Quê nguyên bản!
Tác giả: Đào Dục Tú
KD: Đọc bài viết này mà mình cười rũ. Đó là đi hỏi “vợ chui” cho bạn, mà tác giả làm hẳn một bài tạp cảm đầy cảm xúc, về xứ người, về cái “tôi đi tìm tôi…”. Không biết tác giả còn muốn gửi thông điệp nào nữa đây cho bạn đọc
Thông điệp ngầm nào nữa thì chưa biết. Chỉ biết thông điệp về niềm yêu quê hương xứ sở, cái miền quê vốn thân thiết với những cánh đồng, bụi tre, con đò, cánh sáo diều vi vút, nay đã bắt đầu nửa quê nửa tỉnh, gieo vào lòng người đọc niềm nuối tiếc. Ở giữa quê mà vẫn phải đi tìm quê… Thật lạ!
Cảm ơn anh Đào Dục Tú
Thật tình cờ ,”đi hỏi vợ chui” cho ông bạn thời đại học, tôi có dịp trở về vùng quê trung du Vĩnh Yên, giáp địa giới Tuyên Quang, cách xa Hà Nội trên trăm cây số. Tôi nói tình cờ, hỏi vợ chui, bởi lẽ ông bạn tôi trước đó chỉ hẹn tôi chuẩn bị tư trang đi ba ngày lên Hòa Bình “xem trang trại của tao”.
Thấy xe cứ lòng vòng chạy loanh quanh mua bia chai bia hộp, bò húc,”bảy úp” rồi hàng đống bánh kẹo, tôi đâm nghi, hỏi sỗ “định ăn trừ à, hay cho quà trẻ con cả làng ?”. Lúc bấy giờ “y” mới cười cười:” Kỳ sau đi Hòa Bình, hôm nay tao với mày có việc quan trọng. Nhà trai chỉ có mày thôi!”. Tôi ớ người, “nhà trai”. . . chả còn biết nói thế nào nữa.
Việc “y” có ý định bí mật lập “căn cứ địa số hai” ở . . . vùng sâu vùng xa để nhằm cái đích “thằng con đèn hương nối dõi” đã manh nha từ lâu, nhưng không ngờ là sáng hôm nay. Nhưng quả là một ngày tuyệt vời. Đấy là một ngày tôi được no mắt nhìn, no tai nghe cảnh sắc và thanh âm thân thuộc ngàn đời của một vùng quê còn nhiều nét “nguyên bản Việt”. Éo le, nực cười, tôi người quê, tôi lại đi tìm quê. Tôi đi tìm tôi thuở nào xa lơ xa lắc . . .
Tôi sống thường nhật ở một làng quê gốc tổ nội ngoại chính hiệu, chí ít từ thời Ngô Vương Quyền sau khi đánh đuổi quân Nam Hán đã định đô ở Cổ Loa và lấy người thiếp yêu họ Đỗ nhưng từ “ẵm ngửa” là con nuôi họ Đào nội tộc “của tôi”! Tiếc thay làng quê ấy thuộc vùng ngoại thành sát nách Thủ đô, tốc độ đô thị hóa chóng mặt, giá đất mặt đường có thời đủ “lên đời” cho cả một gia đình đông con ba đời làm ruộng không đủ ăn.
Ai đời thời hợp tác xã nhiều làng quê “nghe tiếng kẻng cùng nhau dong trâu ra đồng cầy”, ngày gặt mùa chia nhau từng thúng thóc ,từng con rơm theo sổ công điểm, thiếu thốn lam lũ là thế nhưng trên cây còn có chim, dưới nước còn có cá, làng còn có “Rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì” như câu thơ Du Tử Lê quê gốc “cầu tõm”- vùng chiêm trũng!
Nói không “diễn. . . .văn múa bút” đâu, sống ở làng mà tôi vẫn mơ một trưa hè nào “như trong ca dao” được đứng dưới bóng tre, dù chỉ là một bụi tre loi thoi phục sinh ngay trên đất thổ cư để đón “ngọn gió tươi” thổi qua đồng làng trưa hè oi bức thổi về. Hay “sang” hơn, được nghe một tiếng ru em mát rượi. Làng tôi thật sự “thế gian biến cải vùng nên đồi” (Tú Xương), cũng không còn những “ao thu lạnh lẽo nước trong veo”, không còn những “ngõ trúc quanh co khách vắng teo” như quê Việt nguyên bản thời cụ Tam Nguyên Yên Đổ thuở xưa.
Chỉ còn nhà nối nhà, nhà chen nhà, mái bằng, mái hộp, mái vẩy đủ kiểu; rồi nhà cao tầng mái “ốp lam” đỏ tía chen nhau tràn ra bìa làng, trông xa làng lóa nắng như một trang trại “trơ thổ địa” xứ người sa mạc quá hiếm màu xanh lục diệp mát mắt.
Nghĩ lan man. Xe lắc lư khó nhọc vượt qua đất Vĩnh Yên chừng 20 cây số đường đang thi công dở dang gập ghềnh là đã thấy đầm nước mênh mông, đã thấy cù lao vườn cây xanh ngắt xa xa thấp thoáng cánh cò lượn lờ lên xuống, đã thấy đàn trâu đủng đỉnh trên đê, đã thấy cái không gian im vắng mênh mang trưa hè của một vùng quê non nước thanh bình yên ả nhặt khoan vẳng lại tiếng gà gáy từ xóm vắng chân đồi.
Sắc mầu thời hiện đại, nơi ngót nửa thế kỷ trước có thể còn là thâm sơn cùng cốc mang tác cọp gầm, nay có chăng chỉ là đôi lúc giữa khoang xanh mênh mang trời nước núi rừng, thấy dội lên tiếng xe máy đằng sau đằng trước lộ trình. Xe du lịch nhỏ con như …bọ xít bò trên đường ruộng ngoằn ngoèo giữa thung lũng xa xa đồi núi nhấp nhô chập trùng, đưa tôi về bản vắng.
Chủ nhà, bố vợ “ông bạn tôi” sinh trước thời dân chủ cộng hòa một tuổi, như tôi và con. . .rể ông (!). Tôi có phần hơi bị bất ngờ trước cái bắt tay. . . rất lính tráng. Hóa ra ông đã thâm niên 37 năm quân ngũ” đặt chân trên khắp chiến trường Đông Dương, a bê xê e ép đủ hết.
Ông bảo: “Hai vị (gọi con rể là vị !) biết không, tôi còn lênh đênh Trường Sa rồi đấy, đủ mùi. . . .lính, lính chiến, lính đất liền ,lính biển. Hèn chi con người ông hào sảng thế, hoành tráng thế, chả bù “hai đứa chúng tôi” chỉ mới lóng ngóng cầm súng thời sinh viên “tập quân sự”, thời tự vệ cơ quan đội mũ “cát”, lấy gậy thay súng tập tự vệ. . .bò vườn hoa công viên Thống Nhất!
Người thành phố “chân dầy chân dép” quanh năm da trắng . . .xanh “cớm nắng” là tôi thật thèm vốn sức khỏe tuyệt vời của ông cựu chiến binh dạn dày trận mạc. Ra quân là đầu trần chân đất đánh vật với quả đồi để bây giờ ông có một cơ ngơi “khơ khớ ” như ông tự bình phẩm. Vườn đồi nhà ông đầy cây trái, cây lấy gỗ và dưới chân đồi là một hồ nước rộng hàng héc ta trước cửa nhà, lá phổi sống xứ nhiệt đới thả đủ loại cá nước ngọt.
Tôi thú nhất trước sân nhà ông có hai búi vầu to, cao; cả thân lẫn lá một mầu xanh tươi tốt mát mắt; giữa là ba cây cau cao và mấy cây mít đeo quả lúc lỉu quanh thân. Cảnh quan ấy mà đưa được về “vườn trong phố” thì giá trị biết chừng nào!
Trong bữa cơm quê được chủ nhà gọi là đạm bạc rau dưa, rượu vào lời ra, chủ nhà nói với giọng quê khiêm nhường nhưng không dấu được vẻ ngầm tự hào:” Gà nhà là gà thả vườn chạy bộ, thịt nó chắc nó thơm chứ không nhão không nhạt thịt như “anh gà Hà Nội”, còn món măng tươi nấu vịt này ăn đứt rau . . . đường nhựa Thủ đô . . .” Nghe cũng phải .
Rượu quê chưa uống đã say, lại ham chuyện, ham vui, vả lại đóng vai “độc đinh” đại diện “nhà trai’ nên tôi bốc hỏa, đứng dậy “xin phép” góp vui vài bài quan họ “tủ”: hoa thơm bướm lượn –cho hợp cảnh trai gái kết đôi; trèo lên quán dốc- ý đường xá xa xôi vất vả quá; ngồi tựa mạn thuyền- cho ra vẻ tình tứ lãng đãng!
Đứng hát mê mải quên cả trời đất, quên cả chuyện có cậu choai choai tuổi chỉ bằng “thằng lớn” nhà mình nhưng vai vế bề trên gì đó cứ chốc chốc lại lúc lắc chai bia Hà Nội “mở bằng răng”, gọi “cháu rể của tôi đâu rồi”. Đời hài hước thật, ông bạn tôi lóm dóm đứng đi cười cười như. . . gường gượng, khổ quá thể!
Bù lại chuyến đi hỏi vợ cho . . . .bạn quá bất đắc dĩ, tôi được thấy ,được nghe, được trải cảnh sắc, thanh âm, cảnh đời quê nguyên bản Việt. Tôi được “thương” trở lại tuổi thơ tôi, từ cảnh lũ trâu đằm ven bờ đầm, hở mũi thở phì phì mặt nước đầm xanh nhạt dưới nắng đến cánh cò phân vân trên đồi xa xanh ngắt mầu diệp lục cho tới dáng đi tất bật vất vả của người mẹ già miền núi lưng còng nón lá chân đất trên đường đồng ngoằn ngoèo heo hút chân đồi
Thì ra là vậy thôi. Những gì là nguyên bản Việt quê mình ngày một phôi pha, mình vẫn có vẫn còn cơ may tìm thấy ở quê người! . / .
post 22/5/2014
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét