Ba thi hào họ Nguyễn cùng chung một dòng máu: Nguyễn Trãi - Nguyễn Du - Nguyễn Đình Chiểu !
Thái Doãn Hiểu
![]() |
| Mộ Nguyễn Bặc tại xã Gia Phương, Gia Viễn, Ninh Bình |
Năm 1991, sau
khi công bố phát hiện Vương Bột tử nạn
nơi nào !? ở báo Văn Nghệ, nhà
thơ Hữu Thỉnh lúc đó là Tổng biên tập của báo đến nhà chúng tôi ở Sài Gòn chơi,
cùng tác giả nhấm nháp thành tích phát hiện ra mộ tổ của nền thơ Đường bất hủ.
Đó là sự kiện làm “sửng sốt cả thế giới”
(chữ dùng của tạp chí Liêu Vọng, cơ quan văn hóa đối ngoại của Hội
nhà văn Trung Quốc). Nhà thơ Hữu Thỉnh phát giác ra là tôi có bản Ba thi hào họ Nguyễn… và cứ đòi xin nằng
nặc. Tôi thưa với Hữu Thỉnh là các luận điểm của tôi còn non, chờ cho một thời
gian để nó cứng cáp đã. Nay đã trên 24 năm, vấn đề này đã ổn và chín, tôi xin
thông báo với nhà thơ Hữu Thỉnh là tôi công bố đây. Độc Chiêu cuối
cùng trong 5 phát hiện quan trọng của tôi đối với văn học Việt Nam và thế giới,
mà chúng tôi đang dự định in thành sách:![]() |
| Nguyễn Trãi 1380-1442 |
1. Phát hiện
nơi tử nạn của Thi hào Trung Quốc Vương Bột đời Đường cách đây 1.300 năm
trên biển Cửa Hội sông
Lam, Nghệ An. Bài công bố trên báo Văn
Nghệ số - !991 của Hội Nhà văn Việt
Nam.
2. Truyện Kiều là tự truyện tâm linh của
Nguyễn Du. Đăng trên Tạp chí Sông Hương số
11-2010
3. Làng Vạc -
phế đô nước Âu Lạc. Đăng ở VanVN.net
của Hội Nhà văn Việt Nam
4. Chu Thần
Cao Bá Quát là cha đẻ của Phó vương Bắc Kỳ Hoàng Cao Khải. Đăng Tạp chí Sông Hương số
4-2013
5. Ba thi hào
họ Nguyễn cùng mang một dòng máu Nguyễn Trãi - Nguyễn Du - Nguyễn Đình Chiểu.
Đăng Tạp chí sông Hương số 11- 2013
![]() |
| Nguyễn Du 1766-1820 |
Để khỏi vòng vo Tam quốc mất thì giờ quý vị bạn đọc, và
mọi người đỡ sốt ruột, tôi xin thưa ngay: Vị thủy tổ của ba thi hào họ Nguyễn :
Nguyễn Trãi - Nguyễn Du - Nguyễn Đình Chiểu là
Thái tể triều Đinh, Định Quốc công Nguyễn Bặc.
Vậy, Nguyễn Bặc là ai ?
Theo Từ điển Bách
khoa toàn thư Wikiphedia thì Nguyễn Bặc sinh năm 924 –15 tháng
10, 979 âm
lịch là công thần khai quốc nhà
Đinh, cùng với Đinh Điền giúp Đinh Tiên
Hoàng đánh dẹp, chấm dứt loạn 12
sứ quân vào thế kỷ
10 trong lịch sử
Việt Nam. Theo sách Khâm định
Việt sử Thông giám Cương mục, Nguyễn Bặc là người động Hoa
Lư, châu Đại Hoàng, Ninh
Bình. Từ thuở nhỏ, ông đã cùng kết bạn với Đinh Bộ
Lĩnh, Đinh
Điền, Trịnh
Tú và Lưu
Cơ.
![]() |
| Nguyễn Đình Chiểu 1882-1888 |
Khi Nam Tấn Vương Ngô Xương
Văn tử trận (965), các sứ quân nổi dậy. Anh em Nguyễn Bặc theo Đinh
Bộ Lĩnh đánh dẹp. Theo thần phả, khi đánh dẹp một sứ quân mạnh là Nguyễn
Siêu, Nguyễn Bồ và Nguyễn Phục cùng 2 tướng khác bị tử trận. Vạn Thắng
Vương liền sai Nguyễn Bặc, Đinh
Điền và Lê
Hoàn mang quân đánh báo thù, kết quả diệt được Nguyễn Siêu
(967).
Ngoài trận đánh Nguyễn Siêu, Nguyễn Bặc đóng góp nhiều
công lao trong việc đánh dẹp các sứ quân, thống nhất toàn quốc dưới tay vua
Đinh.
Năm 968, Đinh Bộ
Lĩnh lên ngôi, tức là Đinh Tiên
Hoàng, Nguyễn Bặc được phong làm Định quốc công, Đinh
Điền được phong làm ngoại giáp. Chính sử không nói rõ nhưng các gia
phả họ Nguyễn có giải thích thêm rằng: Nguyễn Bặc làm quốc công, coi việc nội
giáp, tức là việc nội chính, còn Đinh
Điền làm ngoại giáp coi việc bên ngoài.
|
·
|
Theo các gia phổ họ Nguyễn và tài liệu “Lược sử họ Nguyễn tại Việt Nam”, Nguyễn
Bặc được coi là bậc tiền thủy tổ họ Nguyễn ở Việt Nam.
Sau khi vương quyền nhà Đinh mà Thái hậu Dương Vân Nga
cùng quần thần chuyển giao sang tay họ Lê, Đinh Điền, Nguyễn Bặc khởi binh đánh Lê Hoàn và cả hai
vị khai quốc công thần này đều tử trận. Nguyễn Bặc có một người con trai cả là Nguyễn Đê ở lại làm quan
cho triều Lê Đại Hành. Cuối đời ông dời cư vào Gia Miêu Thế thứ các đời họ Nguyễn ở Gia
Miêu từ thế kỷ X
sắp xếp như sau: Nguyễn
Bặc : 1-Nguyễn
Đê. 2-Nguyễn
Viễn. 3- Nguyễn
Phụng. 4- Nguyễn
Nộn. 5- Nguyễn
Thế Tứ. 6- Nguyễn
Hoằng Du. 7- Nguyễn
Biện. 8- Nguyễn
Sử. 9-Nguyễn
Công Duẩn (hay Chuẩn). 10- Nguyễn
Đức Trung.
Muốn nghiên cứu nguồn gốc họ Nguyễn ở Việt Nam, chúng ta
hãy tìm đến Gia Miêu ngoại trang, là cái nôi, nơi xuất phát điểm của nhiều dòng
họ Nguyễn tỏa đi khắp nước.
Gia Miêu ngoại trang là một trang ấp có từ xa xưa. Trang
là làng, ấp nhưng ở tiếp giáp với núi, nằm trong thung lũng nhỏ sông Tống Giang,
có Long Khê chảy qua ở phía tây bắc huyện Tống sơn tức huyện Hà Trung, Thanh Hóa
bây giờ, phía bắc Gia Miêu có rặnng núi Răng Cưa, nằm ở Bắc Thiên Tôn Sơn, ngọn
núi thiêng của dòng họ Nguyễn. Gia Miêu là nơi tập kết an nghỉ của tổ tiên bao
đời dòng họ Nguyễn sau khi tung hoành khắp bốn phương, tận trung báo quốc xây
dựng và bảo vệ đất nước. Rặng núi Rặng Cưa phía bắc Thiên Tôn Sơn là biên giới
tỉnh Ninh Bình và tỉnh Thanh Hóa. Phía Tây Gia Miêu cách 5 km là núi Thạch Thành
nơi ngày xưa có một đồn binh gọi là Man Bảo (hay Vạn Bảo), nơi tận cùng phía
đông mường Thạch Thành mà Nguyễn Biện (đời thứ7) đã xây dựng thành công 12 sơn
động cuối đời Trần, làm hậu thuẫn căn cứ địa cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, trở
thành rất nhiều khai quốc công thần kháng Minh thời Lê Lợi. ! Làng Mường này đến
thời Pháp cai trị trở thành 37 làng Mường trực thuộc dòng lang cun Nguyễn Đình ở
Quảng Tế. Vùng thung lũng này cao so với các cánh đồng trũng phía đông và nam,
nên không bao giờ ngập lụt. Từ khi ngăn đập Bến Quân làm thủy lợi lấy nước suối
Rồng thì vùng này phì nhiêu không thể thiếu nước
Gia Miêu là quê gốc của nhiều dòng họ Nguyễn. Từ xa xưa,
nhiều người họ Nguyễn đã từ đây chuyển cư đi khắp mọi miền đất nước và thành lập
những dòng họ rất lớn ở Bắc, Trung, Nam. Dòng họ ở đây là con cháu Định quốc
công Nguyễn Bặc, nhưng từ đầu đời Lê đã tách ra làm ba họ Nguyễn : Họ Nguyễn
Đình thờ vị tổ là Bình Ngô khai quốc công thần
Nguyễn Lý. Họ Nguyễn Hữu thờ vị tổ là bình Ngô khai quốc Công thần Nguyễn
Công Duẩn. Dòng họ Nguyễn Văn thờ Thịnh Quận công Nguyễn Chữ. Vì họ to và họ xa
phải tách ra làm ba họ Nguyễn để con cháu có điều kiện kết hôn với nhau. Trong
làng còn có họ Mai là họ ngoại của họ Nguyễn. Từ xa xưa, đình làng Gia Miêu chỉ
có thờ bốn vị tiên hiền là tổ của bốn vị tổ họ Nguyễn Hữu, Tổ họ Nguyễn Lý, Tổ
họ Nguyễn Văn và Tổ họ Mai. Từ trước 1945, ở Gia Miêu chỉ có 4 họ trên. Trong thời Nguyễn, không
thể có họ nào khác lọt vào sống ở đây. (1)
Sử sách thường ghi Nguyễn Kim (1468-1545)
- cha của chúa Nguyễn đầu tiên Nguyễn
Hoàng – là danh tướng Việt
Nam thời nhà Lê
sơ và là người đặt nền móng cho sự thành lập nhà Lê
trung hưng
Theo phả hệ họ Nguyễn Gia Miêu cho rằng Nguyễn Kim và
Nguyễn Hoằng Dụ là anh em họ. Người sinh ra Nguyễn Kim là Nguyễn Văn Lưu, anh
Nguyễn Văn Lang và bác Nguyễn Hoằng Dụ (đời thứ 6).
Sau khi tướng Lê
- Trịnh là Nguyễn Kim (2) chết do bị đầu độc bởi hàng tướng nhà Mạc là Dương
Chấp Nhất, bộ tướng của ông lên thay là Trịnh Kiểm. Để diệt trừ hậu hoạ, Trịnh
Kiểm giết Nguyễn Uông. Thấy anh trai bị hại, có ngày vạ lây, Nguyễn Hoàng nhờ
chị gái là vợ Trịnh Kiểm nói khéo cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa,
sinh ra chúa Nguyễn sau này.
Danh sách tổ tiên chúa Nguyễn nối đời là: Nguyễn
Đức Trung · Nguyễn
Văn Lang · Nguyễn
Hoằng Dụ · Nguyễn Kim · Nguyễn
Hoàng · Nguyễn
Phúc Nguyên · Nguyễn
Phúc Lan · Nguyễn
Phúc Tần · Nguyễn
Phúc Thái ·Nguyễn
Phúc Chu · Nguyễn
Phúc Trú · Nguyễn
Phúc Khoát · Nguyễn
Phúc Luân.
*
Ở
Gia Miêu, ông tổ của dòng Nguyễn Đình là Bình Ngô khai quốc công thần Nguyễn Lý.
Cháu của Nguyễn Lý là Nguyễn Đình Thuận theo Chúa Tiên Nguyễn Hoàng di cư vào xã
Bồ Điền, huyện Phong Điền, Thừa Thiên.
Nguyễn Đình Chiểu nhà thơ lớn nhất của miền Nam nửa cuối
thế kỷ XIX xuất thân trong gia đình
nhà nho
là hậu duệ của 1 trong 3 họ Nguyễn Đình ở Phong Điền.(3) Cha ông là Nguyễn Đình
Huy, người xã Bồ Điền, huyện Phong
Điền, tỉnh Thừa
Thiên; nay thuộc huyện Phong
Điền, tỉnh Thừa
Thiên-Huế. Theo gia phả của dòng họ Nguyễn Đình, ông tổ của họ theo
chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào lập nghiệp tại nơi này. Lớn lên, ông Nguyễn Đình Huy
cưới vợ ở đây và đã có hai con (một trai và một gái).Mùa
hạ, tháng
5 năm Canh
Thìn (1820)
Tả quân Lê Văn
Duyệt được triều đình Huế phái
vào làm Tổng trấn Gia Định
Thành. Đến đầu mùa
thu, Nguyễn Đình Huy đi theo Tả quân, để tiếp tục làm thư lại ở Văn
hàn ty thuộc dinh Tổng trấn. Ở Gia
Định, ông Huy có thêm người vợ thứ là bà Trương Thị Thiệt, người làng
Tân Thới, sinh được 7 con (4 trai, 3 gái), và Nguyễn Đình Chiểu chính là con đầu
lòng.
Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 13 tháng
5 năm Nhâm
Ngọ (1 tháng
7 năm 1822),
tại quê mẹ là làng Tân Thới , phủ Tân
Bình, huyện Bình
Dương, tỉnh Gia
Định (thuộc phường Cầu
Kho, Quận
1, Thành phố
Hồ Chí Minh ngày nay). Năm 1854,
Nguyễn Đình Chiểu cưới Lê Thị Điền (1835-1886,
người làng Thanh Ba, huyện Cần
Giuộc, trước thuộc Gia Định; nay thuộc tỉnh Long
An) làm vợ. Bà Điền là em gái thứ năm của Lê Tăng Quýnh, học trò ông,
vì cảm phục và mến thương thầy, đã xin gia đình tác hợp. Con của Nguyễn Đình
Chiểu có tất cả là ba trai ba gái. Trong số ấy có nữ sĩ Sương
Nguyệt Anh (con gái thứ tư) và Nguyễn Đình Chiêm (con trai thứ sáu)
là người có tiếng trong giới văn chương, nối nghiệp cầm bút của cha.
![]() |
Mộ Nguyễn
Đình Chiểu (giữa), mộ vợ Lê Thị Điền (phải), mộ
Sương Nguyệt
Anh (trái), đằng sau là đền thờ ở Ba Tri, Bến Tre.
*
Sau khi cha là Nguyễn Bặc tử nạn, trừ người anh cả
Nguyễn Đê ở lại làm quan cho Lê Hoàn, còn người con thứ hai của Nguyễn Bặc là
Nguyễn Thứ bất cộng đái thiên với triều đình mới nên dời cư về huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang (nay thuộc Chí
Linh, Hải
Dương). Sau non bốn thế kỷ thì sinh ra Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi (1380–19/9/1442),
quê gốc ở làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang. Ông là con trai
của hàn sĩ Nguyễn
Phi Khanh và bà Trần Thị Thái, là cháu ngoại của thân vương Trần
Nguyên Đán. Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học
sinh năm 1400,
ông từng làm quan dưới triều
Hồ. Sau khi Việt Nam bị rơi vào sự cai
trị của nhà Minh, Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi
nghĩa Lam Sơn do Lê
Lợi lãnh đạo chống lại ách đô hộ nhà Minh. Ông trở thành mưu sĩ của
nghĩa quân Lam Sơn trong việc bày tính mưu kế cũng như soạn thảo các văn thư
ngoại giao với quân Minh. Nguyễn Trãi là khai quốc công thần và là văn thần có
uy tín ở thời đầu nhà Hậu
Lê. Tuy nhiên, năm
Đền thờ Nguyễn Trãi tại Côn Sơn, xã Cộng Hòa
–
huyện Chí Linh- Hải
Dương
1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị tru di
tam tộc trong vụ án Lệ
Chi Viên. Năm 1464,
vua Lê Thánh
Tông xuống chiếu giải oan cho ông. Nòi giống của Nguyễn Trãi còn sót
lại từ Anh Vũ – con bà Phạm Thị
Mận
vẫn được duy trì phát triển. Năm 1969, khi khoa Văn Đại
học Sư Phạm Vinh sơ tán về xã Quỳnh Thạch, Quỳnh Lưu, Nghệ An, lớp chúng tôi
thường mượn nhà thờ họ Nguyễn làm nơi hội thoáng mát. Ông tộc trưởng cho biết
chi họ của ông thuộc dòng Nguyễn Trãi, trực tiếp thờ ông tổ Anh Vũ. Trên đường
Nguyễn Trãi kéo dài từ quận 1 đến quân 5 tp Hồ Chí Minh hiện có một nhà thờ lớn
thờ Nguyễn Phi Khanh khá lâu đời, do con cháu Anh Vũ lập. Tôi có chơi thân với
nhà thơ Nguyễn Phi Nguyện. Anh Nguyện thuộc dòng trực hệ Anh Vũ. Như vậy con
cháu Nguyễn Trãi vẫn không bị tuyệt chủng.
Nguyễn Trãi là anh hùng dân
tộc, danh nhân văn hoá thế giới.
*
Có một hậu duệ xuất sắc của Nguyễn Bặc thế kỷ XVI là
Tướng quân Nguyễn Quyện. Nguyễn Quyện là người làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai,
xứ Sơn Nam, Hà Tây, nay thuộc Hà Nội. Ông cùng dòng họ với Nguyễn Trãi. Cha ông
là Nguyễn Thiến (có chỗ ghi là Thuyến) đỗ trạng nguyên năm NhâmThìn niên hiệu
Đại Chính Nhà Mạc 1532. Dưới triều vua Mạc Phúc Nguyên, Nguyễn Thiến giữ chức
Thượng thư bộ Lại, tước Thư Quận công. Tướng Nguyễn Quyện được giao giữ vệ Phù
Nam, tước Văn Thái hầu và là con rể Thái tể Lê Bá Ly. Tháng ba năm Tân Hợi, Lê
Bá Ly đem 17.000 quân các đạo Tây Nam
sang hàng Lê thì Nguyễn Thiến và Nguyễn Quyện cùng đi theo. Nguyễn Thiến
được vua Lê cho giữ nguyên chức tước. Tháng 8 năm Đinh Tỵ, niên hiệu Quang Bảo
thứ tư triều Mạc 1557, Nguyễn Thiến
chết, Nguyễn Quyện cùngg em là Nguyễn
Miễn trốn về hàng vua Mạc Phúc Nguyên.
Trong trận chống nhau với vua Lê ở Hồ Trì tháng 9 năm
Đinh Tỵ, Nguyễn Quyện đánh tan quân Lê do Vũ Lăng hầu và Phạm Đức Kỳ chỉ huy, lập chiến công rực
rỡ.
Tháng 6 năm Diên Thành thứ 9 năm 1574 vua Mạc Mậu Hợp
sai tướng Nguyễn Quyện đánh Nghệ An, huyết chiến với tướng Lê Công Tích và Trịnh
Mô (tức Nguyễn Cảnh Mô) vài tháng không phân thắng bại, lại rút quân
về.
Ngày 6 tháng giêng năm Diên Thành thứ 10 năm 1575,
Nguyễn Quyện lại cất quân tiến đánh Nghệ An giết được Lại Quốc công Phan Công
Tích ngay giữa trận tiền ở Lèn Hai Vai, Diễn Châu.
Tháng 7 năm Diên Thành thứ 11 năm 1576, Nguyễn Quyện lại
đánh vào Nghệ An, truy bắt sống được Tấn Quốc công Nguyễn Cảnh Mô (Trịnh Mô) ở
núi Ngọc Sơn Thanh Hóa, giải về kinh sư.
Nhà thờ Nguyễn Du ở Tiên Điền,
Hà Tĩnh
Từ đó uy danh của Nguyễn Quyện.càng lẫy lừng. Đương thời
coi ông là một danh tướng. Tháng 4 năm Đan Thái Nguyễn Quyện được vua thăng
Thượng Đẳng Quốc công.
Mùa xuân ngày 6-1 năm Hồng Ninh thứ 3 năm 1592, khi kinh
thành Thăng Long thất thủ, Nguyễn Quyện bị quân Trịnh bắt, được Trịnh Tùng biệt
đãi. Ông than rằng “Ông tướng bại trận
không thể nói mạnh được. Trời đất bắt Mạc suy thì dẫu anh hùng cũng khó ra
sức”.
Sau khi vua Mạc Hồng Ninh (Mạc Mậu Hợp) bị giết, Nguyễn Quyện và các
con cháu phải khuất theo nhà Lê, nhưng không phục, tìm cách chống lại. Việc bại
lộ, cả nhà cùng bị thảm sát, chỉ có một
người con trai của Nguyễn Miễn trốn thoát. Đó là Nam Dương hầu Nguyễn Nghiệm.
Ông giong buồn vượt biển chạy trốn vào làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà
Tĩnh, giấu tên họ, tung tích, chỉ gọi là
ông già Nam Dương. Sau này, con cháu tập hợp lại thành chi phái họ Nguyễn Tiên
Điền, tức là dòng họ của Đại Thi hào Nguyễn Du, tác giả Truyện
Kiều bất hủ. Danh nhân văn hóa thế giới.
Tác giả gửi
Quê Choa
Bài viết thể
hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả
(1) Viết theo tài liệu Gia
phả dòng họ Thái tể triều Đinh, Định Quốc công Nguyễn Bặc. Bộ thế phả do tiến sĩ
Nguyễn Văn Lý (1795-1868) biên soạn.
(2) Nguyễn Kim được các vua
nhà Nguyễn sau này truy tôn miếu
hiệu là Triệu Tổ, thụy hiệu là Di Mưu Thùy Dụ Khâm Cung Huệ Triết
Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Khải Vận Nhân Thánh Tĩnh hoàng đế.
(3) Ban tu thư Tuyển tập Nguyễn Đình Chiểu có về xã Bồ
Đề điều tra nhưng không ra manh mối gì cả.
tqs post ngày 14/11/2013
|






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét