22 thg 7, 2014

Bí ẩn cuốn sách gối đầu giường của Steve Jobs

- Cuốn sách được Steve Job đọc lần đầu tiên ở tuổi thiếu niên, đọc lại một lần nữa khi ông ở Ấn Độ, và sau đó mỗi năm đọc lại hai lần. Đây cũng là cuốn sách duy nhất ông tải về trên chiếc iPad 2 của mình - "An Autobiography of a Yogi".

"Tự truyện của một Yogi" được xem như tác phẩm tâm linh quan trọng bậc nhất của thế kỉ 20, trong đó hé lộ những bí mật lần đầu tiên được tiết lộ về các bậc thầy tu luyện Yoga huyền bí.


Năm 1920, Paramanhasa Yogananda - một bậc đại sư của dòng tu Swami (Ấn Độ) đã lên đường sang Mỹ truyền bá triết lý và phương pháp Yoga ở phương Tây. Theo cuốn sách ông thuật lại, các vị thầy của ông đã tiên tri trước được điều này. Tác phẩm của bậc thầy Yoga này - sau khi bị từ chối bởi nhiều nhà xuất bản bởi những hiện tượng siêu thực ông mô tả trong bản thảo - cuối cùng cũng đã ra mắt công chúng vào năm 1946.
Paramanhasa Yogananda, Tự truyện của một Yogi, An Autobiography of a Yogi, Steve Jobs
"Tự truyện của một Yogi" bản tiếng Việt ra mắt tháng 6/2014.

Độc giả và báo giới Mỹ này đã nhanh chóng được đón nhận "Tự truyện của một Yogi" với niềm háo hức không ngờ, đầy sự khen ngợi và cảm kích. Mặc dù dưới con mắt của những nhà duy vật, những chứng nghiệm mà bậc thầy Parahanhasa Yogananda thuật lại thật khó tin, nhưng NXB Đại học Columbia ngày đó đã viết trong tạp chí Review of Religions của mình: "Trước đây chưa từng có cái gì, được viết bằng tiếng Anh hay thứ tiếng nào khác, giống như bản giới thiệu về yoga này".

Nó được dán nhãn như là tác phẩm tâm linh quan trọng bậc nhất của thế kỉ 20, sau này càng trở nên nổi tiếng hơn khi được biết như cuốn sách gối đầu giường của nhà sáng lập Apple nổi tiếng - Steve Jobs. 

Walter Isaacson, người viết tiểu sử của Steve Job thuật lại, cuốn sách được Steve Job đọc lần đầu tiên ở tuổi thiếu niên, đọc lại một lần nữa khi ông ở Ấn Độ, và sau đó mỗi năm đọc lại hai lần. Đây cũng là cuốn sách duy nhất ông tải về trên chiếc iPad 2 của mình - "
An Autobiography of a Yogi".

Bản tiếng Việt của tác phẩm dày gần 600 trang khổ lớn, chứa nhiều chi tiết được mô tả kĩ lưỡng từ khi Yoganada còn là một đứa trẻ với tên khai sinh là Mukunda, sinh ra tại bang Uttar Pradesh, phía Bắc Ấn Độ. Từ nhỏ, cậu bé đã nhận ra trong kí ức của mình có những nét xa xưa của tiền kiếp khi còn mà một yogi (*) trên rặng Himalaya tuyết phủ. Chỉ vài năm sau, Mukunda được chữa khỏi bệnh nhờ uy lực từ bức ảnh của Lahiri Mahasaya - học trò của Babaji (Yogi Chúa của Ấn Độ), cậu bắt đầu nhận được các linh ảnh và thông điệp từ các yogi khác trong khi ngồi thiền định. 

Paramanhasa Yogananda, Tự truyện của một Yogi, An Autobiography of a Yogi, Steve Jobs
"Tự truyện của một Yogi" được biết như cuốn sách đọc suốt đời của Steve Jobs, kể từ khi ông tiếp xúc với tác phẩm này hồi trẻ.

Con đường tu tập của Mukunda cũng không bằng phẳng. Mặc dù tràn ngập sự sùng đạo trong mình nhưng chàng trai trẻ tuổi cũng không ít lần bỏ ngoài tai những lời tiên tri của sư phụ mình, cho đến khi chúng dần được chứng nghiệm trong thực tế. Sau khi tốt nghiệp đại học theo nguyện vọng của cha, Mukunda mới chính thức bước vào con đường tu hành. 

Vâng lời người thầy đi trước, Yogananda lập ra một trường học kết hợp việc giảng dạy kiến thức lẫn rèn luyện thể chất, các tư tưởng tâm linh với thực hành Yoga. Các giờ học chủ yếu diễn ra ở ngoài trời. Trường học của Yogananda ngày càng thu hút đông môn sinh, đồng thời trên con đường tu tập, bậc đại sư cũng được chứng nghiệm ngày càng dày thêm những điều thần bí. Ông đã diện kiến từ những yogi nổi tiếng trong thời đại của ông cho đến những yogi huyền thoại trong quá khứ, và cả những người con kiệt xuất của Ấn Độ mà sử sách còn ghi - như Tagore - nhà thơ đoạt giải Nobel năm 1913, Mahatma Gandhi - anh hùng dân tộc Ấn, người đã quyết tâm theo đuổi con đường đấu tranh bất bạo động giành độc lập. 

Một chương đáng ngạc nhiên nữa trong tác phẩm "
Tự truyện của Yogi" là không những nó thuật lại những chứng nghiệm siêu nhiên, mà nó còn chứng nghiệm Tinh thần siêu nhiên qua những phát kiến của khoa học phương Tây. Yogananda viết rằng con người khổ sở vì bị mắc vào tính nhị nguyên (hai mặt) - một quy luật của maya vũ trụ bởi không đi tìm về tính nhất thể, tính duy nhất của Thượng đế.

Con người - dựa vào khoa học - ngày càng khám phá nhiều hơn về vũ trụ nhưng cũng đồng thời  ngày càng hoang mang hơn. "Khoa học, vì vậy mà sẽ còn phải đổi thay không ngừng, không thể đạt đến đích cuối; thực ra đủ sức để khám phá các định luật của một vũ trụ đã tồn tại và vận hành nhưng lại bất lực không thể phát hiện được Đấng làm luật và Đấng vận hành duy nhất". 

"Vượt lên trên nhị nguyên tính của sáng tạo và nhận thức được sự nhất thể của Đấng sáng tạo được quan niệm là mục đích cao cả nhất của con người. Kẻ nào bám víu vào cái ảo ảnh vũ trụ thì phải chấp nhận quy luật đối lập cơ bản của nó: thăng và trầm, hưng thịnh và suy vong, ngày và đêm, lạc thú và đớn đau, thiện và ác, sinh và tử.

Khuôn dạng có tính chu kì này sẽ khoác một vẻ nhàm chán giày vò nhất định khi con người đã đi qua vài ngàn lần đầu thai làm người... Chừng nào con người còn bị lệ thuộc vào những huyễn hoặc nhị nguyên của Thiên nhiên thì Maya mang khuôn mặt Janus vẫn còn là nữ thần của anh ta; anh ta sẽ không thể thấy Thượng đế đích thực và duy nhất
". 

Paramanhasa Yogananda, Tự truyện của một Yogi, An Autobiography of a Yogi, Steve Jobs
Chân dung Paramanhasa Yogananda - một bậc đại sư của dòng tu Swami (Ấn Độ) sang Mỹ năm 1920 để truyền bá tinh thần Yoga.

Cuốn sách của Yogananda cho biết, các bậc đại sư thường chọn đường tu hành ẩn dật và giấu kín những chứng nghiệm linh thiêng cũng như cuộc đời mình nhưng bản thân Yogananda đã được trao cho sứ mệnh kết nối tinh thần của Đông - Tây bằng việc tiết lộ những điều có thể tiết lộ và dùng cuộc đời mình như một minh chứng cho những người phàm về sự tồn tại của Tinh thần và Thượng đề. 

Đứng giữa nền văn minh nước Mỹ đầu thế kỉ 20, Yogananda đã thu nhận nhiều đệ tử danh tiếng và sau khi cuốn sách được phát hành, hàng triệu người phương Tây đã đi theo tiếng gọi của Yoga. Năm 1952, sau khi Yogananda  nhập định, ông Harry T. Rower, giám đốc nhà tang lễ đã gửi một bức thư xác nhận cho NXB của cuốn sách này về trường hợp duy nhất mà họ từng chứng kiến "Không có sự phân hủy vật chất nào được thấy trên thi hài ngài dù đã 20 ngày sau khi chết". 

Hồ Hương Giang

(*) Yogi: Người luyện yoga, sự "hợp nhất" tri thức cổ xưa để trầm tư về Thượng đế. 
post 22/7/14

18 thg 7, 2014

Nhà thơ Việt Phương ở Geneva

TP - Tôi nhấn chuông một căn hộ ở khu Hoàng Cầu, Hà Nội. Mở cửa là nhà thơ Việt Phương, người còn lại trong 5 người của phái đoàn đàm phán Hiệp định Geneva gồm 32 vị. Lanh lẹ, mẫn tiệp và thông tuệ. Khó ai nghĩ ông đang ở tuổi 86.
Vẫn đậm trong tâm trí lần gặp đầu tiên cách đây đã lâu cùng câu chuyện ông trở thành thư ký riêng cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
Tên thật là Trần Quang Huy, con trai út của một gia đình bố làm nghề giáo, mẹ chạy chợ bán rau ở phố Mai Hắc Đế, từng học trường Bưởi trở thành người lính Vệ quốc đoàn xung phong Nam tiến đợt đầu tiên và trở thành Chính ủy Trung đoàn khi mới 18 tuổi là cả một câu chuyện dài…
Khung cảnh của buổi ký kết hiệp định Geneva.  Ảnh: Tư liệu
Năm 1947, tại khu Năm tiến hành Đại hội thành lập Đoàn thanh niên Cứu Quốc Nam Trung bộ. Ông Phạm Văn Đồng khi đó là đại diện Chính phủ tại Trung bộ kiêm Bí thư­ Đảng khu Năm đến dự đại hội. Một cuộc gặp trước với những đại biểu có tham luận trong đại hội, đồng chí Phạm Văn Đồng để ý thấy đại biểu Quân đội là một thanh niên trẻ măng đã không có bản báo cáo sẵn như­ nhiều đại biểu khác theo quy định.
“Đồng chí bao nhiêu tuổi?”. “Báo cáo tôi mười tám tuổi ạ!”. “Tại sao đồng chí không chuẩn bị bản báo cáo như­ các đồng chí khác?’’. “Báo cáo tôi quen nói miệng rồi’.’ Đồng chí học lớp mấy?’’ “Báo cáo tôi tốt nghiệp tú tài phần thứ nhất...’’. “Đồng chí nói đ­ược tiếng Pháp, tiếng Anh?’’. “ Thư­a, được ạ...’’. 
Bản tham luận “miệng’’ sau gần hai mư­ơi bản tham luận khác trong đại hội có phần “trội’’ chả hẳn súc tích sinh động mà người trình bày nó bằng lối nói khúc chiết rành rẽ và có phần ... hùng biện nữa đã gây ấn tượng. Cựu học sinh trư­ờng Bưởi Phạm Văn Đồng gặp tân học sinh trường Bưởi Trần Quang Huy hay “lý do’’ gì không biết nữa... Như­ng đó cũng là thời điểm Đảng ủy viên kiêm Chính ủy Trung đoàn 95 Trần Quang Huy trở thành ngư­ời giúp việc của đồng chí Phạm Văn Đồng với tên gọi mới Việt Phư­ơng!
Năm 1954, đang công tác ở chiến khu Tuyên Quang, thư ký Việt Phương khi đó tròn 26 tuổi nhận lệnh tháp tùng Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng để đi Geneva. Đoàn đại biểu chính thức có Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan, Phan Anh, Tạ Quang Bửu, Trần Công Tường.
Gạn thêm nhận xét về thành viên của phái đoàn chính thức, ông bộc bạch, ông Hoàng Văn Hoan thì Hán học; Luật sư Phan Anh, bằng Tiến sĩ Kinh tế, tiến sĩ Luật; Tạ Quang Bửu, từng tu nghiệp ở Pháp có tới 5 bằng kỹ sư; Trần Công Tường, Tiến sĩ Luật học.
Đoàn tùy tùng gồm 32 người. Hiện 5 người còn sống. Ông nói mới có cuộc hội ngộ ở Hà thành với Đại tá Hà Văn Lâu ở phía Nam bay ra năm nay tuổi tròn 96. Cụ Lê Danh khi đó phụ trách lễ tân đã 87. Ông Đoàn Đỗ là văn thư của Đoàn cũng chẵn 88. Người trẻ nhất còn lại là cụ Nguyễn Lanh tuổi cũng đã 82. Tại cuộc lễ trọng nhà nước kỷ niệm 60 năm Hiệp định Geneva trong đó có thủ tục phong tặng Danh hiệu Anh hùng LLVT cho Quân đội nhân dân Việt Nam và Phái đoàn đàm phán Geneva, thành viên thư ký Đoàn kiêm thư ký riêng của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhà thơ Việt Phương sẽ thay mặt cho nhóm 5 cụ còn sống vinh dự được lên phát biểu và nhận phần thưởng cao quý này cho phái đoàn đàm phán.
Nhà thơ Việt Phương. ảnh: Xuân Ba
Hồi ức của ông dần dà phát lộ làm câu chuyện buổi chiều tại nhà riêng thêm sinh sắc. Thành viên của Đoàn hồi ấy khá phong phú. Dường như những người tài, ưu tú đều được huy động sử dụng? Có hai ông bác sĩ, BS Bùi Sĩ Quốc khi đó đang làm nhiệm vụ ở Liên Xô phụ trách Cục Quân Y và BS Nguyễn Trinh Cơ, Hiệu phó ĐH Y. Chuyên môn ít khi được sử dụng (vì anh em đều mạnh khỏe) mà tiếp khách là chính. Hai vị này tiếng Pháp rất giỏi!
Đoàn có 2 bảo vệ. Ông Nguyễn Minh Tiến sau này là Thứ trưởng thường trực Bộ Công an. Ông Lê Hữu Qua năm 1946 từng tham gia phá vụ án Ôn Như Hầu. Việc bảo vệ an ninh cho Đoàn hầu hết đều do Thụy Sĩ đảm trách.
Lại chu đáo có cả lái xe. Mà được lựa chọn cẩn thận. Đó là ông Ngọc Nền lái xe riêng cho Bác Hồ. Thời gian ông Nền ở Geneva, lái xe của ông Phạm Văn Đồng được thế vào vị trí đó. Nhưng cũng để phòng thôi bởi ở Geneva có xe đâu mà lái, ông Nền được phân công làm quản lý cho Đoàn.
Hơn 70 ngày đêm của thời gian họp, từ 8/5 đến 21/7/1954, như ông đương rủ rỉ là vô số những cam go căng thẳng do chịu sức ép từ nhiều phía của một Hội nghị quốc tế có đến 9 bên tham gia mà mỗi bên đều có toan tính và lợi ích riêng của mình. Hoạt động của Đoàn Việt Nam là một hành trình đấu trí đấu lực căng thẳng. Đã phải chắt chiu giữ vững từng bước tiến nhỏ. Cẩn thận cân nhắc từng câu, chữ trong các dự thảo văn kiện. Nhưng cũng có những lúc thư giãn. Tranh thủ chơi thể thao, tham quan một vài danh lam thắng cảnh ở Geneva. Lại hướng dẫn cho đầu bếp nước ngoài chế món phở Việt. Có lần mấy anh em đi ô tô từ Thụy Sĩ sang đất Pháp nhìn cảnh nhìn người được lính Pháp canh biên giới hoan nghênh và mời sang.
Giọng ông trầm xuống khi nhắc đến 4 yếu nhân trong Bộ Tư lệnh chiến dịch Điện Biên Phủ đã qua đời. Rồi trong 8 người chỉ huy của 4 sư đoàn chủ lực, 7 tướng đã mất chỉ còn lại vị chỉ huy sư đoàn pháo binh. Tất cả 5 thành viên chính thức của Đoàn đại biểu Việt Nam tại Geneva đều đã mất. Trong 32 chuyên gia cán bộ nhân viên của Đoàn hiện chỉ còn 5 người.
Trong câu chuyện, ông cũng đề cập đến những cuộc đi đêm của Trung Quốc với Pháp tại Geneva đã được Đoàn ta báo cáo về nước nên ở nhà đã nắm được thông tin nên không hề bất ngờ!
Bất ngờ? Là thời gian đó có một cuộc gặp hẹp bí mật của ông Chu Ân Lai, Trưởng đoàn Trung Quốc với Bác và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Liễu Châu, Trung Quốc. Chu Thủ tướng đột nhiên đưa ra phương án lấy vĩ tuyến 17 có sông Bến Hải làm ranh giới tạm thời (nghĩa là khá xa lên phía Bắc với phương án đề xuất của ta). Bác và Đại tướng không đồng ý, Chu Ân Lai đã phát biểu thế này, xin lĩnh ý của Chủ tịch và Đại tướng nhưng xin Chủ tịch và Đại tướng thông cảm. Chúng tôi là tướng ngoài biên ải (ý nói ở mặt trận Geneva) nên được tùy ý quyết định!?
Chất giọng trong rõ cố hữu của nhà thơ như vỡ rè khi ông nhắc đến thời điểm lúc 24 giờ ngày 20/7/1954 Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam được ký kết. Rồi ngày 21/7, Hội nghị họp phiên toàn thể để đọc bản Tuyên bố cuối cùng gồm 13 điểm nội dung là tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Các đại biểu đọc diễn văn bế mạc cam kết tôn trọng Hiệp định Geneva. 
Có lẽ ám và hằn lâu hơn trong tâm trí người thư ký riêng ấy hình ảnh người thủ trưởng của mình trong phiên họp cuối cùng ngày 21/7. Trong lúc các trưởng đoàn phát biểu về kết quả Hội nghị, nhiều vị tỏ vẻ hài lòng về Hiệp định đã đạt được, Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng vẻ mặt ưu tư đã chọn một tư thế… Tư thế mà nhà thơ Việt Phương tả thế này, ông Phạm Văn Đồng ngoảnh về hướng Nam, nơi có Tổ quốc Việt Nam với những lời xúc động Đoàn ta đã cố gắng hết sức mình nhưng mới chỉ giành lại một nửa đất nước phía Bắc sông Bến Hải. Cuộc chiến đấu của dân tộc ta sẽ còn phải tiếp tục lâu dài…
Người thư ký riêng năm ấy của Thủ tướng ngừng lời… Trong căn phòng tĩnh mịch im lặng dường như có lời nhắc, trước hiểm họa âm mưu của Mỹ chia cắt lâu dài đất nước, trước những toan tính và lợi ích riêng của các nước lớn dự Hội nghị. Mà ta lại đang ở thế cô…
Hòa bình lập lại ở miền Bắc nhưng hòa bình phải gắn liền với Độc lập tự do và toàn vẹn lãnh thổ. 
Dường như những ngậm ngùi cay đắng cùng kinh nghiệm xương máu ấy đã được vận vào những trạng huống Hội nghị Paris sau này? Và bây giờ ở biển Đông nữa? 
Câu chuyện của ông khiến tôi nhớ đến hồi ức của một cán bộ làm việc gần Bác Hồ.
Sau thời điểm Hiệp định Geneva. Tối hôm đó, Bác tiếp đoàn đại biểu miền Nam do luật sư Phạm Văn Bạch, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Nam bộ dẫn đầu. Sang phần văn nghệ tự biên tự diễn đã thành lệ trên chiến khu mỗi khi họp Hội đồng chính phủ, Bộ trưởng Phan Anh, nguyên là thành viên phái đoàn đàm phán Geneva đứng lên ứng khẩu:
Tiệc vui Nam Bắc một nhà /Quân dân, lương giáo bên Cha sum vầy/Chén mừng nhớ bữa hôm nay/Chén vui thống nhất ngày này hai năm.
Cử tọa vỗ tay nhiệt liệt. Bác cũng vỗ tay, nhưng đợi lúc ra về, Người vỗ vai ông Phan Anh nói nhỏ: Thơ “thầy cãi” khi nãy tứ hay nhưng có một ý mình chưa tiện bình. Lạc quan tếu đấy. Lúc này nói ra rộng rãi chưa có lợi. Với riêng tác giả, mình bình thế này:
Đấu tranh thống nhất ắt dài /Hy sinh gian khổ chẳng vài năm đâu! Hai mươi năm nữa là mau. 
Những ý tưởng lớn thường gặp nhau? Người đứng đầu Trung ương Cục miền Nam Lê Duẩn khi nhìn thấy hình ảnh những người tập kết hân hoan giơ hai ngón tay ra dấu hai năm nữa sẽ Tổng Tuyển cử thống nhất đất nước, ông đã khóc! Và chiều ấy, Lê Duẩn đã lên con tàu Ba Lan chở người tập kết trước sự chứng kiến của đông đảo báo chí nhưng đến đêm đã lặng lẽ bí mật xuống một chiếc ca nô trở lại bưng biền. Ông ôm hôn ông Lê Đức Thọ anh ra nói với Bác hai mươi năm nữa mới gặp nhau…
Và Nghị quyết 15 (Nghị quyết Hội nghị 15 của BCH T.Ư Đảng tháng 1/1959, xác định phương thức cách mạng Miền Nam là dùng bạo lực cách mạng đấu tranh vũ trang) đã ra đời như thế đó!   
Đêm 17/7/2014
Cầm tập thơ Nắng của nhà thơ Việt Phương mới xuất bản mà ông tặng, chợt nhớ thêm câu thơ ông viết trong Cửa Mở ngày nào… Như gẫm thêm những thông điệp mới
Ta đã thấy những chỗ lõm lồi trên mặt trăng sao
Những vết bùn trên tận đỉnh chín tầng cao
Năm xưa ta vô tình tô đẹp cuộc đời để mà tin
Nay ta càng thêm tin mà không cần tô gì nữa cả
Quen thuộc rồi mọi bất ngờ kì lạ
Ta đã trả giá đau và ta đã học nhìn
post 18/7/14 

16 thg 7, 2014

60 năm ký kết Hiệp định Genève - Kỳ 2:

Cảnh giác với âm mưu phân ly, chia rẽ

16/07/2014 13:20 (GMT + 7)
TT - Mỗi sự kiện lịch sử đều diễn ra trong hoàn cảnh lịch sử nhất định, rất khó phán xét theo cách đặt nghi vấn “giá như”.

Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Chu Ân Lai tại Genève năm 1954 - Ảnh: tư liệu
Là hậu thế, tôi không nắm được những thông tin chuẩn xác xem thực lực của ta tới đâu, còn bao nhiêu quân, vũ khí đạn dược ra sao, do đó rất khó phán xét.
Tuy nhiên, có thể hình dung hoàn cảnh lúc bấy giờ là mặc dù đã thắng lớn ở Điện Biên Phủ nhưng cũng chưa đủ sức tiến lên giải phóng ngay cả nước.
Không mơ hồ, ảo tưởng
"Các nước lớn đóng vai trò rất quan trọng trong việc dàn xếp các cuộc xung đột mang tính quốc tế và nhiều khi họ sử dụng các vấn đề của thiên hạ để phục vụ cho những tính toán của riêng mình"
Điện Biên Phủ là trận thắng lớn mà ta đánh tan một tập đoàn cứ điểm nhưng địch còn chiếm giữ hầu hết các thành phố lớn; để giải phóng được chắc phải có thời gian và điều kiện vật chất cần thiết không thể có ngay.
Hơn nữa, các “ông bạn lớn” chủ trương hòa hoãn với phương Tây, nói nhẹ ra thì chắc gì viện trợ lớn, nhất là khí tài hạng nặng để ta có thể thực hiện việc này?
Trong khi đó Mỹ lăm le nhảy vào Đông Dương và điều này không phải nói suông mà thực tế Mỹ đã làm như vậy ngay sau khi Hiệp định Genève được ký kết. Trong hoàn cảnh như vậy, ta không có nhiều dư địa để chọn lựa.
Sau Hội nghị Genève, trong nội bộ ta không phải không có tâm tư này nọ, chẳng thế mà Bác Hồ đã phải chấn chỉnh cả những biểu hiện của tư tưởng “tả khuynh” lẫn “hữu khuynh”.
Người chỉ ra rằng những phần tử tả khuynh thấy thắng, muốn đánh bừa, đánh đến cùng, chỉ thấy cây không thấy rừng, chỉ thấy Pháp không thấy Mỹ muốn kéo dài chiến tranh, quốc tế hóa vấn đề Đông Dương, họ đề ra những khẩu hiệu quá cao, việc gì cũng muốn mau, không biết rằng đấu tranh cho hòa bình cũng gay go, phức tạp; còn những phần tử hữu khuynh thì bi quan tiêu cực, nhân nhượng vô nguyên tắc, không tin tưởng vào lực lượng của nhân dân, chỉ muốn cuộc sống dễ dàng.
Ngay sau khi Hiệp định Genève được ký kết, Trung ương Đảng ta đã ra Lời kêu gọi, trong đó nhấn mạnh: “Chúng ta phải ra sức phấn đấu để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc...
Toàn dân, toàn quân và toàn Đảng ta phải hết sức tỉnh táo đề phòng, luôn luôn nâng cao chí khí chiến đấu, ra sức khắc phục những tư tưởng chủ quan, khinh địch, cầu an, thỏa hiệp, tự mãn, tự kiêu”.
Xem như vậy ta không mơ hồ, ảo tưởng, không rời bỏ các mục tiêu cơ bản, lâu dài mang tính chiến lược. Toàn bộ cuộc chiến đấu anh dũng trong 20 năm sau đó cho tới thắng lợi lịch sử năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước đã chứng tỏ rõ điều đó.
Câu chuyện liên quan Lào, Campuchia
Sở dĩ phải làm rõ chuyện liên quan đến Lào và Campuchia là vì Hội nghị Genève bàn về cuộc chiến tranh ở Đông Dương nói chung chứ không riêng về Việt Nam.
Không những vậy, từ đó tới nay nhiều thế lực luôn xuyên tạc sự thật, đổ lỗi cho ta “bỏ rơi” các lực lượng kháng chiến Lào và Campuchia hòng chia rẽ ba nước.
Vậy sự thật thế nào? Bước vào Hội nghị Genève, ta đã mạnh mẽ đòi hỏi hai điều: Một là, phải mời đại diện các lực lượng kháng chiến ở Lào và Campuchia tham dự (thậm chí đại diện của họ là các ông Nu Hắc từ Lào và Keo Pha từ Campuchia đã có mặt tại Genève); hai là, phải xem xét cả ba vấn đề Việt Nam - Lào - Campuchia trong một tổng thể.
Bài diễn văn của trưởng đoàn VNDCCH Phạm Văn Đồng tại phiên họp toàn thể đầu tiên dành trọn cho vấn đề Lào và Campuchia theo tinh thần trên chứ không phải về Việt Nam.
Những đòi hỏi trên đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các phiên sau. Lúc đầu cả Liên Xô lẫn Trung Quốc đều ủng hộ chủ trương của ta, còn phương Tây đương nhiên bác bỏ thẳng thừng.
Tuy nhiên, theo cuốn sách Chu Ân Lai và Hội nghị Genève thì “tới trung tuần tháng 5, Chu Ân Lai đã xác định rõ không thể dùng kế hoạch cả gói để giải quyết vấn đề Đông Dương, cách tốt nhất là phân biệt đối xử” và ngày 27-5, hãng thông tấn chính thức của Trung Quốc là Tân Hoa xã công khai công bố lập trường chính thức của Trung Quốc là: “tình hình của ba nước Đông Dương Việt Nam - Campuchia - Lào hoàn toàn khác nhau... vì vậy biện pháp giải quyết cũng sẽ không giống nhau...”.
Ông Chu Ân Lai đã ra sức thuyết phục ông Phạm Văn Đồng theo hướng này. Và đặc biệt là chiều 20-6-1954, ông Chu Ân Lai đã tiếp đãi ngoại trưởng chính quyền Phnom Penh rồi ngoại trưởng chính quyền Vientiane tại biệt thự của mình để trao đổi về giải pháp và mối bang giao giữa hai nước này với Trung Quốc.
Kết quả là theo Hiệp định Genève, quân đội nước ngoài phải rút khỏi hai nước Lào và Campuchia, không được đưa vũ khí, nhân viên quân sự trở lại và không được lập căn cứ quân sự nước ngoài.
Quân Pa-thét Lào tập kết về hai tỉnh Sầm Nưa, Phôngsalỳ và phía Bắc Luông Phrabăng ở Thượng Lào chờ giải pháp chính trị theo phương án của Trung Quốc (đoàn ta đề nghị tập kết về các tỉnh dọc theo biên giới Lào - Việt nhưng không được chấp thuận). Đối với Campuchia không có vùng tập kết mà quân kháng chiến phải hòa nhập vào quân đội hoàng gia.
Những sự thật lịch sử nói trên cho thấy rõ vấn đề Lào và Campuchia được giải quyết thế nào và do đâu.
Giành thắng lợi từng bước
Người ta thường nói trên bàn đàm phán chỉ có thể đạt được những gì đã giành được trên chiến trường. Có lẽ nên bổ sung thêm cụm từ “trên chính trường”, bởi lẽ các thỏa thuận ngoại giao liên quan tới chiến tranh thường phản ánh tổng hòa các nhân tố quân sự, chính trị, kinh tế, thậm chí cả văn hóa, xã hội của các bên tham chiến và những chuyển động trên bàn cờ quốc tế. Hiệp định Genève năm 1954 đúng là như vậy và điều này đã lặp lại qua Hiệp định Paris năm 1973.
Muốn hay không các nước lớn đóng vai trò rất quan trọng trong việc dàn xếp các cuộc xung đột mang tính quốc tế, và nhiều khi họ sử dụng các vấn đề của thiên hạ để phục vụ những tính toán của riêng mình.
Đối với Hội nghị Genève năm 1954 và cả đối với các hội nghị quốc tế về Lào và Campuchia đều có nhân tố này. Nhận thức rõ điều này và rút kinh nghiệm Hội nghị Genève, ta đã kiên trì chủ trương độc lập, tự chủ theo tinh thần “việc của ta do ta giải quyết” trong suốt quá trình chuẩn bị, tiến hành và kết thúc cuộc hòa đàm Paris từ năm 1968 tới 1973.
Luôn phải đối phó với các thế lực hùng mạnh gấp bội về vật chất, chúng ta đã phải giành thắng lợi từng bước, đánh đổ từng bộ phận nhưng kiên định các mục tiêu lâu dài và cơ bản. Chủ trương “hòa để tiến” năm 1946, Hiệp định Genève năm 1954 và Hiệp định Paris năm 1973 là những bước như vậy.
Sử dụng sức mạnh tổng hợp
Do phải đối mặt với tình trạng “sức mạnh vật chất không cân xứng”, ta luôn sử dụng sức mạnh tổng hợp. Đó là sức mạnh vật chất kết hợp với sức mạnh tinh thần, nhất là lòng yêu nước cháy bỏng dưới ngọn cờ chính nghĩa, lòng quả cảm và tình đoàn kết keo sơn của cả dân tộc, trí thông minh và tinh thần sáng tạo của toàn quân, toàn dân.
Đó là sức mạnh tổng hợp của các mặt trận đấu tranh khác nhau: chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, xã hội, dư luận...
Đó là sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại và sự đoàn kết quốc tế, kể cả các tầng lớp nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý ngay ở những nước xâm hại nước ta.
Một bài học nữa mang tính quy luật rút ra qua Hiệp định Genève là sự đoàn kết của nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia, một nhân tố sống còn bảo đảm sự nghiệp xây dựng và bảo vệ mỗi nước, điều mà các thế lực bên ngoài nhận thức rất rõ nên thường xuyên tìm cách phân ly, chia rẽ.
Kỷ niệm 60 năm ký kết Hiệp định Genève năm 1954 một cách thiết thực nhất là rút ra những bài học bổ ích cho cuộc sống hôm nay và mai sau.
VŨ KHOAN (nguyên phó thủ tướng)
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm Hiệp định Genève
* Lễ kỷ niệm cấp quốc gia vào ngày 18-7-2014 tại Trung tâm Hội nghị quốc tế, 11 Lê Hồng Phong, Hà Nội do Bộ Ngoại giao chủ trì tổ chức.
* Triển lãm ảnh và hiện vật Hiệp định Genève về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam do Bộ Ngoại giao chủ trì tổ chức tại Nhà truyền thống của Bộ Ngoại giao (56 Hoàng Diệu, Hà Nội).
* Xây dựng và phát sóng phim tài liệu Hội nghị Genève 1954 về hòa bình ở Việt Nam trên Đài truyền hình Việt Nam và các kênh truyền hình ở trung ương.
* Tổ chức cuộc thi tìm hiểu Hiệp định Genève về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam trong Đoàn thanh niên Bộ Ngoại giao và sinh viên Học viện Ngoại giao.
L.THANH

(*) Tít do Tuổi Trẻ đặt.

60 năm Hiệp định Genève (1954 - 2014) - Kỳ 2: Lịch sử thế giới đứng lại 2 giờ 45 phút

Thứ Tư, ngày 16/7/2014 - 08:52
Thứ ba, 20.7 là một ngày vui cho Hội nghị Genève vì giới thạo tin nhận được những tin tức lạc quan. 17 giờ 10, tại biệt thự Rocage - nơi làm việc của phái đoàn Pháp, các nhân viên ôm nhau vui mừng vì nghe tin lúc 21 giờ tối nay sẽ ký kết hiệp định.
60 năm Hiệp định Genève (1954 - 2014) - Kỳ 2: Lịch sử thế giới đứng lại 2 giờ 45 phút
Quang cảnh Hội nghị Genève - Ảnh: TL

Mọi người đang hân hoan bỗng thất vọng khi nghe tin “Có một trưởng đoàn tuyên bố dứt khoát không ký vào hiệp định”. Điều này có nghĩa là Hội nghị Genève có nguy cơ thất bại vào giờ chót.
Người có uy lực làm sục sôi dư luận thế giới vào phút chót bằng tuyên bố “tôi không ký” đó là ai? Theo tường thuật của báo chí “đó là người đàn ông nhỏ thó, nước da ngăm đen”: Ngoại trưởng - trưởng phái đoàn Campuchia Tep Phan. Trong suốt thời gian hội nghị, ông Tep Phan ít được dư luận để ý, mặc dù ông cũng có mặt trong vài cuộc đàm phán lẻ tẻ. Nhưng bây giờ ông đã trở nên “ngôi sao” khi dư luận lúc ấy không ngớt nhắc đến tên ông…
23 giờ 45 ngày 20.7.1954, chỉ còn 15 phút nữa là kết thúc hội nghị nhưng tam cường Liên Xô, Anh và Pháp vẫn chưa thuyết phục được đại diện  Campuchia ký vào bản hiệp định. Kim đồng hồ nhích từng chút một và rồi hai cây kim chập vào nhau. Chỉ một giây nữa sẽ bước qua ngày 21.7. Trên mặt Thủ tướng Pháp Mendès France lộ đầy vẻ âu sầu lo lắng…
Nhưng, trong cái khó, bỗng dưng có một ngoại trưởng nào có sáng kiến thuộc loại “làm lịch sử thế giới đứng lại”. Đó là tất cả đồng hồ trong phòng họp đều ngưng lại. Hai cây kim ngắn và dài đều chập lại ở con số XII và đứng “nghiêm” như thế đến 2 giờ 45 sáng 21.7 khi  hiệp định đình chỉ chiến sự tại VN và Lào được ký kết (riêng hiệp định đình chiến tại Campuchia được ký kết vào lúc 11 giờ ngày 21.7).
Khi hiệp định vừa ký xong thì đồng hồ mới được chạy trở lại và thời gian được ghi ở cuối các hiệp định là: “Ký lúc 24 giờ ngày 20.7.1954” để giúp cho ông Mendès France giữ được chiếc ghế thủ tướng và thể diện với Quốc hội Pháp.
Ba ngày sau Hội nghị Genève bế mạc, Thủ tướng Mendès France  ra trước Quốc hội Pháp yêu cầu phê chuẩn hiệp định ngưng bắn ở Đông Dương vừa ký kết giữa Pháp và VNDCCH hôm 20.7.1954 giữa Thứ trưởng Quốc phòng VNDCCH Tạ Quang Bửu, thay mặt Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam và thiếu tướng Pháp Deiteil, thay mặt Tổng tư lệnh các lực lượng Liên hiệp Pháp tại Đông Dương. Cuộc thảo luận không gay go và được biểu quyết thật nhanh: 471 phiếu chấp thuận Hiệp định Genève 1954 về Đông Dương, 14 phiếu phản đối.

60 năm Hiệp định Genève (1954 - 2014) - Kỳ 2: Lịch sử thế giới đứng lại 2 giờ 45 phút
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng VNDCCH Tạ Quang Bửu (phải) ký hiệp định

Tại sao có sự gần như là thống nhất cao như vậy trong Quốc hội Pháp? Bởi vì các dân biểu đã thấy trước một viễn cảnh hết sức khó khăn và “viển vông” khi theo đuổi cuộc chiến ở Việt Nam. Các dân biểu, ít nhiều đã nắm được con số thống kê hết sức “đắng lòng”: Về tổn thất nhân mạng, tin chính thức của Pháp cho biết, trong gần 9 năm chiến tranh Đông Dương, quân đội Pháp có 92.000 người tử trận, chia ra: 19.000 binh sĩ người Pháp chính gốc; 30.000 lính lê dương và người Phi châu và 43.000 người bản xứ, đa số là lính khố xanh, khố đỏ VN. Số quân nhân bị thương của quân đội Pháp tính chung 144.000. Tù binh: 28.000. Theo một tài liệu khác - vẫn của Pháp - trong số tử trận của quân đội Pháp trên chiến trường Đông Dương từ 24.9.1945 (ngày mở đầu Nam bộ kháng chiến) đến 1.6.1954, có 2.005 sĩ quan; 41.070 hạ sĩ quan và binh sĩ người Pháp, lê dương và Phi châu; 96.297 lính người Việt,  Campuchia, Lào (kể luôn những người mất tích trong số này cũng có nhiều lính đào ngũ trở về nguyên quán). Chi tiết hơn, trong chiến tranh Việt - Pháp - cũng gọi là chiến tranh Đông Dương - có 2 trận thảm bại lớn của Pháp với số binh sĩ thương vong nặng nề:
1. Trận Cao Bằng - Thất Khê  tháng 9 và 10.1950: Pháp thiệt mạng 75 sĩ quan, 292 hạ sĩ và 2.949 lính (theo báo cáo của Thủ tướng Réné Pleven trước Quốc hội Pháp ngày 23.10.1950).
2. Trận Điện Biên Phủ  từ tháng 3 đến tháng 5.1954: Quân đội Pháp chết và bị thương hơn 4.000, bị bắt sống 8.000 (theo tướng Tổng tư lệnh Henri Navarre tuyên bố trong cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 8.5.1954).
Về tài chính, trong 9 năm chiến tranh, Pháp đã tốn 3.000 tỉ franc (3.000.000.000.000 franc cũ) trong tổng số này, riêng ngân sách Pháp gánh chịu 2.385,1 tỉ, Mỹ tài trợ 614,9 tỉ USD.
Như vậy, việc rút chân ra khỏi Việt Nam là điều kiện tiên quyết để Pháp giữ được danh dự của mình như theo lời của tướng De Gaule: “Thua một trận Điện Biên Phủ chưa phải bại trận trong chiến tranh Đông Dương. Nhưng, yếu tố cần thiết của nhà lãnh đạo là tiên kiến”. Mendès France là một Thủ tướng Pháp đã thấy xa và thấy trước, ông không muốn để cho đạo quân viễn chinh Pháp cũng như danh dự của một cường quốc hoàn toàn tan rã và sụp đổ tại Đông Dương, đúng hơn là tại Việt Nam. Đó là lý do khiến Pháp phải ký Hiệp định Genève 1954 về Đông Dương.
Và cuộc ngừng bắn bắt đầu được thực hiện tại Bắc bộ Việt Nam vào lúc 8 giờ sáng ngày 27.7.1954 chấm dứt cuộc sa lầy của Pháp trong cuộc chiến xâm lược VN sau 7 năm, 7 tháng và 8 ngày kể từ đêm 19.12.1946.
Đến 28.4.1956, người lính Pháp cuối cùng mới rời khỏi Việt Nam!
Theo Lê Văn Nghĩa (TNO)

HƯỚNG ĐẾN NGÀY 27-10-2014: NGÀY TRƯỜNG ĐẠI HỌC TỔNG HỢP HUẾ CỦA CHÚNG TA TRÒN 38 TUỔI !
Rất mong ACE cùng truy cập vào địa chỉ các HÌNH ẢNH KỶ NIỆM CỦA CSV (dưới đây) để cùng ôn lại các hình ảnh thân thương của mình, lớp mình, bạn bè mình. Nếu ACE nào thấy cần bổ sung hay thấy ảnh của lớp mình chưa có thì có thể tự tạo ALBUM và post ảnh vào.
Trân trọng cảm ơn,
Admin
  • Huỳnh Thu Hồng và 14 người khác thích điều này.
  • Vương Hưng Quyết bữa trước kỉ niệm thành lập trường là tính từ năm 1957 mà 
  • Đh Tổng Hợp Huế Đấy là quyết định của Nhà Trường ĐH KH Huế, chúng tôi không có ý kiến gì. Ở đây chúng tôi đề cập đến ngày ra đời của Trường Đại Học Tổng Hợp Huế bạn à.
  • Đh Tổng Hợp Huế Trường Đại học Khoa học Huế - Đại học Huế (gọi tắt là trường Đại học Khoa học Huế ), tiền thân là trường Đại học Tổng hợp Huế, được thành lập theo Quyết định số 426/TTg ngày 27-10-1976 của Thủ tướng chính phủ trên cơ sở sát nhập Đại học Khoa học và Đại học Văn khoa của Viện Đại học Huế trước đây (Viện ĐH Huế thành lập năm 1957). Năm 1994, theo Nghị định số 30/CP của Chính phủ về việc thành lập Đại học Huế, trường Đại học Tổng hợp trở thành trường thành viên của Đại học Huế và được đổi tên thành trường Đại học Khoa học.
    11 giờ · Thích · 1
  • Chau Thanh Tôi đã từng email tâm sự với một vài người bạn đang còn giảng dạy tại Đại học khoa học Huê, rằng tôi hơi buồn vì trường bị mất tên Đại học Tổng hợp – University – Университет. Không phải vì cái tên Đại học khoa học có gì sai, thậm chí như “Cựu SVĐHTH Huế” đã giải thích thì còn có lý nữa.
    Nhưng vì từ thưở còn học phổ thông tôi và chắc rất nhiều bạn khác nữa đã rất thần tượng với cái tên Đại học Tổng hợp bởi vì đó là tên của những trường đại học nổi tiếng nhất trên thế giới từ Anh, Đức, đến Nga, Mỹ… như Đại học Tổng hợp Oxford, Đại học Tổng hợp Cambridge, Đại học Tổng Lomonoxov… nơi đào tạo nên nhiều nhà khoa học cơ bản vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại. Lịch sử của các trường Đại học Tổng hợp trên thế giới đã có hàng nhiều trăm năm, thậm chí là hàng nghìn năm của nền văn minh Hy Lạp - La Mã.
    Khi nghe đổi tên thành Đại học khoa học tôi hơi ngạc nhiên tự hỏi chẳng lẽ Đại học Sư phạm, Đại hoc Y khoa, Đại học Bách khoa… ở đó không dạy khoa học chăng ?
    Các bạn cựu sinh viên Đại học khoa học là lớp đàn em của chúng tôi chẳng có gì phải phiền lòng, vẫn có quyền tự hào vì trường mình mang tên Đại học khoa học, tuy nhiên nếu các bạn chia sẻ được với tâm trạng của chúng tôi thì cũng là điều an ủi cho chúng tôi, những người ôm mối hoài niệm với cái tên Đại học Tổng hợp.
    11 giờ · Thích · 3
  • Vương Hưng Quyết bữa trước đh Tổng Hợp là 1 trường đại học uy tín. bây giờ Đh Khoa Học chẳng ra gì. hàng năm tỉ lệ nhập học nguyện vọng 1 khoảng 1/2. thư viện các sách chuyên ngành thì nhỏ và hôi hám. sách thì từ thời LX đến giờ cũng ko đổi mới gì nhiều, vào tìm sách lâu 1 xí còn bị cán bộ giữ thư viện nạt nộ. nản!
    9 giờ · Thích · 1
  • post từ facebook, 16/7/14
  • Suu Quangsuu