Bút ký điền dã của
THÁI DOÃN HIỂU
Tôi lại hành hương về xứ Nghệ để thỉnh Kinh (1)
viếng phần mộ Thân phụ và thăm Từ mậu đang sống chập chờn trong cõi âm dương.
Giữa những ngày tử biệt sinh ly tan nát lòng này, tôi vẫn biết tỉnh táo nén đau
thương không quên lặn lội xuống tận Cửa Hội cùng chú Hoàng Hà (lại vẫn chú
Hoàng thân kíuh) chụp cho bạn đọc những tấm hình màu từ những di vật còn sót lại
ở ngôi đền Vương Bột – những tấm hình có lẽ không riêng gì bạn đọcViệt Nam mà cả
bạn đọc Trung Quốc đang mong chờ !
Vào thu, biển Cửa Hội xanh đậm, nắng vàng ươm lao
rao trên sóng bạc đầu. Tôi phóng tầm mắt nhìn vào mung lung: trong những cánh
buồm no gió ngang tàng ngoài khơi xa nào đâu là cánh buồm của chàng Vương sang
Hoan Châu nước Việt thăm cha thuở trước ?
Năm năm lìa xứ, tôi vẫn mang đi trong tâm tưởng
mặt biển lặng xanh trong mơ màng với thấp thoáng những cánh buồm nâu dân dã
trong màu mắt ai mỏi mòn chờ đợi !
Phải chăng những câu thơ hay nhất trong Truyện
Kiều Nguyễn Du đã tả là từ chỗ này đây, nơi tôi đang đứng, sóng bủa mơn man
dưới bàn chân cát mịn, nơi cách đây đúng 1.315 năm thi hào Trung Quốc “Vương
Bột ải tử đầu hà, phá quân (sao) hãm thiên thương (sao) thủy cục”.(Vương Bột
chết khổ đầu sông, chết đuối về nước (2). Giờ, tôi đọc to câu ấy lên hỏi trước
muôn trùng sóng vỗ, nơi chàng thi sĩ họ Vương tử nạn mà sởn hết gai ốc trong
người, bàng hoàng vì sự linh ứng của nó.
Anh Văn Tự, người thợ may ở xã Nghi Xuân, Nghi
Lộc, môt bạn đọc trung thành của báo Văn Nghệ, người vẫn luôn giữ một
gián cách tiết độ vừa phải đứng bên tôi dường như tiếp nhận được sự thần giao
cách cảm đó đã kể tôi nghe:
- Hồi nhỏ, tôi được các cụ từ trực tiếp thờ cúng
đền Vương Bột nói lại là trên khúc sông này, vào khoảng đúng giờ Ngọ, mòi nước
nổi lên cơn lốc nhẹ xoáy rộng vùng, rồi một chàng trai trẻ tuấn tú độ 25-27
tuổi, dáng quắc thước, mặc áo hồng gấm, chân di hài sảo, tay cầm sách thung
dung dạo quanh vùng, cứ y như nhà thơ đang trầm tư tìm kiếm thi tứ để ngâm vịnh.
Tiếng thơ ai oán, thổn thức cứ nổi lên mỗi ngày. Những người chèo đò, những ngư
dân sinh sống ở vùng này thường dâng hương khi qua sông, lúc đánh cá cầu mong
được sự yên ổn may mắn. Người ta tìm bộ Đường Thư và nhón lấy những câu
thơ hay của Vương Bột để ngâm ngợi thưởng thức hầu làm sống lại tâm linh thơ của
ông Thần thi xứ Bắc mà hình hài đã gửi lạ trầm tích vĩnh cửu trên dòng sông Cửa
Hội quê kiểng…
Anh Tự kể, tai tôi như âm u vọng về từ một xứ mê
huyền. Tôi nhìn trân trân, bất giác chỉ tay sang bờ nam Cửa Hội hỏi anh Tư:
- Mấy năm trước hành hương về viếng mộ cụ Nguyễn
Du, tôi có nghe bà con bên huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) nói có một miếu thờ Vương
Bột nữa ở cửa sông bên ấy, anh có biết không ? Rất tiếc hôm đó, tôi cùng giáo sư
Hàng Hải mệt phờ không thể đi tiếp tìm hiểu được.
- Thưa không, tôi không rành a.
- Tôi mường tượng và đưa ra giả thiết như thế này
anh nghe có lọt tai không nhé: bên đó là nơi thừa tự các gia nhân, chỗ xác người
và thuyền tấp vô ấy ?. còn bên này dĩ nhiên là thi hài chàng Vương rồi (?). Sự
linh ứng của nhà thơ bao trùm cả một vùng mênh mông sông nước. Mỗi xứ đã lập
miếu thờ riêng theo lòng thành của mình.
- Nghe cũng có lý đấy ạ. Việc này xin để các nhà
khảo cổ, các sử gia trả lời hộ. Xin mời anh, ta đi tiếp.
Chúng tôi đi ngược dòng sông lên viếng đền. Chú
Hoàng bệnh. Anh Văn Tự bỏ việc thay chú dẫn tôi đi. Anh Văn Tự là người trọng
nhân nghĩa, chuộng văn học, là học trò cưng, đứa em thân thiết, người bạn tri âm
của chú Hoàng Hà. Anh phải gồng mình gánh chịu trên đôi vai mảnh mai mười một
miệng ăn với cái nghề may èo uột nơi thôn mạc mà miếng cơm manh áo cứ đùa cợt
từng ngày.
Đến trước đền Vương Bột, chúng tôi gặp một nấm
đất kỳ dị. Lòng tôi xao xuyến, linh cả mơ hồ.
Anh Văn Tự chắp tay thi lễ:
- Thưa, người nằm dười đất này là Đầu xứ Thái –
Hoàng Phan Thái – Nhà thơ, người anh hùng đã tuẫn nạn nơi đây.Cuộc khởi nghĩa
chống lại triều đình nhà nguyễn không thành, Đông hải Đại tướng quân bị Tổng đốc
Nghệ An Hoàng Tá Viêm đem quân về vây bủa bắt được giải về nguyên quán hành
quyết ngay chỗ này năm 1865, nghĩa là sau khi ngôi đền Vương Bột trùng tu khánh
thành được đúng 9 năm.
Tôi lịm người kêu lên:
- Ôi trời ! té ra nhân vật kẻ sĩ yêu qúy của tôi
(3) lại nằm đây bầu bạn bên cạnh Vượng Bột. Hai nhà thơ cũng chung một nòi tình
! Rõ là hai khí phách một tinh thần phản kháng !
Nhìn gò đất, tôi lầm nhẩm đôi câu đối của Hoàng
Phan Thái khảng khái đọc trong đề lao Vinh:
Thiên khả thê thân, huyền đảo giang hà thanh
nhất nộ ( Trời nếu thương thân, dốc ngược giang hà nguôi mối giận)
Địa nan mai cốt, vãn hồi nhật nguyệt bạch tam
quân (Đất khôn vùi cốt, kéo lùi nhật nguyệt rõ ba quân)
… mà chạnh niềm đau. Lẽ nào chính quyền địa
phương mãi đến bây giờ vẫn còn để bậc danh nhân đất nước này nằm hòa trong cát
bụi giữa thập loại chúng sinh !?
- Sinh thời – Anh Văn Tự thủ thỉ kể – Khi còn là
một bậc nho sinh hay chữ, ông Đầu xứ Thái thường từ làng Cổ Đan quê ông (nay là
xã Phúc Thọ, Nghi Lộc) sang làng Đông Chu, xã Lộc Hải (nay là xóm Xuân Lộc, xã
Nghi Xuân) thăm viếng ngôi đền Vương Bột luôn. Hoàng Phan Thái là người đã tích
cực truyền bá nền thơ Đường, đặc biệt là thi phẩm của Vương Bột cho toàn xứ.
Theo truyền thuyết thì chính ông ta “yểm” thơ Vương chứ không phải là Tả Ao tiên
sinh. Xin lỗi anh. Ông Đầu xứ “yểm” ngay trên một con đò ngang, giữa thanh thiên
bạch nhật, trong cuộc đàm đạo tương đắc thơ Vương với người… lái đó ! Theo thiển
ý của tôi thì truyền thuyết này thích hợp hơn với tài năng, tính cách và tư duy
Hoàng Phan Thái, con người đã nổi tiếng ngông ngạo trên pháp trường: “Ba hồi
trống giục thây cha kiếp – Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời”; con người khi đầu
sắp rụng còn hóm “Thằngg nào chém tớ chém cho đứt – Trần gian ngoảnh lại
nhắn đôi câu – Tấm thân bảy thước coi làm ngắn – Mà chí ngàn năm vẫn sống lâu –
Máu đỏ bôi đen trò đế bá – Vết son sổ toẹt mộng công hầu – Thằng nào chém tớ ché
cho đứt – Có lấy tiền công tớ trả sau.”
Tôi phì cười khoát tay:
- Hồ Tông Thốc, Tả Ao, giờ lại Hoàng Phan Thái…
Thôi, ai “yểm” mà chẳng được. Cứ lãng đãng sương khói thế mà lại hay.
Đến trước cổng đền, tôi cung kính đặt những bước
chân bồi hồi như cách cách đây năm năm từng đặt những bước chân bùi ngùi thương
cảm. Đến bên một mảng tường đổ nát, tôi dừng chân, thân mật cầm tay anh Văn
Tự:
- Này anh, là người vốn đẻ ở đây, lớn lên ở đây,
giờ đã ngót 50 năm, anh còn nhớ những gì về ngôi đền này không ? Thử kể, tả cho
tôi nghe với ?
Lời thỉnh cầu này đã làm hai mắt anh Văn Tự vụt
sáng, con người anh linh động hẳn lên, rút ngắn lại những gián cánh. Giống như
một hướng dẫn viên du lịch thục thụ, anh Tự kể vanh vách:
Ngôi miếu cổ cũ nhỏ quá không thể chứa nổi cái
chất hào phóng của thi nhân, và người xứ này nhận thấy không thể thỏa mãn với
tầm cỡ một thiên tài bèn xúm nhau lại đóng góp dựng lại tòa đền đường bệ, khang
trang hơn. Đó là đền Phúc Vị nơi chúng ta đang đứng đây. Đền được khẩn trương
trùng tu làm mới và đã hoàn thành vào năm Tự Đức lục niên, tức 1854. Cấu trúc
của đền gồm ba khuTiền đền, Trung đền, Hậu đền. Khu Trung đền làm nơi thờ cúng
cha con nhà thơ Vương Bột, Vương Phúc Cơ, còn Tiền đền Hậu đền bài trí các đồ tế
khí. Dân làng rủ nhau trang trí nội thất, trồng cây cảnh trông tôn kính, râm mát
và thanh lịch lạ thường. Đền xây xong, nhân dân vẫn chưa yên lòng vì chưa có
tượng để thờ. Một hôm, thần mộng báo cho ông lái đò là sẽ có một cây gỗ quý từ
trên nguồn trôi xuống, hãy đưa về làm tượng hai ngài. Quả thật, sáng hôm sau từ
đâu giạt đến một cây gỗ to tỏa hương thơm ngát. Ông lái đò giòng cây mộc hương
về neo đậu trước bến đình làng. Làng đã cử người dày công đi tìm các nghệ nhân
tài hoa về tạc hai pho tượng đó.
Để công trình nghệ thuật điêu khắc được hoàn hảo
về đường nét và hình khôi, khi tượng làm xong, làng đặt hai pho tượng ở ngã ba
làng đúng ba tháng mười ngày cho mọi người qua lại chiêm bái, phẩm bình, kể cả
các chú khách người Trung Hoa. Khi mọi người đã công nhận là kiệt tác, làng mới
quyết định đem sơn son thếp vàng, xong rước hai ngài lên thờ ở cung đình danh dự
nhất của khu đền Trung. Bấy giờ, một khó khăn nữa lại đến với dân làng: chẳng
ai biết đích xác nhà thơ Vương Bột mất ngày tháng nào !. Dân làng cho mời các kỳ
lão, các vị có học vấn uyên bác, tinh thông Hán học, am tường về văn nghiệp của
ngài. Với lòng tôn kính sâu sắc con người và tư tưởng, các vị đó đã dõi theo
cuộc đời và thơ văn, quyết định lấy ngày 9 tháng 9 âm lịch làm ngày giỗ chính
thức hàng năm. Đó là ngày Trùng Cửu, có lẽ là này đau buồn nặng nề nhất của đời
ngài bị vua ruồng bỏ.
Từ đó về sau nhân dân thường có hoa tươi, nến
sáng, hương khói suốt ngày. Cảnh đền càng ngày càng trở nên khang trang nhộn
nhịp. Hồi còn học cấp hai – anh Văn Tự dim cặp mắt nhớ lại – thầy Hoàng Hà dạy
văn thường dẫn tụi học sinh chúng tôi vào tham quan cảnh đền và kính viếng nhà
thơ. Được thầy giới thiệu tiểu sử vẻ vang của ngài, chúng tôi mới hết kính nhi
viễn chi. Anh biết đấy, tuổi nhỏ quỷ sứ của bọn học trò nhất qủy nhì ma quấy phá
khắp nơi thế nhưng đâu dá bén bảng tới chốn linh thiêng này !
Những này đó có thầy đi kèm, chúng tôi mới hết
run dạn dĩ lên dắt tay nhau cùng bước vào thánh địa. Từ ngoài cổng, chúng tôi
thấy hai con voi đá xanh to khỏe đứng trấn giữ đền. Bốn cây cổ thụ trồng bốn góc
vườn. Bốn gốc thông già cao vút chọc trời được trồng ở bốn góc đầu hồi ba toà
đền, tán lá xanh rì vi vu đàn hát trước gío. Một cây phượng bằng hai người vầng,
lá xanh như khói chen giữa những chùm hoa lửa đỏ chói cháy rực trời, tán xòe ra
xum xuê mát rượi cả một vùng.
Vào khu Trung đền là nơi thờ hai vị thần Vương
Bột, Vưong Phúc Cơ có bày biện đủ hoa nến, ống đài đươm hoa trái, hòm sắc đựng
thần phả ghi chép công đức của hai cha con vị phúc thần đã cứu giúp dân bản xứ.
Hai bên bàn thờ là hai câu đối rực rỡ dòng chữ sơn son thếp vàng:
Long Môn văn phái ba lưu viễn
Ngư Hải hương yên tuế nguyệt
trường.
Hồi đó, thầy Hoàng Hà đã dịch như sau:
Dòng thi thư của xứ Long Môn (Quê Vương
Bột) từ xa sóng đưa đến,
Khói hương dân Ngư Hải (biển cá) xin
thờ cúng đến muôn đời.
Trên dưới các tượng là bức hoành phi đại tự chính
điện “Thung quê (1) song linh” (cha con đều hiển linh, hai bức hành phi
hai bên tả hữu “Nhân kiệt địa linh” (Người tài đất thiêng) “Vật hoa
thiên bảo” (Vạn vật và hoa cỏ là báu vật của trời)… đó toàn là những tiếng
tôn xưng xứng đáng đối với một bật hiền tài.
Anh Văn Tự dắt tôi đi khắp khuôn viên đền còn sót
lại, nơi người ta chưa cất nhà. Chúng tôi vừa đi vừa trò chuyện. Anh văn Tự chỉ
trỏ và kể :
- Thuở đó làng Phúc Vị được chia làm hai khu,
mỗi khu có trách nhạêm bảo vệ, tu sửa đường sá về mỗi phía. Tuy được cắt đặt
rạch ròi nhưng người dân cả hai khu đều rất có ý thức chăm sóc vườn tược,nến
hương chu đáo, cắt tỉa cây cành… làm cho cảnh quan trở nên nghiêm cẩn,thơ mộng.
“Đông Nam mỹ” (khu Đông khu Nam đều đẹp), quả đúng là nơi thờ phượng một
thi hào thế giới, điểm sáng hội tụ thu hút khách thập phương về hành hương. Hàng
năm đến ngày Trung Cửu giỗ ngài, dân lại rộn ràng tổ chức lễ hội. Cả một khúc
sông Lam trước đền huyên náo tiếng mái chèo đua bơi chải khua vang trống giong
cờ mở, tiếng nói tiếng cười hân hoan… tưng bừng không kém gì tết Đoan Ngọ (5-5
âl) mà nhân dân Trung Hoa dành tưởng niệm nhà đại ái quốc trung trinh Khuất
Nguyên trên sông Mịch La, nơi ngài trầm mình tuẫn tiết.
Giờ đây, người dân Ngư Hải rất lấy làm đau xót
tưởng nhớ lại ngôi đến Phúc Vị thân yêu thờ Vương Bột không còn nữa! Ai mà
chẳng óan ghét chiến tranh tàn phá và tác nhân con người vì kém hiểu biết hủy
hoại đi cái báu vật trời đất linh thiên đã ban cho chúng ta, phải không anh
?
Giọng anh VănTự lắng xuống gợi một niềm thương
cảm man mác. Anh ngưng lại, lóng ngóng đưa tay rút khăn lau mồ hôi lấm tấm trên
mặt dưới ánh nắng gắt oi nồng. Tự dưng câu thơ Vương Bột thầm thì âm vang lên
trong hồn tôi “Gác Đằng cao ngất bãi sông thu”, rồi tiếng thở dài thoát
ra từ miệng tôi trước gương mặt lặng lẽ của anh:
- “Đằng Vương thuở trước giờ đâu
tá ?”
Anh Văn Tự cũng chạnh lòng bâng quơ::
- Vâng “Đằng Vương thuở trước giờ đâu
tá?”
*
Chiều 31-8-1992, tôi ghé thăm Hội Liên hiệp Văn
học Nghệ thuật Nghệ Tĩnh giữa lúc toàn Ban chấp hành Hội đang họp khẩn cấp để
chia tỉnh. Gặp nhau lâu ngày anh em bắt tay vồn vã vui vẻ. Ông Chủ tịch Xuân
Hoài ngưng cuộc họp dành cho khách quý xa mươi lăm phút. Nhà thơ Thạch Quỳ xởi
lởi:
- Bài VƯƠNG BỘT TỬ NẠN NƠI MÔ ? của anh đăng
trên báo Văn Nghệ sô 29 đã làm cho cả hội Văn nghệ Nghệ Tĩnh xôn
xao.Rằng…thì là chúng tôi rất lấy làm xấu hổ vì từ trụ sở Hội đến nơi Vương Bột
tử nạn chỉ có 8 km mà chẳng ai hay biết gì cả, trong lúc anh ở tận mãi Sài Gòn
tít tắp mù khơi lại tỏ tường đến thế.
Tôi thưa với anh em văn nghệ quê nhà là tôi chẳng
có tài cán gì ghê gớm trong việc phát hiện cả. Tình cờ thôi, tôi đi tìm cái nọ
thì nẩy ra cái này. Ngờ đâu một bài báo nhỏ khoắng bút vài ba tiếng đồng hồ lại
làm kinh động nhân tâm đến thế, hơn cả hàng loạt sách tâm huyết và công phu của
tôi đã được in! Theo Biên tập viên báo Văn Nghệ thì Đại sứ quán Trung
Quốc tại Hà Nội được tin này sớm nhất đã phóng xe tới Viện Quan hệ Quốc tế bộ
Ngoại giao, bộ Văn hóa, báo Văn Nghệ hỏi thực hư, xong fax về Bắc Kinh.
Nhân dân Trung Quốc đã sửng sốt trước sự kiện này chứ không riêng gì hai học giả
Giáo sư Lâm Trọng Hàm và nữ Thạc sĩ Nghê Hà Vận sửng sốt. Tôi nói rằng tôi mới ở
dưới Cửa Hội làm phóng sự ảnh cho báoVăn Nghệ vừa lên Vinh. Chính quyền
xã Nghi Xuân rất cảm kích đã thảo công văn gửi kiến nghị cho bộ Văn hóa, nhờ báo
Văn Nghệ đăng công khai – đề nghị trùng tu ngôi đền thờ Vương Bột trên
quê hương của họ. Bà con ở dưới Trang bảo việc tái thiết đền Phúc Vị là rất
chính đáng. Giới trí thức của địa phương thì tận tình giúp cán bộ khoa Sử trường
Đại học Tổng hợp về khảo sát, xác minh. Các cụ ông cụ bà vô cùng hoan hỉ. Họ đón
tôi như đón một sứ giả của điều thiện. Anh Nguyễn Công Thiền giáo viên
trường cấp 2 Nghi Phú, Nghi Lộc trầm ngâm nói là nếu anh có đủ vốn anh sẽ xin
đăng cai với chính quyền thầu xây ngôi đền làm tụ điểm du lịch văn hoá cho khách
bốn phương. Tầm nhìn doanh nghiệp này rất đáng cho sở Văn hóa Nghệ An tham
khảo?
Tôi nói:
Vương Bột tử nạn trên xứ mình, bí mật trùm màn
đen suốt 13 thế kỷ. Chúng ta đã phát hiện cho Trung Quốc một ngôi mộ tổ sáng
giá. Người Tàu là họ rất quý mồ mả tiền nhân. Việc hai nhà Việt Nam học sang ta
để lo vụ này đã chứng tỏ điều đó. Bộ Văn hóa của hai nước Việt – Trung nên hiệp
đồng chặt chẽ mà lo chung. Văn hóa là linh hồn của mỗi dân tộc. Ánh sáng toả ra
từ ngôi đền Vương Bột chính là thứ văn hóa chung đúc độc đáo của hai dân tộc.
Hai dân tộc sẽ hiểu nhau, thấm thía nghĩa tình anh em trong những sắc màu của
nền văn hóa riêng chung đó. Các bạn ở Hội văn nghệ quê nhà xin cổ súy cho việc
này.
- Cổ súy là làm sao ? Nhà thơ Minh Huệ cắt ngang
nói.
- Thưa anh, là viết kỹ về Vương Bột cho thế hệ
này và thế hệ sau đừng tái phạm bi kịch phá đền do kém hiểu biết. Tôi nhớ là có
một cụ ở Nghi Xuân rầu rầu nói với tôi :”Giá có bài báocủa anh trước thì ai nỡ
dám xúc phạm vào nơi tôn nghiêm thờ ngài là chi ! Chúng tôi càng đọc bài đó càng
thương ngài và hối hận.!”
Ông Tổng biên tập Thạch Quỳ và Phó Tổng Đặng Văn
Ký:
- Chúng tôi định đăng lại bài bút ký điền dã
của anh trên báo Văn Nghệ tỉnh nhà (4). Xin phép tác giả.
- Ngộ tồông ý ngay ! Nhưng coi
chừng lỗi morát bài ấy sai quá xá. Còn ảnh thì quý vị quá bộ xuống Cửa Hội mà
“nháy” lấy.
(Còn tiếp kỳ sau : [d] Văn nghiệp của Thi hào
Vương Bột
- [e] Trao đổi về sự kiện VƯƠNG BỘT
TỬ NẠN NƠI NÀO ? giữa học giả Thái Doãn Hiểu và Đoàn Nhà văn Trung
Quốc.
————————————————
(1) Lấy những pho sách cổ từ thư viện gia đình
30-8-1991.
(2) Câu này do Kỹ sư Tăng Văn Phiệt, Phó Giám đốc
công ty xây lắp điện 2 Xí nghiệp phụ kiện lưới điện Việt Nam từ Thủ Đức – một
người nghiên cứu rành về số tử vi chạy đế thảng thốt nói với tôi hôm ở Sài Gòn
là anh rút từ quyển Một nghìn hai trăm câu phú tử vi chuyên luận về các
kiểu chết các nhân vật nổi tiếng phương Đông.
(3) Xem CHÂN DUNG CÁC NHÀ VĂN QUA GIAI THOẠI (6
tập) của Thái Doãn Hiểu – Tập 1 Chuyện hay nhớ mãi, mục Hoàng Phan Thái
từ trang 154-160
(4) Sau đó thì Hội VHNT Nghệ An đã ra một kỷ yếu
về Vương Bột với đầu đề THẦN THI VƯƠG BỘT mà bài viết của tôi đăng đầu quyển với
vị trí là “cái ngòi pháo”.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét