Lời
Dâng
(Trích trong Đường về
minh triết)(*)
Không có sự liêm khiết trí
thức thì không có năng lực tư duy minh triết về những vấn đề trọng đại của cuộc
sống, dù có học vị tiến sĩ triết học hay bất cứ gì.
Nếu giàu tri thức, giàu tài
năng nhưng yếu kém lương tâm, lương tri thì chỉ là công cụ; chưa có nhân cách;
còn nghèo trí tuệ; chưa trưởng thành toàn diện.
Không biết phục thiện thì
không thể học được những bài học vĩ đại trong trường đời; dù có bằng cấp cao
cũng chi là kẻ ấu trĩ về trí tuệ .
Tham cứu Thiền là tham cứu
sự sống và ý nghĩa cuộc sống.
Theo cách nói của nhiều nhà
vật lý thì vũ trụ là một mạng lưới chằng chịt vật chất và tâm linh tương quan
với nhau. Hiểu như vậy, sẽ thấy toàn vũ trụ là một cơ thể bất khả phân.
Theo nhiều nhà khoa học tự
nhiên, năng lượng tâm thức là dạng năng lượng cơ bản, có ảnh hưởng tốt hoặc xấu
cho toàn vũ trụ (tuỳ tính chất tâm thức) và cho bản thân .
Có đức mà không có tài,
không phải là vô dụng, vì vẫn có tác dụng giáo dục lớn lao đối với xã hội (qua
lối sống), vì vẫn mang năng lượng tinh thần (thiện ích) ảnh hưởng tốt đến môi
trường sống của cộng đồng (có cả giá trị giáo dục). Có tài mà không có đức,
không chỉ có hại cho xã hội về hành vi xấu, mà còn mang năng lượng tâm thức độc
hại cho môi trường (và cho bản thân mình). (Vấn đề này Phật giáo gọi là
tạo nghiệp tốt xấu; nghiệp cũng mang năng lượng; toàn vũ trụ là những dòng chảy
năng lượng).
Tâm ý xấu ác không chỉ có
hại cho thế giới, mà còn rất hại cho môi trường năng lượng của mình.
Sự xấu ác là biểu hiện của
cái “tôi” (bản ngã) đen tối.
Cái “tôi” càng lớn thì tình
thương càng nhỏ. Càng chấp thủ cái “tôi, bệnh tinh thần càng nặng; càng
ảnh hưởng có hại cho tha nhân, môi trường bằng hành vi, bằng thái độ, bằng năng
lượng tâm ý.
Con người cần có sự định tâm
tỉnh trí để thấy biết trọn vẹn tâm hồn mình. Không tự tri thì không tự chủ,
không có sự liêm khiết và tự do tinh thần, không có Thiền.
Tinh thần càng tự do thì trí
tuệ - lương tri càng sáng.
Tâm hồn đen tối tạo ra xã
hội đầy tệ nạn. Muốn xây dựng xã hội tốt đẹp, phải có nền giáo dục có khả năng
giáo dục tất cả mọi người (không trừ một ai) nhận thức sâu sắc các bệnh tâm
hồn, phải làm cuộc cách mạng nội tâm tận đáy cái “tôi”.
Nhà giáo yếu kém nhân cách
thì chỉ là công cụ tồi, có hại cho xã hội rất lớn (vì nhiều người ngây thơ tin
tưởng vào họ). Tu sĩ yếu kém nhân cách cũng thế.
Một tinh thần thật sự trẻ
trung và đầy sinh lực là một tinh thần trong sạch. Tinh thần đó ít lệ thuộc vào
thể trạng và hoàn cảnh.
Tâm hồn không thanh bình thì
cuộc sống kém chất lượng, hiệu quả công tác không cao, không có kinh nghiệm về
niềm an vui tự phát, không thể ngộ nhập Tánh Viên Giác vốn có ở chúng sinh và
trùm khắp mười phương.
Từ năng lượng quán tâm (tự
tri) xuất sinh tình thương, niềm vui, năng lực sáng tạo có chất lượng cao, xuất
sinh nhãn quan minh triết, tác dụng giáo dục.
Tâm thái vô ngã là tâm thái
hòa bình, bao dung, minh triết, thông minh.
Tâm trí không tĩnh lặng thì
không thể giáp mặt thực - tại - đúng - như - thực, không thể giáp mặt
chân lý cuộc sống.
Thượng Đế (hay Chân Thiện
Mĩ) không thuộc về phe này hay nhóm kia, không thuộc về hình tướng nào; mà
thuộc về những tâm hồn trong sạch, bình đẳng, bác ái, từ bi. Đó là Tánh Viên
Giác .
Sự tĩnh tâm tự tri có công
năng giữ gìn lương tri, sự tự chủ, sức khoẻ tinh thần, giá trị làm người .
Người biết yêu nét đẹp của
tâm hồn là người trưởng thành tâm trí, là người có tinh thần dũng cảm, biết
sống với hạnh phúc chân chính.
Càng hướng đến lý tưởng vô
ngã thì cái “tôi” càng giàu thiện ích mỹ.
“Vô ngã” là bản ngã (cái
“tôi”) chuyển thành trạng thái tâm trí hòa bình, tỉnh sáng, “vô ngôn giữa muôn
lời”.
Tâm hồn không tự do thì
không có năng lực tư duy độc lập, không cảm thụ được trọn vẹn vẻ đẹp cuộc sống,
nghèo nàn tinh thần sáng tạo, kém nhân cách.
Tự tri là, bằng trí tuệ nội
quán, nhận biết trọn vẹn mọi cảm giác, tư tưởng, ý muốn, nhận thức phân biệt v.
v…đang xảy ra trong tâm trí. Đây là sự nhận biết (kiến chiếu) một cách tự
nhiên, không phê phán, không lấy - bỏ (thủ - xả), không dụng công. Có năng lực
kiến chiếu này thì tâm trí sẽ tĩnh lặng (tỉnh thức) và thấy rõ bản chất của bản
ngã (cái “tôi”). Bản ngã sẽ được chuyển hoá thành trạng thái tâm vô ngã - tức
là tâm thái hoà bình, từ bi đích thực, mang năng lượng tích cực có lợi cho toàn
“mạng lưới vật chất và tâm linh” của vũ trụ.
Khi ngồi định tâm mà vẫn nhớ
nghĩ đủ chuyện (tức nói năng bên trong) thì giống như khi ngồi một mình mà nói
đủ điều. Đó là tình trạng bất bình thường của tâm trí, của bộ não và hệ thần
kinh.
“Tỉnh thức” là “có mặt”
trong giây phút hiện tại với những gì đang xảy ra. “Có mặt” tức là tâm trí
không còn vọng tưởng lang thang.
Không ai là không có tâm xấu
ác, điều quan trọng là phải nỗ lực cải tạo. Thực hành “tự tri - tỉnh thức - vô
ngã” là trách nhiệm của mọi người.
Khi cái “tôi” xâm lấn, bóc
lột người khác, nó luôn ẩn núp sau những lời hoa mỹ.
“Vô ngã” là Sự Sống bất sinh
bất diệt. “Vô ngã” là chân ngã, là giải thoát.
Không xiển dương sự thanh
tẩy tâm thức thì tôn giáo, tín ngưỡng chứa đầy mê tín có hại .
Cái nhìn khách quan không
thể đánh giá được nhân cách minh triết; chỉ họ tự biết. Nhân cách minh
triết tối cao chính là nhân cách tự - do - tinh - thần. Đó là giá trị cao nhất.
Tâm bất bình thường thì não
bất bình thường. Tâm não bất bình thường tác động bất bình thường đến sự
vật và ảnh hưởng xấu đến nhận thức của ta, đến cuộc sống của ta (kể cả hoàn
cảnh) .
Nghề nghiệp, công việc chỉ
có tính chất quan trọng (nhiều hay ít), chứ không có tính chất cao
quý. Sự cao quý thuộc về nhân cách, lương tâm.
Tư tưởng xuất thế góp phần
làm trong sạch sự nhập thế.
Mọi tài năng đều có giá trị
về mặt công cụ, đều có thể góp phần làm cho cuộc đời tốt đẹp hơn. Nhưng cái
năng lực quý giá nhất làm cho con người giữ vững giá trị làm người, đó là sự tự
tri tự chủ. Thiếu cái năng lực này, các tài năng khác có thể biến con người
thành ác quỷ, dã thú, kẻ đê tiện.
Vắng mặt năng lực tự tri tự
chủ, vắng mặt trí - lương - tri thì trí - công - cụ sẽ trở thành tôi tớ cho trí
- chó - sói.
Cái “tôi" càng lớn,
càng bền chắc, càng xảo quyệt, càng tự tôn, càng bè phái thì sự liêm khiết trí
thức càng suy yếu, tư tưởng và hành vi “người bóc lột người” càng đa dạng .
Tâm Đại thừa là tâm khiêm
hạ, hiểu rằng tội lỗi của mình từ vô lượng kiếp đã ảnh hưởng xấu đến tất cả
chúng sinh.
Tâm Đại thừa khởi phát
từ sự nhận thức sâu sắc rằng, tội lỗi của cá thể ảnh hưởng đến toàn thể, qua
thân khẩu ý.
Giá trị làm người thể hiện ở
hiệu quả thiện ích , ít tác hại (nhất là ớ mặt “tiềm ẩn” là năng lượng tâm
thần) đối với xã hội , đối với vận hành của vũ trụ.
Thấu triệt lý duyên sinh -
vô ngã thì tâm dễ tĩnh lặng, não dễ chuyển hóa, dễ ngộ nhập chân lý tuyệt đối.
Tâm giải thoát phiền não
mang ý nghĩa hiếu nghĩa lớn nhất, mang ý nghĩa nghĩa vụ và trách nhiệm cao quý
nhất, vì đó là hành động thuận đạo lý, thuận hợp đại luật vận hành của vũ trụ.
Khi ta suy nghĩ, ta chỉ tiếp
xúc với một vài khía cạnh cuộc sống. Nhưng nếu muốn giáp mặt thực tại toàn diện
của cuộc sống thì phải im lặng tâm trí .
Giá trị giác ngộ, giá trị
Đại Thừa không nằm ở hành vi, hình tướng bên ngoài, mà ở thực chất của
tâm. Nếu thật sự có giác ngộ, có tâm Đại thừa thì dù sống ẩn dật vô danh vẫn có
thiện ích lớn cho chúng sinh, cho sự nghiệp giác ngộ chung.
Trái đất đang nóng dần lên;
tâm hồn nhân loại đang nóng bỏng. Nhà khoa học nỗ lực vá tầng ô-dôn; thiền gia
nỗ lực thiền định để góp phần chuyển hoá tâm trí nhân loại bằng năng lượng tỉnh
thức, an lạc, thanh thoát, từ bi . (Nên thấu hiểu rằng, lòng tự hào tôn giáo
cũng là cái “tôi” hiếu chiến vô minh ).
Chưa nghiên cứu nghiêm túc
về bản ngã (cái “tôi") thì chưa thể có đường lối giáo dục đúng đắn.
Nhà tâm lý học không thể
hiểu biết sâu sắc cơ cấu tâm lý nếu không thiền định tự tri. Nhà giáo dục học,
nhà chính trị học sẽ không có tầm nhìn minh triết về giáo dục, về chính trị nếu
không hiểu biết sâu sắc cơ cấu tâm lý con người. Nhà truyền bá tôn giáo sẽ hạ
thấp giá trị tôn giáo nếu thiếu quan tâm vấn đề này.
“Tự tri - tỉnh thức - vô ngã” là đạo lý của vũ trụ,
là mẫu số chung của ý nghĩa cuộc sống, là Thiền; mang năng lượng tích cực có
lợi cho toàn vũ trụ, cho sự thăng hoa trí tuệ - tâm linh chung của tất
cả.
“Tự tri” là quán chiếu tâm
thức, là biết rõ tâm trí. “Tỉnh thức” là tâm không vọng tưởng. “Vô ngã” là tâm
thái hoà bình, an lạc, yêu thương, thiện ích, tự do tự tại, diệu dụng, bất sinh
bất diệt, tịch tri, tịch chiếu.
Truyền bá minh triết Thiền
Định Tự Tri là góp phần cải tạo xã hội .
“Tự tri - tỉnh thức - vô
ngã” là minh sư vĩ đại nhất của chính mình.
Viên mãn “tự tri - tỉnh thức
- vô ngã” rất khó, nhưng chỉ có hướng đến đó mới xây dựng được mẫu số chung cho
nhân cách, cho ý nghĩa cuộc sống. Chỉ có hướng đến đó mới tạo nên tiếng nói
chung cho hoà bình, công bằng, nhân ái - thật sự biết tôn trọng nhau giữa người
với người.
Người biết yêu điều tốt ghét
điều xấu là người biết phục thiện; người biết phục thiện thì dễ tiếp thu
đạo lý giác ngộ; người biết tiếp thu đạo lý giác ngộ thì dễ thực hành tự tri;
người biết thực hành tự tri thì dễ thực chứng chân lý tuyệt đối, siêu vượt khái
niệm - tướng trạng.
Một vấn đề lớn của thời đại
chúng ta, là làm thế nào để xây dựng vững chắc cảm hứng sống có đạo đức nhân
văn ở con người .
Nền văn học nào, nền
giáo dục nào không giúp được con người nhận ra các bệnh tâm hồn, không giúp con
người biết cách tự chữa trị có hiệu quả, thì đó là nền văn học, nền giáo dục
còn nhiều yếu kém.
Không thật lòng tôn trọng sự
lao động chân tay thì không biết yêu nhân dân; không biết yêu nhân dân
thì không thể có lương tri trong sáng, không thể có nhân cách cao.
Không ghét thói hối lộ thì
không yêu sự công bằng; không yêu sự công bằng thì không yêu dân ; không yêu
dân thì không yêu nước, không yêu nhân loại, không thật có tinh thần cách mạng.
Xây và chống, mà không
chống thói hối lộ - thói nhận hối lộ , là không chân chính.
Chưa có triết lý về giá trị
nhân sinh thì văn hoá - giáo dục còn khập khiễng, chính trị còn khập khiễng.
Thiền là tự tri, là siêu
vượt tín ngưỡng, hình tướng, khái niệm…, là sống tỉnh thức toàn diện với trí vô
sư, với trí tuệ siêu vượt quy định nhị nguyên (tức là sống với trí bát - nhã).
Về tôn giáo cũng như về các
lĩnh vực khác, rất nhiều người đạt đến đỉnh cao bằng con đường tự học, tự
đào tạo, bằng cách sống thông thường. Khát vọng lớn thì thành công lớn.
Có thể có tinh thần tôn giáo
mà không theo tôn giáo nào, tín ngưỡng nào.
Một người ngoại đạo có
thể sống khế hợp giác ngộ nếu có khát vọng. Ngộ đạo không khó, cái khó là có
khát vọng.
Một nguyên thủ quốc gia, một
nhà thơ, một bộ trưởng, một sĩ quan, một giáo sư... nếu mang nặng thói tham ô,
hối lộ, bè phái thì giá trị làm người không bằng một người ăn xin
lương thiện.
Người đảng viên không thật
lòng kính yêu nhân dân thì chỉ là kẻ “cơ hội chủ nghĩa” ích kỷ.
Không phải “danh ngôn” nào,
“lễ nghĩa” nào, “truyền thống” nào cũng giá trị, cũng đáng theo.
Bệnh thành tích sinh ra thói
dối trá, thói dối trá sinh ra sự thối nát.
Ở giữa vườn hoa, xác chuột
chết vẫn thối; ở giữa đầm bùn lầy, đoá sen vẫn thanh khiết.
Đồng tiền nhà nước là mồ hôi
của nhân dân, trong đó có cả mồ hôi của người ăn xin (vì người ăn xin cũng tiêu
thụ hàng hoá, tức là đã gián tiếp đóng thuế). Tham ô, lãng phí tiền nhà
nước là có tội với toàn dân.
Có những thứ “vinh quang”
dính đầy sự bẩn thỉu. Ai mới thấy hào quang danh lợi đã trọng vọng, đó là người
không minh mẫn, không biết chính tà.
Muốn giác ngộ chân lý tuyệt
đối, phải biết “đạt lý, quên lời”, không chấp thủ ngôn từ, hình tướng - dù hình
tướng thánh nhân.
Thiền định tự tri thì không
thuộc riêng tôn giáo nào hay nền văn hoá giáo dục nào; đó là tài sản cực kỳ quý
giá của nhân loại muôn đời, của vũ trụ.
Tu viện lớn, lễ lược nhiều
không có ý nghĩa bằng chăm lo chu đáo và khoa học cho sự tu tập và đời sống vật
chất của tu sĩ.
Bắt học sinh, sinh viên học
quá nhiều là bóc lột tuổi trẻ.
Sách báo là thầy, là bạn, là
nguồn cảm hứng.
Tư tưởng “trọng thầy khinh
thợ” là tư tưởng của hạng người yếu kém văn hoá (dù có bằng cấp cao, địa vị
cao), là tư tưởng của hạng người vong ân bội nghĩa đối với nhân dân lao động,
là tư tưởng phản giáo dục (dù đang làm nghề dạy học, lãnh đạo giáo dục).
Tham quyền cố vị thì không
yêu dân, không yêu nước.
Làm chính trị chân
chính thì đừng sợ bị chê bai, bị phê phán; không có lời chê bai, phê phán thì
khó nhận thấy khuyết điểm, sai lầm.
Cái đầu tham ô làm tổn thất
hơn một nửa chất xám cho công việc thuộc trách nhiệm của nó .
Nếu các cơ quan, các nơi
công cộng, các phương tiện truyền thông thường xuyên dùng khẩu hiệu để chống tham
ô, hối lộ, bè phái… thì các tệ nạn này sẽ giảm nhanh.
Phải thấy rằng nạn hối lộ là
một trong những kẻ thù nguy hiểm nhất của nhân loại, của đất nước.
Đôi tay thì đưa hối lộ và
nhận hối lộ, còn miệng thì ca tụng đường lối cách mạng, chắc chắn đó là kẻ “cơ
hội chủ nghĩa” độc hiểm, hay “chụp mũ” người tốt .
Thiền chân chính, tôn giáo
chân chính không thể không lấy “tự tri - tỉnh thức - vô ngã” làm lý tưởng, làm
mục đích. Đó là cốt tuỷ của Thiền học chân truyền, của hành trạng Đại thừa.
Truyền bá minh triết thiền
“tự tri - tỉnh thức - vô ngã” là góp phần xây dựng nền văn hoá hoà bình, nền
văn hóa tiên tiến.
Óc địa vị là biểu hiện của
bản năng quyền lực đậm nét thú tính; nó không biết quý trọng giá trị nhân cách.
Tuyên truyền quá nhiều về
giá trị của kinh tế, của văn minh vật chất sẽ làm cho giá trị của nhân cách,
của đạo đức, của văn minh tinh thần bị coi thường.
Khi đã biết sống với tâm vô
ngôn thì tuỳ duyên ứng xử, không bị quy định bởi bất cứ gì; đó là sự tự do tự
tại đích thực của tâm trí. Tâm Thiền là Chân -Thiện - Mỹ. Minh triết tối
thượng là biết dừng tâm và tịch chiếu.
Nặng óc cục bộ thì không yêu
dân, không yêu nhân loại; chỉ yêu cái “tôi”, luôn bao che những xấu ác.
Muốn chữa cơn bệnh nặng,
không thể chỉ uống vài lần thuốc. Muốn rèn luyện cơ thể, không thể chỉ cần một
vài buổi tập. Cũng vậy, muốn cải tạo những tính xấu thì phải có chương trình
học tập, rèn luyện lâu bền. Đây là điều mà ngành giáo dục cần quan tâm đúng mức
khi bàn đến chất lượng giáo dục, hiệu quả giáo dục, đào tạo cán bộ...(Giúp cho mọi
người có cảm hứng tự hoàn thiện nhân cách, đó là vấn đề cực kỳ quan trọng của
giáo dục, của văn hóa).
Khi sống muốn bao la cùng
trời đất thì khi chết sẽ không bị trói buộc vào chốn phiền não.
Khí kẻ ác tấn công ta, ta sử
dụng trí tuệ và lòng dũng cảm để đối phó với chúng; làm như thế thì có lợi hơn
là sử dụng lòng căm thù.
Vô ngã là tâm thái tịch tri,
tịch chiếu, thường tịch quang. Vô ngã là Chân ngã.
Đừng coi thường việc chữa
trị các bệnh tinh thần, vì nếu thế, văn minh vật chất và sự hưng thịnh kinh tế
chỉ như sức lực dồi dào của một gã khùng hung hãn, sẽ rất nguy hiểm cho nhân
loại.
Những người yếu kém văn hoá
(có thể có học vị cao, tri thức dày) thường coi khinh dân quê, coi khinh những
nghề lao động vất vả, thu nhập thấp. Tâm hồn họ bị xơ hoá, vô cảm, vong ân.
Được lên thiên đường bởi
niềm vui: niềm vui mang tính chất nhân từ. Bị xuống địa ngục cũng bởi “niềm
vui”: niềm vui mang tính chất gian ác.
Không quan tâm đến sự sống
sau khi thể xác chết là quá thờ ơ với tương lai.
Trong ta có “tấm gương” “nghe
và thấy” được tư tưởng, cảm giác, ý muốn... Tĩnh tâm một thời gian thì
tấm gương này sẽ lộ rõ. Nó càng sáng, ta càng dễ thấy cái “tôi” và cái “tôi” dễ
dàng được chuyển hoá thành “vô ngã”.
Tôn giáo có ý nghĩa lớn về
đạo đức, về cảm hứng, nhu cầu cải tạo tâm tính, nếu tôn giáo giàu từ bi bác ái
.
Gọi là “Thiền” hay từ nào
khác cũng được, điều quan trọng là cái nội hàm “tự tri - tỉnh thức - vô ngã”.
Thiền học không nên chỉ dạy
hạn chế ở một vài ngành đại học, mà nên phổ cập ở mọi cấp học để có nền
tảng vững chắc trong giáo dục - đào tạo nhân cách.
Cái “tôi” làm cho tâm hồn
nặng trĩu vì uy lực, còng xuống vì nô lệ, đen tối vì tự ti tự phụ, tự ái…
Thiền định tự tri càng cao
thì càng minh mẫn hơn, chủ động hơn với cuộc sống, với công việc; năng lượng
phiền não được chuyển hoá thành năng lượng an lạc, thiện ích .
Niệm (nhớ - nghĩ) luôn
xuất hiện trong tâm. Chúng 1à ngôn từ (tiếng nói bên trong) và có hình
tướng (sóng tâm thức). Trong thiền định (tự tri), ai thấy rõ niệm sinh diệt
liên tục, thấy rõ chỗ niệm xuất hiện và chấm dứt (tức là khoảng trống giữa hai
niệm) thì sẽ nhận ra (ngộ) tâm vô niệm, “vô ngôn”. Đó là tâm thể “một niệm vô
ngôn" như vầng trăng toả sáng. (“Niệm” trong “niệm vô ngôn" có huyền
nghĩa khác hẳn với “niệm” trong “vọng niệm”. Phải ngộ mới thấy, mới biết). Vô
ngôn đó khi đã “an định”, sẽ soi sáng muôn lời (tức là soi sáng trí phân
biệt tương đối), sẽ là tri giác tự do tự tại, thoát tình trạng vọng động
vô minh. Đó là “tánh sáng” bất sinh bất diệt.
Phải biết “ghét” bệnh
phong, nhưng đừng ghét người mang bệnh phong; cũng vậy, phải biết ghét
thói xấu nhưng đừng ghét người đang có thói xấu. Sự xấu ác là bệnh tinh thần .
Nếu chưa quán tâm (tự tri)
để thấy rõ tướng trạng như huyễn của bán ngã thì chưa biết “đọc kinh bằng
tâm”, chưa biết đọc công án Thiền.
Nhiệm vụ quan trọng nhất của
văn nghệ sĩ là giúp người khác biết sống với hạnh phúc trong sáng - thứ hạnh
phúc mà người văn nghệ sĩ chân chính phải có, nhà văn hoá chân chính phải có,
con người biết tự tin - tự trọng phải có.
Thỉnh thoảng có được một vài
phút sống với tâm vô ngôn cũng có công đức và phước đức rất lớn.
Giới hạnh là vấn đề khoa
học, vấn đề nhân quả. Chí hướng giác ngộ biết tôn trọng nhân quả, nhưng muốn
siêu vượt nhân quả, luân hồi.
Muốn có hiệu qủa cao trong
việc chống hối lộ - tham ô - bè phái, một đại nạn của thế giới, thì tôn giáo
phải vào cuộc với giới luật rõ ràng về vấn đề này.
Thói hối lộ sinh ra nhiều
tội ác nghiêm trọng.
Thấy - biết khác với hiểu.
Nếu thấy - biết của tâm chưa khế hợp với Bát Nhã Tâm Kinh thì chưa có Trí Bát Nhã.
Một trong những phương cách
giúp duy trì cảm hứng sống thiền là tọa thiền mỗi ngày. Không nên bỏ trắng ngày
nào cả (vì lý do gì đó cũng nên duy trì vài phút).
Tâm vô ngôn là sự tỉnh thức
toàn diện của sự sống.
Khoác lác, tự đại, tự ti,
khiêm tốn đều không có lợi cho Đạo .
Muốn đi sâu vào kinh sách về
Thiền, phải có năng lực đọc - hiểu và đọc - thấy. Thiền định tự tri làm xuất
sinh năng lực đọc - thấy. Đó là cái thấy nội tại.
Khi tâm hồn không có lý
tưởng thánh thiện và minh triết thì con người rất dễ bị cái xấu lôi cuốn, rất
dễ bị tha hóa biến chất.
Chưa thật thấy chúng sinh là
ân nhân của mình thì chưa có phẩm chất Bồ tát, chưa tỉnh thức.
Thể xác thì tất nhiên có sở
trụ, nhưng tinh thần thì cần “hướng đến” vô sở trụ .
Làm cho con người biết yêu
quý nét đẹp tâm hồn mình, đó là nhiệm vụ cao cả của văn hoá, của giáo dục, của
tôn giáo.
Thiền định tự tri là sống
tận nền tảng, tận cội nguồn sự sống.
Có duyên lành với nền văn
hoá giác ngộ là có diễm phúc cực kỳ lớn lao.
Không tôn trọng phương tiện
thăng hoa tâm linh của người khác thì chưa có tâm thái hòa bình, tỉnh thức .
Nếu đã thật sự phát khởi tâm
nguyện lớn (tâm Đại thừa) thì dù chưa triệt ngộ, vẫn có thể tuỳ
duyên sử dụng nghịch hạnh.
Khi triết lý giáo dục chưa
minh triết thì tất yếu dẫn đến suy yếu đạo đức nghề nghiệp ở người lao động,
suy yếu lương tri ở người cán bộ.
Càng tôn vinh quá độ các gíá
trị bản năng và công cụ (nhất là công cụ trí óc) thì thế giới càng đảo điên,
khốn đốn .
Người có tâm Đại thừa thì
vui mừng vì nhiều người biết hướng thượng, chứ không cố chấp “hơn thua" về
khái niệm, về từ ngữ.
Giáo dục “toạ thiền - quán
hơi thở - tự tri” là biện pháp tối ưu để nâng cao hiệu quả giáo dục, thăng hoa
tâm trí, cải thiện thế giới.
Thiền là sống tỉnh thức,
thực tế và minh triết.
“Vô niệm” để chấm dứt
trí nhớ tâm lý - thứ trí nhớ lấy cái “tôi”, cái chấp ngã làm trọng tâm.
Niềm tin nếu đi đôi
với sự chấp ngã nặng nề thì nuôi dường lòng kiêu ngạo sân si.
Không biết tu tâm thì không
thể phát triển nhân cách. Sự tu tâm chân chính là việc làm quan trọng, có ý
nghĩa lớn đối với xã hội, vũ trụ.
Không tự tri, tức quán tâm,
thì không thể thấy huyễn tướng cái “tôi”, tức bản ngã.
Sự giác ngộ đích thực thì đi
đôi với lòng từ bi, bao dung.
Khi dục vọng vô mình và sự
chấp ngã ngự trị thì không có tự do tinh thần.
Vô minh là trạng thái tâm
trí trụ vào kiến chấp nhị nguyên (nhị tướng).
Tự tri là hồi quang phản
chiếu, là nội quán .
(Đường về minh triết;
Tuệ Thiền; NXB Văn Nghệ, 2007).
(*)Giữ đúng nguyên
văn, nhưng tác giả có sắp xếp lại thứ tự trước sau.
**********
PHỤ LỤC 1:
Suy Nghĩ Về Một Vấn Đề Trọng Đại
*Tuệ Thiền
Lê Bá Bôn
Cốt lõi của cảm thức về ý
nghĩa cuộc sống, là cảm thức về giá trị của cái “tôi”, tức là “giá trị làm
người”.
Cốt lõi của giá trị làm
người có văn hóa (hiểu theo nghĩa rộng) là nhân cách.
Cốt lõi của nhân cách là đạo
đức.
Cốt lõi của đạo đức là
khuynh hướng thiện ích cho nhân loại, cho môi trường chung.
Kim chỉ nam của khuynh hướng
thiện ích là tâm trí tỉnh thức - vô ngã.
Điều kiện để đạt được ít
nhiều sự tỉnh thức - vô ngã là tự tri tự giác (tức quán tâm, biết tâm ý trọn
vẹn), là thiền định.
Muốn tự tri tự giác phải có
khát vọng lớn, phải có sự liêm khiết trí thức, phải có nhãn quan minh triết.
(Những điều này không lệ thuộc ở học vấn nhiều hay ít, vì có nhiều phương cách
để bồi dưỡng văn hoá).
Tóm lại: “Tự tri -
tỉnh thức - vô ngã” là đạo lý của vũ trụ, là mẫu số chung của ý nghĩa cuộc
sống, là Thiền; mang năng lượng tích cực có lợi cho toàn vũ trụ, cho sự thăng
hoa trí tuệ - tâm linh chung của tất cả.
(Đường về minh triết)
************
PHỤ LỤC 2:
An Lạc Với Nhân Cách
Tự-Do-Tinh-Thần (*)
*Tuệ Thiền Lê Bá
Bôn
Trí thân mến,
Tôi đã đọc kĩ thư của em. Em
đang chán đời vì không có điều kiện để học đại học. Em đang mang nặng mặc cảm
tự ti.
Tôi viết thư này không nhằm
an ủi em, mà để trách em. Tôi trách em vì em quá kém nhận thức về ý nghĩa cuộc
sống, về giá trị làm người.
Vì tôi đã tốt nghiệp đại học
nên tôi hiểu rằng, mục đích chính của việc học đại học là để sau này có năng
lực làm công việc mình chọn. Học về chuyên môn là để tạo tác, để lao động. Vậy
thì nếu em không có điều kiện để học đại học, em vẫn có thể học một nghề nào đó
ở tư nhân, hoặc ở các trường chuyên nghiệp trung cấp, hoặc tự học để sau này có
năng lực làm công việc gì đó, để lao động sản xuất… Tại sao lại chán đời, lại
ôm ấp mặc cảm tự ti?! Thật đáng trách.
Mọi năng lực tạo tác đều chỉ
có ý nghĩa công cụ. Trí lực để tạo tác là trí-công-cụ. Công cụ dù “đắt tiền”
hay “rẻ tiền” cũng chỉ là công cụ. Người thật sự hiểu biết sâu rộng thì không
đánh giá con người qua công cụ. Cái tạo nên giá trị làm người ở trong xã hội là
nhân cách. Có nhân cách lớn (nhân cách tự-do-tinh-thần) là do có
trí-tuệ-nhân-văn cao, có trí-lương-tri trong sáng, có năng lực học hỏi để tự
giáo dục-đào tạo, tự chuyển hoá nhằm hướng thiện hướng thượng.
Không có người chân chính
nào lại kính trọng một bộ trưởng nặng óc bè phái ích kỉ, một giám đốc tham ô,
một giáo sư nhận hối lộ, một bác sĩ vô lương tâm, một nhà thơ đồi truỵ, một sĩ
quan hách dịch…
Không có người chân chính
nào lại coi rẻ một y tá giàu y đức, một công nhân xây dựng có tinh thần trách
nhiệm cao, một nông dân không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trái quy định (vì
biết tôn trọng sức khoẻ người tiêu dùng)…
Tâm trí trong sáng mang năng
lượng tích cực có lợi cho bản thân và toàn vũ trụ. Tâm trí đen tối thì tạo ảnh
hưởng xấu…
Trí thân mến,
Tôi hi vọng, qua trình bày
trên, em nhận thức được những sai lầm trong tư tưởng của em.
Tôi biết rằng, hiện nay
trong xã hội có một bộ phận lớn đang sống theo thứ nhân sinh quan lệch lạc.
Trong số đó cũng có nhiều người có học vấn cao, có chức vị cao. Mặc dù vậy, em
phải tỉnh táo, đừng dại gì hạ thấp nhân cách để chạy theo quan niệm sống tầm
thường của họ.
Em phải ngẩng cao đầu để thắp
sáng lương tri, lương tâm, nhân cách. Những phẩm chất cao quý này sẽ là người
thầy quan trọng hướng dẫn em chọn lựa một nghề nghiệp, một việc làm thích hợp
với điều kiện thực tế của em. Những phẩm chất này cũng sẽ làm nảy sinh nhu cầu
học hỏi, tự học để nâng cao tay nghề, nâng cao năng lực nghiệp vụ. Rất nhiều
tài năng lớn do tự học mà nên…
Có ai đó đã nói rất đúng
rằng, không có công việc (hợp pháp) nào thấp hèn hơn công việc nào; chỉ có sự
yếu kém nhân cách là thấp hèn.
Mong em biết kính yêu nhân
cách, biết nâng cao lòng tự trọng tự tin để sống lạc quan minh triết.
Mong em luôn nhớ rằng, giá
trị làm người là ở nhân cách tự-do-tinh-thần, chứ không phải ở “công cụ”. Có
nhân cách đó, ta luôn sống khế hợp thiện-ích-mĩ.
Thân ái chào em.
--------------------
(*)Ở trong tác phẩm Đường
Về Minh Triết, bài này có tựa đề là: Cần Biết Kính Yêu Nhân Cách.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét