bãi chứcx, giam ở nhà Châu Quận công. Nguyễn Du về Tiên Điền học với
chú Nguyễn Trọng.
1782.Chúa Trịnh Sâm mất, Trịnh Tông nối ngôi
Chúa, cử Nguyễn Khản làm Thượng Thư bộ Lại, tước Toản Quận công.
1783 Nguyễn Du thi Hương ở trường Sơn Nam, Nam
Định đậu tam trường. Nguyễn Khản thăng Thiếu Bảo, cuối năm thăng Tham Tụng kiêm
trấn thủ Hưng Hóa, Thái Nguyên. Cử Nguyễn Du làm Chánh Thủ Hiệu quân Hùng Hậu
Hiệu cai quản đội quân tinh nhuệ nhất Thái Nguyên. Cai Gia Nguyễn Đăng Tiến tước
Quản Vũ Hầu vốn là tay giặc già, phản Thanh phục Minh Trung Quốc, gốc người Việt
Đông, là tân khách (thủ hạ) dưới trướng, thầy dạy võ cho Nguyễn Du và các anh em
được giao quyền Trấn thủ Thái Nguyên, nơi có nhiều người Trung Quốc sang khai mõ
bạc. Nguyễn Nể(1761-1805) đỗ tứtrường trường thi Hương Phụng Thiên, Hà Nội,
Nguyễn Khản phong làm Cai quản đội quân Phấn Nhất trong phủ Chúa.
1784 Nhân vụ 7 kiêu binh bị nhà chúa giết vì bữa
tiệc vua Lê đãi kiêu binh có công phò Hoàng Tự Tôn Lê Duy Kỳ từ trong tù ra,
kiêu binh nổi loạn đốt phá dinh thự Bích Câu. Nguyễn Khản chạy trốn lên Sơn Tây
vớiem Nguyễn Điều (1745-1786), trấn thủ Sơn Tây, Nguyễn Nể phụ tá làm Hiệp tán
Nhung vụ,họtoan hợp quân các trấn về đánh kiêu binh, nhưng kiêu binh giữ chặt
chúa Trịnh Tông, âm mưu bất thành. Kiêu binh áp lực bãi chức Nguyễn Khản vàgiáng
chức Nguyễn Điều, hai người về Hà Tĩnh. Nguyễn Điều về huyện Thanh Chương lập
nhà ở đấy, khi nghe nhà Trịnh mất ông uất ức mà chết năm 1786.
1786 Tây Sơn ra Bắc, Nguyễn Khản từ Hà Tỉnh
theo ghe mành ra Bắc giúp chúa Trịnh chủ trương đóng quân theo lối vẩy sộp(theo
Lê Quý Kỷ sự) , nhưng kiêu binh vu cáo ông rước giặc Tây Sơn về. Nguyễn Khản
phải bỏ chạy, ông mất trong hoàn cảnh đó, thi hài được đưa về an táng tại Hà
Tĩnh.
1787 Nguyễn Du, Nguyễn Quýnh cùng Cai Gia Nguyễn
Đăng Tiến, quyền trấn thủ Thái Nguyên khởi nghĩa tại Tư Nông thất bại, bị bắt và
cùng được Vũ Văn Nhậm tha chết, họ đi sang Vân Nam. Nguyễn Quýnh quay trở về Hồng
Lĩnh khởi nghĩa bị bắt và bị giết năm 1791 tròn 30 tuổi, dinh thự và làng Tiên
Điền bị đốt sạch.
1787-. Đến Vân Nam, Nguyễn Du bị bệnh ba tháng
mùa xuân. Hết bệnh họđi Liễu Châu và chia tay, Nguyễn Đại Lang về thăm quê nhà
vùng Quế Lâm, cao sơn lưu thủy. Nguyễn Du đi giang hồ ba năm ở Trung Quốc trong
áo mũ nhà sư mang danh Chí Hiên, từ Quảng Tây theo thuyền đi dọc sông và Hồ Động
Đình đến Hán Khẩu, rồi theo sông Hán rồi lên Trường An viết bài Dương Quý Phi,
Bùi Tấn Công mộ, Phân Kinh thạch đài, rồi lại theo kinh Đại Vận Hà đến Hàng Châu
.
1790 Tại Hàng Châu Nguyễn Du cư ngụ tại chùa Hổ
Pháo bên Tây Hồ, nơi Từ Hải tức Minh Sơn Hoà thượng từng tu hành, trước khi đi
giang hồ thành cướp biển. Tại đây Nguyễn Du có được bản Kim Vân Kiều truyện của
Thanh Tâm Tài Nhân. Gặp lại Nguyễn Đại Lang tại miếu Nhạc Phi cũng bên cạnh Tây
Hồ,( nơi đây Nguyễn Du viết 5 bài thơ, một bài Nhạc Phi hai bài Tần Cối và hai
bài Vương Thị), sau đó hai người đi Yên Kinh (gặp vua Lê Chiêu Thống), trở về
Hoàng Châu thì gặp Đoàn Nguyễn Tuấn sứ đoàn Tây Sơn tại một lữ quán, gặp bạn văn
chương, Nguyễn Du bàn chuyện sôi nổi về Hồng nhan đa truân. Đoàn Nguyễn Tuấn
viết hai bài thơ tặng văn nhân họ Nguyễn. Nguyễn Du về Long Châu và trở về Thăng
Long.
1790-1793. Nguyễn Du về ở với anh Nguyễn Nể, đang
làm quan Tây Sơn tại Bắc Thành giữ chức Hàn Lâm thị thư, sung chức Phó sứ tuế
công, năm 1791 đi sứ về, đã xây dựng lại một phần dinh thự Bích Câu, tại đây
Nguyễn Du nghe cô Cầm, người nhạc nữ cũ cung vua Lê đánh đàn. Nhưng Nguyễn Du
thường ở gác tía, nơi câu cá anh Nguyễn Khản cạnh đền Khán Xuân, tại đây Nguyễn
Du quen biết Xuân Hương Hồ Phi Mai, mối tình ba năm.
1794. Nguyễn Nể được triệu về Phú Xuân thăng chức
Đông Các Đại Học Sĩ, gia tăng Thái Sử Tả Nghị Lang, chức vụ thầy dạy vua Cảnh
Thịnh. Nguyễn Nể giao phó cho hai em Nguyễn Du và Nguyễn Ức tiền bạc để về Tiên
Điền xây dựng lại từ đường và làng Tiên Điền. Về Phú Xuân, quyền hành nhà Tây
Sơn trong tay Thái sư Bùi Đắc Tuyên, cậu vua Cảnh Thịnh, Thái sưđày Quân sư Trần
Văn Kỷ ra Hoàng Giang làm lính thú. 1795 Nguyễn Nể xin ra Quy Nhơn vừa mới lấy
được từ vua Trung Ương Nguyễn Nhạc, trấn đóng để tránh xa xung đột triều đình,
cuối năm được cử làm Chánh Sứ (Hành Khánh Sứ) lễ bộ mừng lễ truyền ngôi vua Càn
Long cho vua Gia Khánh.
1794-1796. Nguyễn Du về Tiên Điền, bị bệnh ba
tháng cuối năm. Ở nhà cạnh Giang Đình bến sông để tiếp nhận mua gỗđá, vật liệu
chỡ bằng thuyền. Nguyễn Ức vẽ kiểu và chỉ huy thợ xây cất. Nguyễn Du trao đổi
thơ với Hồ Xuân Hương. Nguyễn Du đi săn làm Hồng Sơn liệp hộ. Nguyễn Du có vào
Phú Xuân thăm anh và nhận một món tiền khác.
1796. Công việc xây dựng tạm xong. Nguyễn Du làm
Nam Hải Điếu đồ, người đi câu biển Nam Hải toan theo thuyền về Nam. Lúc này chúa
Nguyễn Ánh đãđánh chiếm đến thành Diên Khánh (Nha Trang). Nguyễn Du bị quận
công Nguyễn VănThận trấn thủ Hà Tĩnh bắt giam mười tuần. Nguyễn Du trở ra Thăng
Long thì hay tin Hồ Xuân Hương đãđi lấy chồng thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm.
Nguyễn Du viết hai bài thơ ký tên Chí Hiên oán trách nàng tệ bạc. Hồ Xuân Hương
vẫn trân trọng chép trong Lưu Hương Ký. Nguyễn Du sang nhàĐoàn Nguyễn Tuấn, anh
Nguyễn Nể cũng vừa đi sứ về được thăng chức Hữu Trung Thư, chức vụ quân sư cho
vua Cảnh Thịnh, trước biến loạn triều đình Nguyễn Nể xin ra xây dựng Phượng
Hoàng Trung Đôở Nghệ An thay Trần Quang Diệu.
1797-1801 Nguyễn Nể cùng Đoàn Nguyễn Tuấn tác
thành hôn nhân cho Nguyễn Du cùng Đoàn Nguyễn Thị Huệ và giao cho gia trang ở
Quỳnh Hải. Từ đây Nguyễn Du có vợ con sống hạnh phúc chấm dứt cuộc đời gió bụi.
Nguyễn Du hoàn tất Truyện Kiều, dạy văn, dạy võ chiêu tập thủ hạ tại Quỳnh
Hải.
1801 Nguyễn Nểđược lệnh vua Cảnh Thịnh đưa La Sơn
Phu Tử Nguyễn Thiếp vào chầu, còn ở Phú Xuân thì kinh đô thất thủ. Nguyễn Nể và
La Sơn Phu Tử được vua Gia Long gọi ra. Nguyễn Nể dâng sớ được trọng dụng khen
thưởng và cho theo xe vua ra Bắc chỉ dẫn nghi lễ cho sứđoàn ngoại giao Lê Quang
Định, Trịnh Hoài Đức đi sứ. Nguyễn Thiếp được cho về quê quán.
1802. Vua Gia Long ra Bắc truy lùng vua Tây Sơn
Cảnh Thịnh. Nguyễn Du dẫn học trò, tráng đinh mang lương thực, bò, ngựa từ Quỳnh
Hải đón đường đi gặp Vua Gia Long, đến huyện Phù Dung thì gặp vua, vua phong
ngay làm tri huyện Phù Dung. Việc này tương tự với Phi Tử đời Chiến Quốc dâng
ngựa cho vua Chu Hiếu Vương được chức Phụ Dung, nên Nguyễn Du có danh hiệu là
Phi Tử, Nguyễn Hành bài Đi Săn có nhắc đến danh hiệu này.
1803. Làm Tri huyện được mấy tháng nhờ tài nói
lưu loát ngôn ngữ Trung Quốc trong thời gian đi giang hồ và tài năng ứng đối thi
ca. Nguyễn Du được thăng Tri phủ Thường Tín lên Lạng Sơn đặc trách tiếp sứ sang
phong vương cho vua Gia Long cùng Tri phủ Thượng Hồng Trần Quý Chuyên.Tri phủ
Thiên Trường Ngô Nguyên Viễn, Tri phủ Tiên Hưng Trần Lưu. Thơ tống tiễn do
Nguyễn Du viết.
1804. Xong việc ngoại giao tiếp sứ, Nguyễn Du trở
về Thường Tín, vợ mất để lại một con Nguyễn Tứ. Nguyễn Du cáo bệnh xin nghĩ một
tháng về quê. Nguyễn Du tìm về Cổ Nguyệt Đường mong nối lại duyên xưa thì Hồ
Xuân Hương đang làm lẽ Cai Tổng Cóc Nguyễn Công Hòa ở Vĩnh Yên, nàng đau ốm tâm
sự như nàng Tiểu Thanh. Bên song cửa Nguyễn Du viết bài Độc Tiểu Thanh Ký gửi Hồ
Xuân Hương và tự hỏi : Ba trăm năm lẽ nữa ai khóc người phẩm hạnh cao quý như
nàng Tiểu Thanh. Đó là lý do bài Độc Tiểu Thanh Ký nằm cuối Thanh Hiên thi tập.,
và hai chữ tố như chỉ có nghĩa là người phẩm hạnh cao quý như thế (như nàng Tiểu
Thanh).
1805 Nguyễn Du được thăng Đông Các học sĩ, hàm
ngũ phẩm, tước Du Đức hầu vào nhậm chức ở kinh đô Phú Xuân.Chức vụ dâng sách cho
vua Gia Long đọc mỗi ngày. Nguyễn Nể về quê bị Tri phủ Trần Văn Chiêu truy bức
ông uất ức mà chết.
1807 Làm giám khảo trường thi Hương, Hải
Dương.
1808 Mùa thu, xin về quê nghỉ.
1809 Đầu năm được bổ làm Quan Cai Bạ (Trấn thủ)
doanh Quảng Bình, một trong bốn doanh đất kinh kỳ, hàm tứ phẩm.
1812 Cuối năm Nguyễn Du xin về quê xây mộ cho anh
Nguyễn Nể, được hai tháng thì có chiếu chỉ triệu vào kinh.
1813 Thăng Cần Chánh điện học sĩ và được cử làm
Chánh sứ sang Trung Quốc. viết Bắc Hành tạp lục.
1815 Thăng Hữu Tham tri Bộ Lễ hàm Tam phẩm.
1816 Kết thúc vụán Nguyễn Văn Thuyên. Trung Quân
thống lĩnh toàn quân đội Nguyễn Văn Thành tự tử. Anh rễ Nguyễn Du, Tiến sĩ Vũ
Trinh thầy dạy Nguyễn Thuyên bị giam hậu và đày đi Quảng Nam 12 năm. Vụán Binh bộ
Thượng ThưĐặng Trần Thường, vụán Trần Phúc Hiển chồng Hồ Xuân Hương.
1818. Trần Phúc Hiển bị xử tử, Hiệp trấn Sơn Nam
Thượng Trần Ngọc Quán, thi tướng Tao Đàn Cổ Nguyệt Đường chết, có lẽ tự tử.
1819 Được cử làm Đề Điệu Trường Thi Quảng Nam,
Nguyễn Du dâng biểu cố từ được vua chuẩn y.
1820. Gia Long mất, Minh Mệnh lên ngôi cử Nguyễn
Du làm Chánh sứ đi báo tang và xin thụ phong; Chưa kịp đi thì bị bệnh dịch mất
ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn tức ngày 16-9-1820. Ngô Thời Vị làm Chánh sứ thay
thế. Thi hài Nguyễn Du được an táng đồng Bầu Đá, xã An Ninh, huyện Quảng Điền
Thừa Thiên. Năm 1924 con là Nguyễn Ngũ cải táng đưa về làng Tiên Điền.
ĐÍNH CHÁNH NHỮNG
SƠ SÓT
Đọc sách anh Hoàng Khôi, tôi xin
nhặt ra những sơ sót, và bổ túc thêm những chi tiết, mong rằng anh sẽ chữa lại ,
mài dũa thêm viên ngọc quý để trở thành một tác phẩm hoàn hảo tuyệt tác, nếu có
thì giờ viết thành kịch bản truyện phim cũng nên.
Trang 14, Trấn Sơn Nam thời Lê,
đến đời Gia Long được chia làm Sơn Nam Thượng đặt trị sở tại Châu Cầu. Sơn Nam
Hạ đặt trị sở tại Nam Định. Sang năm 1831 đời Minh Mạng chia Sơn Nam Thượng
gồm hai tỉnh Hà Nội và tỉnh Hưng Yên. Sơn Nam Hạ chia làm hai tỉnh Nam Định và
Thái Bình.
Đời Gia Long, Bắc Thành có 11 trấn : gồm 5 nội
trấn là Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương, Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ. 6 ngoại trấn
là : Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hưng Hóa, Yên Quảng. Ngoài ra
có hai đạo Thanh Bình (Ninh Bình) và Hoà Bình và phủ Hoài Đức gồm Thăng Long và
vùng phụ cận. Do đó Ninh Bình và Thăng Long đời Gia Long về trước, không thuộc
về Sơn Nam.
Trang 18. Bà Đặng Thị Thuyết
(không phải Tuyết) sinh mẫu Nguyễn Điều, em bà chánh thất Đặng thị Dương. Bà
Nguyễn Thị Xuân quê Bắc Ninh, sinh mẫu NguyễnTrứ, Nguyễn Nghi thay vì bà Hồ Thị
Ngạn ( là sinh mẫu Nguyễn Nhưng, thay vì Nguyễn Nhung).
Mẹ Nguyễn Du là Trần Thị Tần, con
người thuộc hạ làm chức Câu kế lo việc kế toán, quản gia cho cụ Nguyễn Nghiễm,
quê làng Hoa Thiều họ này có hai người đỗ Tiến Sĩ, bà Tần là vợ thứ ba có con
đông nhất (Nguyễn Trụ, Nguyễn Nể, Nguyễn Thị Diên, Nguyễn Du, Nguyễn Ức) . Do đó
tôi nghĩ mẹ Nguyễn Du là người có thế lực trong gia đình, chứ không phải là mối
tình qua đường, số phận người hầu, con mọn như anh Hoàng Khôi viết ? Theo phong
tục ngày xưa bà chánh thất thường do cha mẹ hỏi cưới để làm dâu phụng thờ cha
mẹ, cai quản gia trang nguyên quán, bà thứ hai do bà cả cưới cho chồng, thường
là em hay họ hàng của mình để « làm bạn » cho mình. Bà ba là người được chồng
lựa chọn, theo chồng đi khắp các nơi trấn nhậm và được chồng yêu thương nhất, có
nhiều quyền hành nhất và có con đông nhất. Cụ Nguyễn Nghiễm có tám bà vợ và 21
người con. Thường các gia đình quan lớn ngày xưa, bà chánh thất giữ sổ sách kế
toán và tiền bạc cho một gia trang khoảng 50 người, vừa các bà, con cái người
hầu, người bảo vệ, tân khách, thầy dạy văn, dạy võ…. Trong trường hợp bà cả quê
mùa không biết tính toán mới có người làm câu kế.
Trang 30. Nguyễn Du không thể về
Hải An, Quỳnh Hải học với cha vợ là Đoàn Nguyễn Thục năm 1782, năm Nguyễn Du 16
tuổi vì ông Đoàn Nguyễn Thục sinh năm 1718 và mất năm 1775. Thời gian 1780-1782
Nguyễn Khản bị phải vụ án Trịnh Tông, nên bị giam lỏng, chúa nghĩ tình bạn cũ tha
không giết, do đó Nguyễn Khản không thể cưới vợ cho em, người trụ cột trong gia
đình như thế, thì còn vui gì mà lấy vợ. Nguyễn Du về Hồng Lĩnh học với chú là
Nguyễn Trọng. Trong bài thơ Tặng Thực Đình năm 1794 có câu :La Thành nhất
biệt thập niên thâm. Một biệt La Thành đã chục năm. Nguyễn Du có bạn ở thành
Nghệ An trước năm 1783, sau đó Nguyễn Du ra thi Hương trường Sơn Nam, Nam Định,
đỗ Tam Trường.(đỗ trường thi, phú, chiếu-biểu và hỏng kỳ tứ trường thi văn
sách).Năm 1783 Nguyễn Du không thể vừa trấn đóng Thái Nguyên, vừa ở quê vợ Quỳnh
Hải ?
Trang 98 bài biệt Nguyễn Đại
Lang : hai câu : Tống quân quy cố khâu, Ngã diệc phù Giang Hán.(Tiễn anh về
quê cũ, Tôi sang sông Hán đây) Nguyễn Du tiễn Nguyễn Đại Lang về quê cũ vùng
Quế Lâm nơi cao sơn lưu thủy, vùng Việt Đông nơi quê hương người Choáng,(Tráng)
người Việt cổ thời Việt Vương Câu Tiễn và Triệu Đà, ngày nay còn 15 triệu người
vẫn còn giữ tiếng nói. Và cho biết mình sẽ sang sông Hán đểđi Trường An. Giáo sư
Nguyễn Huệ Chi dịch thành : Tiễn anh về núi cũ, tôi cũng trẩy sang sông,
bỏ sót mất địa danh Giang Hán.
Hai câu : Sinh tử giao tình
tại, Tồn vong thổ tiết đồng cho biết Nguyễn Du có kết nghĩa sinh tử với
Nguyễn Đại Lang, cùng khởi nghĩa bị bắt và được tha.
Trang 109, 114,115 hai bài Sơn
Thôn và Sơn Cư Mạn Hứng tả cảnh Vân Nam :nơi non sâu lớp lớp, Trưởng giả còn
ăn mặc theo nhà Hán, ở trong núi (lịch theo Tây Tạng) không theo lịch nhà
Tần. Phạm Tú Châu dịch áo mũ người già, và lịch năm trong túi không đúng.
Ông Quách Tấn dịch câu : Nam khứ Trường An thiên lý dư (Phía Nam ngàn
dậm cách Trường An), thành Ngoảnh lại trời Nam khuất Đế thành không
đúng. Vìông không nghĩ Vân Nam cách Trường An ngàn dậm. Nếu Trường An là Thăng
Long hay Phú Xuân thì Nguyễn Du không thểở cách hơn ngàn dậm phía Nam. Bài Thu
Chí câu : Tuyết ám cùng thôn hiểu giác ai (Tuyết xuống làng xa não tiếng
tù)ông Phạm Khắc Khoan, Lê Thước dịch : Cõi sớm làng xa tuyết phủ
đầy, thiếu tiếng tù nghe ai oán, não ruột và tù và là một nhạc khí thường dùng
ở Vân Nam. Cảnh tuyết này không thểở vùng Quảng Tây được.
Trang 105, 106 bài Thôn dạ Nguyễn
Du viết ở Hồng Lĩnh câu :Niên niên kết đắc ngư tiều lữ – Ngư tiều là bạn
quanh năm đó, Nguyễn Du đang đi giang hồ không thể kết bạn với ngư tiều
quanh năm, bài Giang đầu tản bộ viết ở Quảng Bình : câu Bất tài đa khủng tốc
quan phi- Bất tài quan vẫn sợ đơn sai, không hợp với thời đi giang hồ, chưa
làm quan.
Trang 111, 112 bài Pháo Đài :
Nam Bắc xa thư khánh đại đồng – Nam Bắc mừng nay cuộc đại đồng, thống
nhất Nam Bắc sau Trịnh, Nguyễn phân tranh, trong Nam Trung Tạp ngâm, Nguyễn Du
làm lúc làm quan Cai Bạ(Trấn Thủ) ở doanh Quảng Bình, chép vào cảnh lúc Nguyễn
Du đi giang hồ ở Trung Quốc không đúng.
Trang 116 bài , Thu dạ II Nguyễn
Du trả lời họa bài Thu Vũ của Hồ Xuân Hương, Xuân Hương khóc khi nghe tin Nguyễn
Du bị bệnh ba tháng cuối năm ở Hồng Lĩnh. (Xem Phạm Trọng Chánh. Đi tìm Cổ
Nguyệt Đường và mối tình Nguyễn Du - Hồ Xuân Hương site Vanhoanghean).
Trang 123 Nguyễn Du đọc Kinh Kim
Cương nghìn lượt (Bài Phân Kinh Thạch đài), vì thời bấy giờ, Lê QuýĐôn có viết
quyển Kinh Kim Cương chú giải, được trí thức Bắc Hà yêu chuộng, được nhà chùa
Thăng Long khắc bản in. Lê QuýĐôn nhà bác học, là một thần tượng thời bấy giờ,
khi mất được chúa Trịnh để tang bãi chầu ba ngày, việc hiếm có. Nguyễn Du tất có
bên mình quyển Kinh của Lê Quý Đôn chú giải. Trên bước đường giang hồ đi Trung
Quốc, Nguyễn Du đọc kinh kim cương, nghìn lượt, tức là ba năm, ngày đi du lịch
tối về một ngôi chùa trên đường đi tụng kinh làm công quả, nhà chùa thết đãi món
chay rau đậu. Đây là một chi tiết khá thú vị.
Trang 163, năm 1790, Nguyễn Du
đọc Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ở Hàng Châu, lúc đó Nguyễn Du mới
24 tuổi, chưa đến tuổi « tam thập nhi lập ».
Trang 170, Nguyễn Nể có hai lần
đi sứ. Lần thứ nhất năm 1789 sứ bộ đầu tiên của Tây Sơn, Vũ Huy Tấn Chánh sứ,
Nguyễn Nể làm Phó sứ. Vũ Huy Tấn đi sứ lần thứ nhất trở về, lại ở trong sứđoàn
đi sứ lần thứ hai năm 1790. Theo học giả Thái Văn Kiểm, Nguyễn Nểđi sứ đến năm
1791 mới về,( trong bài Nguyễn Du đi sứ, Việt Nam Gấm Hoa, Làng Văn Canada xb
1797 tr 101). Khi sứ thần nhà Thanh sang Thăng Long phong vương cùng năm, có cả
Nguyễn Nể vàĐoàn Nguyễn Tuấn tiếp rước, Đoàn giới thiệu với các sứ thần nhà
Thanh : Quế Hiên Nguyễn Nể là đỉnh cao thi trận nước Nam. Lần thứ hai năm
1795 làm Chánh Sứ (Hành Khánh sứ) sang mừng lễ vua Càn Long truyền ngôi cho con
là Gia Khánh. Có thểNguyễn Nể có trong sứ bộ năm 1790 do Phan Huy Ích làm Chánh
sứ, cóĐoàn Nguyễn Tuấn, đoàn có 158 người, cóông vua Quang Trung giả do Phạm
Công Trịđóng vai và hoàng tử Quang Thùy. Như thế Nguyễn Nể đi sứ ba lần
chăng ?
Nguyễn Công (con Nguyễn Khản) và
Nguyễn Thiện (con Nguyễn Điều) có tham gia Sùng Chính Viện của Nguyễn Thiếp.
Nguyễn Nhưng, đậu Tứ Trường đời Lê, đời Tây Sơn có ra làm Trấn Thủ Sơn Tây thay
thế Nguyễn Công Tấn thân phụ Nguyễn Công Trứ năm 1801. Nhà Nguyễn lên ông ởẩn
làm nghề thuốc.
Trang 171 Hai bài thơ Đoàn Nguyễn
Tuấn tựa : Chí Hoàng Châu thích Nguyễn khế văn tự Yên Kinh hồi tẩu bút tặng
chi. Đến Hoàng Châu thì vừa vặn gặp người bạn văn chương họ Nguyễn từ Yên Kinh
trở về bèn phóng bút làm thơ tặng. Bài tựa chứng tỏ Nguyễn Du đã lên Yên
Kinh và trở về. Sự kiện vua Lê Chiêu Thống và các quan lại đi theo muốn nhà
Thanh làm áp lực để xin đất Thái Nguyên, Tuyên Quang mà không xin đất Cao Bằng
như nhà Mạc, chứng tỏđã gặp cựu trấn thủ Thái Nguyên Nguyễn Đăng Tiến.
Trang 178, Bài Lưu Biệt Nguyễn
Đại Lang, đặt Nguyễn Du chia tay cùng Nguyễn Đại Lang tại Hoàng Châu không đúng
vì có địa danh Liễu Cao Lâm. Liễu Châu ở vùng rừng cao nguyên, nơi sản xuất gỗ
nam mộc đóng hòm rất tốt, giữ thi thể rất lâu (Trung Quốc có câu : sống ở
Hàng Châu, cưới vợ Tô Châu, ăn ở Quảng Châu và chết ở Liễu Châu) Từ Vân Nam
vùng núi, về đến Liễu Châu vùng cao nguyên, đến Quế Lâm là đồng bằng. Trong thơ
Nguyễn Du, Tây phong thường ám chỉ quân Tây Sơn : Vì quân Tây Sơn ra Bắc cho
nên chúng ta lưu lạc nơi chốn rừng cao nguyên Liễu Châu, Tây phong qui tụ
Liễu rừng cao. Ông Trương Chính trong Thơ Chữ Hán Nguyễn Du. Nxb Văn Học
1965, vì không nghĩ đó là địa danh, nên cho rằng câu thơ không đúng cú pháp, ông
chữa thành :Tây phong tiêu táp phất cao lâm, Gió Tây thổi qua ống tay áo
phơ phất cành liễu. Ông Đào Duy Anh giữ nguyên nhưng dịch thành Rừng liễu ra
về buổi gió Tây. Chữ ra về ngược lại với nghĩa chữ qui tụ.
Trang 181, Đoàn Nguyễn Thục mất
năm 1775, 57 tuổi, năm 1790 Đoàn Nguyễn Thị Huệ 16 tuổi, mồ cô cha lúc một tuổi,
có thể con thứ thiếp, được anh cả Đoàn Nguyễn Tuấn nuôi dưỡng và kết hôn cùng
Nguyễn Du năm 1796, 21 tuổi.
Trang 214, cụ Đồ Diễn đã mất năm
1786, thọ 83 tuổi. Do đó năm 1790-1793 ba năm mối tình Hồ Xuân Hương – Nguyễn Du
cụ Đồ Diễn không còn nữa. Hồ Xuân Hương nếu sinh năm 1772 lúc đó đã 18-21 tuổi
với tài hay chữ có thể đã dạy trẻ họ vỡ lòng. Văn bản Landes, Lê Quý chép thường
tả Hồ Xuân Hương đi đâu cũng có 5, 7 đứa hầu gái, có lẽ là học trò. Làng Nghi
Tàm sau khi cụ Đồ Diễn có Tử Minh tức Cả Tân học trò cụ Đồ Diễn dạy học, Tử Minh
mất 40 tuổi năm 1811, Hồ Xuân Hương sau mười năm phong trần : Thập tải phong
trần quán nhỉ linh, mười năm phong trần như ăn trộm bị tai đi trộm chuông
(lấy lẽ Cai Tổng Cóc, trở về mở hiệu sách, rồi đi buôn, vì tình bất an vùng Sơn
Nam Thượng, Sơn Nam Hạ do loạn Đặng Trần Siêu, VõĐình Lục thường chặn đường cướp
bóc các thương nhân, nàng thôi đi buôn). Làng Nghi Tàm mời Xuân Hương thay Tử
Minh dạy học. Học trò các lớp thi Hương sang học với ông nghè Phạm Quý Thích.
Nguyễn Thị Hinh tức Bà Huyện Thanh Quang, sinh sống cùng làng Nghi Tàm, học với
Hồ Xuân Hương sau đó học với Tiến Sĩ Phạm Quý Thích cùng thời với Phương Đình
Nguyễn Văn Siêu..
Trang 234 : năm 1774 cụ Nguyễn
Nghiễm cầm quân dẹp loạn vùng Hội An, điều này không đúng. Đó là cuộc chiến lớn
chấm dứt Trịnh Nguyễn phân tranh sau hơn 200 năm. Nhân tại Phú Xuân Trương Phúc
Loan chuyên quyền. Tây Sơn nổi dậy đánh phá chiếm từ Bình Định tới Diên Khánh.
Chúa Trịnh Sâm biết như vậy bèn sai đại tướng là Hoàng Ngũ Phúc, cùng Nguyễn
Nghiễm làm Tả Tướng quân đem thủy bộ 3 vạn quân cùng Hoàng Phùng Cơ, Hoàng Đình
Thể, Hoàng Đình Bảo vào đất Bố Chính đểđánh họ Nguyễn, giả vào đánh Trương Phúc
Loan. Các quan ở Phú Xuân bèn bắt Phúc Loan đem nộp. Nhà Trịnh thừa cơ chiếm lấy
Phú Xuân, sai Nguyễn Hữu Chỉnh đem sắc phong cho Nguyễn Nhạc trấn thủ đất Quảng
Nam. Các chúa Nguyễn,Thái Thượng Vương và Tân Chính Vương bị Nguyễn Huệđuổi bắt
và giết chết, chỉ còn Nguyễn Ánh 17 tuổi chạy thoát. Trong trận này quân nhà
Trịnh hàng ngàn người bị bệnh dịch cụ Nguyễn Nghiễm cũng nhiễm bệnh đưa về quê
quán Tiên Điền dưỡng bệnh, năm 1776 cụ mất tại quê nhà.
Trong tình hình đọc sách hiện tại
trong nước và hải ngoại, mỗi người Việt Nam đọc không đến một quyển sách một
năm, các nhà xuất bản tại hải ngoại chỉ sống nhờ sự hy sinh của tác giả, tự viết
tự bỏ tiền in, không kể gì lời lỗ. Sách gửi đi các nơi không hy vọng gì thu tiền
lại. Trong nước sách in được 1500 quyển như Nguyễn Du trên đường gió bụi anh
Hoàng Khôi là thuộc loại khá.Đáng cho chúng ta khuyến khích. Phải chăng vì thiếu
sách hay, các nhà văn ngày nay không đủ sức hấp dẫn lôi kéo người đọc chăng.
Nghĩ lại ngày xưa thời Tự Lực Văn Đoàn, Thơ Mới, những năm 1930-1940 mỗi năm
người đậu Tú Tài chỉ vài chục người, người biết chữ quốc ngữ có là bao nhiêu
trên 25 triệu dân thế mà sách đã tạo ra những trào lưu văn học lớn mạnh. Ngày
nay chúng ta có 90 triệu dân trong nước và 4 triệu người Việt hải ngoại, mà tình
hình sách vở còn thua các nước nhược tiểu, nghĩ thật đáng buồn. Chúng ta không
nâng cao được dân trí, mà dân trí lại thụt lùi. Được một nhà văn như anh Hoàng
Khôi, hy sinh thức đêm thức hôm để viết sách, để mua vui một vài trống canh, tôi
mừng và mong có nhiều người như anh Hoàng Khôi. Đừng để các thế hệ mai sau không
còn biết viết văn, biết đọc mà chỉ còn biết bấm mấy câu vớ vẫn trên điện thoại
di động.
Paris 9-11-2013
PTC
*Tiến sĩ Khoa Học Giáo Dục Viện Đại Học Paris
V
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét