16 thg 10, 2014

(An Ninh Quốc Phòng) - Tôn Tử là nhà quân sự nổi tiếng thế kỷ VI (TCN). Sách “Tôn Tử binh pháp” do ông viết được xem là một tác phẩm lý luận quân sự vĩ đại nhất trong thời cổ đại Trung Quốc.
Tôn Tử rèn luyện đội nữ quân
Tôn Tử (hay Tôn Vũ), tên chữ là Trưởng Khanh, sinh năm 535 (hoặc năm 551) trước Công nguyên tại huyện Lạc An nước Tề, thời Xuân Chiến Quốc (nay huyện Bác Hưng Bắc, tỉnh Sơn Đồng), mất năm nào không rõ. Ông nguyên là hậu duệ của dòng họ Điền, nước Tề, nhưng bị vua quan nước Tề truy nã, nên đổi thành họ Tôn để chạy trốn. Năm 19 tuổi ông cùng gia đình lưu lạc sang nước Ngô, ở vùng Ngô Đô tức thành phố Tô Châu, kinh đô của nước Ngô.
Tôn Tử và bộ binh pháp được ví như 'Thánh kinh' về quân sự
Tôn Tử và bộ binh pháp được ví như 'Thánh kinh' về quân sự
Sinh ra đúng vào thời kỳ các nước chư hầu tranh giành đất đai của nhau, Tôn Tử vừa cày cấy sinh sống vừa  miệt mài viết binh thư. Thời gian này Tôn Tử kết giao với Ngũ Tử Tư, là một trọng thần của nước Ngô. Được Ngũ Tử tiến cử với Ngô vương là Hạp Lư, Tôn Tử dâng 13 thiên (chương) binh pháp lên để vua xem. Xem xong vua Ngô rât tán thưởng, nhưng không biết Tôn Tử liệu có thể biến những lý luận này thành thực chiến hay không nên đã yêu cầu ông dùng cung nữ để tập luyện.
Sách “Sử Ký tư Mã Thiên” tại thiên “Tôn tử, Ngô Khởi liệt truyện” chép sang “Tôn Tử tên là Vũ, người nước Tề, đem sách binh pháp yết kiến vua Ngô là Hạp Lư. Hạp Lư nói: “Ta đã đọc cả 13 thiên của ông rồi, nay ông thử áp dụng binh pháp điều khiển quân đội một cách tiểu qui mô có được không?” Tôn Tử đáp: “Được ạ”. Hạp Lư nói: “Đem đàn bà ra thí nghiệm có được không?”, Tôn Tử đáp: “Được ạ”.
Vua bèn bằng lòng cho gái đẹp trong cung ra, tất cả 180 người. Tôn Tử chia ra làm hai đội lấy hai người quý phi vua nuông chiều làm đội trưởng, sai tất cả đều cầm giáo. Tôn Tử ra lệnh nói: “Các ngươi có biết quả tim, tay phải, tay trái và lưng không?” Bọn con gái nói: “Có”. Tôn Tử nói: “Khi ta nói “đằng trước” thì các ngươi nhìn vào quả tim, nói ”bên phải” thì nhìn tay phải, nói” bên trái” thì nhìn tay trái, “đằng sau” thì nhìn đằng sau lưng”. Bọn đàn bà đáp: “Dạ”.
Sau khi đã đưa ra kỷ luật, Tôn Tử bèn đặt phụ việt (những đồ nghi trượng ở trong quân đội), ban lệnh ba lần, nhắc nhở năm lượt. Sau đó đánh trống ra lệnh nhìn về bên phải. Bọn con gái cười rộ. Tôn Tử nói: “Kỷ luật không rõ ràng, nhắc nhở hiệu lệnh không kỹ càng, đó là tội của tướng”. Lại ra lệnh và nhắc lại ba lần năm lượt, rồi đánh trống ra lệnh nhìn về bên trái. Bọn con gái lại cười rộ. Tôn Tử nói: “Kỷ luật không rõ ràng, nhắc nhở hiệu lệnh không kỹ lưỡng là tội của tướng, nay đã hiểu rõ kỷ luật rồi mà lại không theo kỷ luật là tội của đội trưởng”.
Tôn Tử muốn chém hai người đội trưởng. Ngô Vương đứng trên đài xem, thấy ông ra lệnh sắp chém hai người ái cơ, hoảng sợ, vội vàng sai sứ giả truyền lệnh nói: “Quả nhân đã biết cách dùng binh của tướng quân rồi! Không có hai ái cơ thì quả nhân ăn không ngon, xin đừng chém!”. Tôn Tử nói: “Thần đã vâng mệnh lệnh bệ hạ làm tướng, tướng đã ở trong quân thì có chi không theo lệnh vua”.
Bèn sai chém hai người đội trưởng để thị uy, đem người kế tiếp theo làm đội trưởng. Sau đó lại đánh trống chỉ huy. Bọn con gái nhìn bên trái, bên phải, trước sau, đứng dậy đều nghiêm chỉnh đúng đắn, không ai dám ho he. Tôn Tử sai sứ giả báo với nhà vua: “binh đã chỉnh tề, bệ hạ có thể xuống xem. Bệ hạ có thể dùng nó thế nào cũng được, dù có sai nó nhảy vào lửa, nước cũng được”. Ngô Vương nói: “Tướng quân ra quán trọ mà nghỉ, quả nhân không muốn xuống xem”. Tôn Tử nói: “Đại Vương thích nói suông, mà không thể dùng trong việc thực”. Do đó, Hạp Lư biết Tôn Tử có tài dùng binh và cho Tôn Tử làm tướng. Phía Tây quân Ngô phá nước Sở mạnh đi, đi vào đất Sinh, phía Bắc uy hiếp nước Tề, nước Tấn nổi tiếng ở chư hầu, Tôn Tử có công ở đấy.
Trong sự nghiệp quân dịch của mình, Tôn Vũ trực tiếp chỉ huy 5 trận đánh “để đời”, uy danh và tài thao lược quân sự của Tôn Vũ lừng lẫy khắp thiên hạ. Năm 482 trước Công Nguyên, vua Ngô làm bá chủ trong các nước chư hầu. Cùng với nước Ngô ngày càng lớn mạng, vua Ngô dần dần tự cho mình là trên hết, không nghe lời khuyên mà còn nghe những lời gièm pha của kẻ xấu. Tôn Tử thấy vậy liền bỏ về vùng núi Khung Long thuộc tỉnh Giang Tô làm dân thường, mai danh ẩn tích. Cuốn sách “Việt tuyệt thư” nói rằng: “Ở mười dặm ngoài thành Cô Tô có một Tôn Vũ, thực giả ra sao cũng khó xác định”
 Tôn Tử và bộ binh pháp được ví như 'Thánh kinh' về quân sự
Tôn Tử và bộ binh pháp được ví như 'Thánh kinh' về quân sự
36 kế (Tam thục lập kế)
Cuốn “Tôn Tử binh pháp” với 13 thiên, 6 ngàn từ, đã tổng kết những kinh nghiệm chiến tranh thời kỳ cuối Xuân Thu – Chiến Quốc. Đây là bộ kinh điển quân sự lâu đời nhất, hoàn chỉnh nhất và có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong lịch sử Trung Quốc. Một số người tôn sùng tới mức gọi cuốn “Tôn Tử binh pháp” là “Thánh kinh” về quân sự. Cuốn sách này đã được dịch ra hơn 100 thứ tiếng và lưu truyền khắp thế giới, được vận dụng rộng rãi trong các lĩnh vực quân sự. Tên 36 “kế” được tóm lược như sau:
Dương Đông kích Tây (đánh lạc hướng đối phương),  2. Điệu hổ ly sơn (dụ hổ ra khỏi rừng), 3. Nhất tiễn hại song điêu (một mũi tên hạ hai con chim), 4. Minh trí cố muội (biết rõ mà làm như không biết), 5. Dụ long, chuyển phượng (biến rồng thành phượng), 6. Mỹ nhân kế (kế dùng gái đẹp), 7. Sấn hỏa kiếp (theo lửa mà hành động), 8. Vô trung sinh hữu (không có mà àm thành có), 9. Tiên phát chế nhân (ra tay trước để chế phục đối phương), 10. Đả thảo kinh xà (đập cỏ làm cho rắn sợ), 11. Tá đao sát nhân (mượn đao giết người), 12. Di thể giá họa (dùng vật gì để vu khống người ta) 13. Khích tướng kế (kế chọc giận tướng giặc), 14. Man thiên quá hải (lợi dụng sương mù để lẩn trốn), 15. Ám độ trần sương (đi con đường mà không ai nghĩ đến), 16. Phản khách vi chủ (đổi vị khách thành vị chủ), 17. Kim thuyền thoát các (ve sầu vàng lột xác) 18. Không thành kế (kế bỏ trống cửa thành), 19. Cầm tặc, cầm vương (dẹp giặc phải bắt tướng giặc), 20. Ban ngư ngật hổ (giả làm con heo để ăn thịt con hổ), 21. Quá kiều trừu bản (qua cầu rồi phá cầu), 22. Liên hoàn kề (kế móc nối nhau), 23. Dĩ dật đãi lao (lấy khỏe để đối phó với mệt mỏi), 24. Chỉ tang mạ hòe (chỉ vào gốc dâu mà mắng cây hòe), 25. Lạc tỉnh hạ thạch (Ném đá vào người dưới giếng), 26. Hư trương thanh thế (thổi phồng thanh thế), 27. Phủ để trừu tân ( bớt lửa dưới nồi), 28. Sát kế hách hầu (giết gà cho khỉ sơi), 29. Phản giản kế (dùng kế của đối phương để quật lại), 30. Lý địa đào cương (đưa cây mận chết thay cây đào), 31. Thuận thủ khiên dương (thuận tay dắt con dê về), 32. Dục cầm cố tụng (muốn bắt mà lại thả ra), 33. Khổ nhục kế (hành hạ thân xác mình để người ta tin), 34. Phao bác dẫn ngọc (ném hòn ngói để thu về viên ngọc), 35. Tá thi hoàn hồn (mượn xác để hồn về), 36. Tẩu kế (chạy, lùi, thoát thân).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét