23 thg 4, 2014


Kỳ diệu bài thuốc nam chữa khỏi ung thư gan


 Theo sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Giáo sự tiến sĩ Đỗ Tất Lợi (NXB Y học năm 2003): Vỏ cây mật nhân (còn gọi là cây bá bệnh, bách bệnh) dùng để chữa ăn uống không tiêu, đau mỏi lưng. Rau má là một vị thuốc mát, tính bình, có công dụng giải nhiệt, giải độc. Nấm lim xanh, còn gọi là thanh chi, có tính bình, không độc, chủ trị sáng mắt, bổ can khí, an thần, tăng trí nhớ, chữa viêm gan cấp tính và mãn tính.
(PLO) - Cách đây 4 năm, khi phát hiện mình bị mắc bệnh ung thư, ông Nguyễn Tấn Khả (SN 1958, thôn Đại Phú, xã Tam Hiệp, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam) gần như suy sụp hoàn toàn. Hành trình "vái tứ phương”, tìm đến với thuốc nam đã mang lại cho ông bất ngờ khó tin.
 Kết quả chụp phim cho thấy khối u của ông Khả đã biến mất. 
Thoát hiểm kỳ diệu
Tiếp phóng viên tại nhà riêng, ông Khả không có biểu hiện gì của một người mang căn bệnh hiểm nghèo, mà ngược lại ông tỏ ra nhanh nhẹn, hoạt bát. Ông bắt đầu kể về câu chuyện chữa bệnh ung thư của mình từ 4 năm trước. Sau thời gian dài bị ho, tức ngực, khó thở, ông Khả đến bệnh viện thăm khám và được bác sĩ chẩn đoán bị viêm phế quản và kê đơn điều trị. 
Giữa năm 2010, bệnh viêm phế quản của ông lại tái phát, lúc này ông phải nhập bệnh viện Đa khoa trung ương Quảng Nam (đóng tại Núi Thành) để điều trị. Trong thời gian điều trị tại Bệnh viện, các bác sĩ thấy da ông có biểu hiện vàng bất thường, kèm theo triệu chứng ăn khó tiêu, chướng bụng đầy hơi nên chỉ định ông làm các bước xét nghiệm, chẩn đoán. Kết quả ông bị ung thư biểu mô tế bào gan (viết tắt theo hồ sơ bệnh án là HCC), khối u lúc này có đường kính 6,5 mm. 
Bà Trần Thị Hạnh (SN 1957, vợ ông Khả) cho biết, khi nghe bác sĩ thông báo tình trạng bệnh của chồng, bà rụng rời tay chân. Bởi cả gia đình bà đang lo sốt vó về bệnh tim của cô con gái chưa biết có chữa khỏi được hay không thì lại nhận thêm hung tin chồng bị ung thư. Lúc đầu bà định giấu chồng vì sợ ông suy sụp. Tuy nhiên sau đó bà nghĩ không thể giấu được mãi nên báo cho ông biết, đồng thời động viên ông yên tâm điều trị. Hơn nữa, theo các bác sĩ, khối u của ông mới ở giai đoạn đầu, kích thước còn nhỏ nên khả năng chữa khỏi rất cao. 
Chỉ riêng căn bệnh viêm phế quản đã làm cho ông Khả ho hắng suốt ngày suốt đêm, không ngủ được nên khi đón thêm tin dữ, nhiều đêm ông gần như thức trắng. Ông nghĩ, đã ung thư thì cầm chắc cái chết, có cố chạy chữa thì cũng chỉ kéo dài cuộc sống thêm được vài tháng. Trong khi đó, nhà ông rất nghèo, mẹ già hay đau yếu, cô con gái bị bệnh tim đang cần rất nhiều tiền để phẩu thuật. 
Nghĩ đến số phận hẩm hiu của mình, ông Khả mất ăn, mất ngủ, người gầy rộc, sút hơn 10 ký chỉ trong vòng vài tuần lễ. Tuy nhiên càng nghĩ, ông càng nhận thấy một điều, mình là trụ cột của gia đình nên dù thế nào cũng phải làm chỗ dựa cho cả nhà. Trong khi người con gái cũng bị bệnh hiểm nghèo, mẹ già cũng bị bệnh thoái hóa cột sống và đau ốm liên miên nên ông không thể đầu hàng một cách dễ dàng được. 
Vậy là ông mày mò tìm hiểu các loại thuốc nam để điều trị căn bệnh của mình. Song song với liệu trình điều trị của bệnh viện, ông Khả tự dùng thêm bài thuốc do ông mày mò “sáng chế” ra, kết quả thật đáng mừng, khối u gan trong cơ thể ông giờ đã không còn.
Bài thuốc kỳ diệu đã giúp ông Khả từ bệnh nhân ung thư gan giờ khỏe mạnh tham gia lao động sản xuất. 
Bài thuốc của lòng kiên trì
Kể về bài thuốc mà ông đang dùng, ông Khả cho biết, sau khi phát hiện ông bị ung thư gan, bệnh viện đã dùng phương pháp TOCE tiêm hóa chất để tiêu diệt khối u. Trong thời gian điều trị ở bệnh viện, gặp ai ông cũng hỏi về các bài thuốc nam chữa bệnh gan. Không chỉ vậy ông Khả còn sưu tầm các loại sách, báo có chuyên mục thuốc và sức khỏe, hoặc ông hỏi thăm cách chữa trị bệnh của những người đồng cảnh ngộ. Sau một thời gian chịu khó tìm tòi, ông Khả đã tìm ra bài thuốc nam để chữa bệnh cho chính mình. 
Vào tháng 6/2010, bệnh viện tiến hành tiêm hóa chất lần thứ nhất vào khu vực khối u của ông Khả. Đây cũng là thời điểm ông bắt đầu sử dụng thuốc nam. Bài thuốc đầu tiên ông dùng chỉ có 3 vị gồm: cây chó đẻ răng cưa, cây dủ dẻ và cây mật nhân. Đây đều là những vị thuốc thông dụng chữa bệnh gan. 
Sau 2 tháng dùng bài thuốc này, ông đã bớt bị chướng bụng, đầy hơi khó tiêu, tuy nhiên da vẫn còn vàng. Không nản chí, ông Khả tiếp tục mày mò nghiên cứu sách vở đồng thời nhờ người tra tìm giúp các thông tin về điều trị ung thư gan bằng thuốc nam. Cám cảnh người bạn bệnh tật, một người bạn chiến đấu cùng ông ở chiến trường Tây Nam và biên giới phía Bắc đã gửi về cho ông một ít vỏ cây rừng, được gọi là phương thuốc cổ truyền của một dân tộc ở tỉnh Gia Lai. 
Tháng 9/2010, bệnh viện tiếp tục tiêm hóa chất lần thứ hai vào khối u. Lúc này ông Khả đã tìm ra một bài thuốc mới, ngoài 3 vị thuốc đã dùng, ông cho thêm 6 vị nữa, trong đó có cả loại có tác dụng an thần, có loại có tác dụng tạo máu. 
9 vị thuốc nam trong đơn thuốc kỳ diệu của ông Khả đó là cây dủ dẻ, cây chó đẻ răng cưa, cây mật nhân, dây bầu đường (còn gọi dây nhãn lồng), nấm lim xanh, rau má, cây mã đề, quả cây dứa dại và vỏ 1 loài cây do người bạn gửi về. Các loại thuốc trên, ông đem rửa sạch, chặt ra thành từng đoạn nhỏ, phơi khô nấu uống hàng ngày như nước chè, mỗi ngày ông uống hơn 2 lít nước thuốc. 
Hỏi ông việc uống thuốc nam nhiều như vậy có dễ dàng không, ông Khả cho biết, lúc đầu cũng hơi khó uống vì chưa quen, nhưng với quyết tâm thoát khỏi căn bệnh hiểm nghèo, ông cố gắng uống, lâu dần thành quen. Ông nói, “thuốc đắng giã tật mà, giờ tôi uống thuốc này chỉ thấy có vị hơi đắng, chát, uống vào có cảm giác thanh thanh, ngọt ngọt ở cổ họng”. 
Ba tháng sau lần điều trị hóa chất lần thứ 2, ông Khả đến bệnh viện để kiểm tra lại khối u. Kết quả làm ông Khả và các bác sĩ mừng vô kể, khối u đã tiêu tan hết. Kể từ đó, cứ 6 tháng một lần, ông Khả lại đến bệnh viện để kiểm tra lại khối u, lần nào bác sĩ cũng báo kết quả rất tốt, khối u đã biến mất hoàn toàn. Hiện tại ông Khả rất khỏe mạnh, hệ tiêu hóa hoạt động rất tốt. 

Ngoài điều trị Đông-Tây y kết hợp, ông Khả còn ngồi thiền. 
Giữa năm 2012, nghe lời khuyên của một người em trai (là bác sĩ ở Viện nghiên cứu sốt rét), ông Khả vào huyện Phù Cát (Bình Định) học một khóa “thiền để chữa bệnh” trong thời gian 1 tuần. Từ đó đến nay, mỗi ngày ông đều đặn ngồi thiền trong vòng 90 phút, vào lúc sáng sớm mới ngủ dậy hoặc buổi tối lúc chuẩn bị đi ngủ. Sau một thời gian dài kiên trì uống thuốc nam và tĩnh tâm bằng phương pháp thiền, sức khỏe ông Khả giờ đã ổn định, ông có thể đi làm đồng hoặc chăm sóc đàn gà, đàn thỏ nuôi bên nhà.
Trong các vị thuốc ông Khả sử dụng 4 năm nay, khó tìm nhất và cũng là đắt tiền nhất hiện nay là nấm lim xanh. Còn các vị thuốc khác, bản thân ông Khả cùng vợ con hay nhờ người thân tìm kiếm trong địa bàn tỉnh Quảng Nam hoặc tỉnh lân cận Quảng Ngãi. Gần đây, nghe chuyện ông dùng thuốc nam chữa được ung thư, nhiều người đã tìm đến học kinh nghiệm, ông Khả nhiệt tình chia sẻ, hướng dẫn cách chế biến, sử dụng.
Sự hiệu nghiệm của Đông - Tây y kết hợp

Theo giáo sư Nguyễn Chấn Hùng – một nhà nghiên cứu hàng đầu Việt Nam về ung thư, bệnh ung thư nếu phát hiện sớm thì khả năng chữa khỏi rất cao. Thế nhưng cứ nghe ung thư nhiều người lại nghĩ đó là “án tử”, rồi chán nản, bi quan, không tích cực điều trị, cuối cùng chết vì “tâm bệnh”. 
Hiện nay y học đã phát triển vượt bậc, nhiều bệnh viện tuyến tỉnh có đủ khả năng tầm soát ung thư, phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm. Nhiều loại bệnh ung thư nếu được chẩn đoán phát hiện kịp thời, điều trị tích cực có thể khỏi hẳn nên bệnh nhân cần phải lạc quan và tuân thủ các phác đồ điều trị của bệnh viện.  
Theo bác sĩ Trần Văn Sáng, Hội y học cổ truyền quận Gò Vấp (TP. Hồ Chí Minh), hiện nay có một số bài thuốc Đông y có khả năng hỗ trợ điều trị bệnh ung thư. Các bệnh nhân đang điều trị ung thư bằng phương pháp xạ trị, hóa trị luôn cảm thấy mệt mỏi do lượng hồng cầu bị tiêu hao nhiều sau mỗi lần trị liệu. 
Các bài thuốc Đông y thường có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, bồi bổ sức khỏe, hoặc có thể tác dụng tăng lượng hồng cầu nên làm cho cơ thể dễ chịu. Tuy nhiên người bệnh cần lưu ý, thuốc Đông y chỉ là hỗ trợ điều trị, chứ không thể là phương thuốc chính để chữa ung thư. Vì vậy không nên chủ quan, chỉ dựa vào các bài thuốc nam chưa được kiểm chứng hiệu quả, mà cần đến bệnh viện để được điều trị tích cực.

22 thg 4, 2014

Thành thiên tài toán học nhờ... tổn thương não



Hầu như ai cũng kinh ngạc khi biết nguyên nhân biến Jason Padgett từ một người đàn ông bình thường trở thành thiên tài toán học là ... tổn thương não.
hội chứng thiên tài, bác học, tổn thương não
Jason Padgett và một thiết kế fractal kỳ công của anh.
Cách đây 12 năm, Jason Padgett, 31 tuổi ở Tacoma, bang Washington, Mỹ chỉ là một người đàn ông bình thường, thích tụ tập bạn bè và tiệc tùng. Sau khi bỏ học đại học giữa chừng, Padgett làm việc cho một cửa hàng bán đồ nội thất của cha anh.
Mọi chuyện dị thường bắt đầu vào ngày 13/9/2002, khi Padgett rời một quán karaoke gần nhà và bị tấn công từ phía sau. Hai gã đàn ông lạ mặt đã đánh nhiều phát vào phía sau đầu của Padgett cho tới khi anh bất tỉnh nhân sự.
Tại bệnh viện, Padgett được điều trị việc bầm dập một bên thận và được cho về nhà trong cùng tối đó. Sáng hôm sau, anh tỉnh dậy và phát hiện cách nhìn đã thay đổi, với các chi tiết chưa từng thấy trước đó đang hiện ra trước mắt.
Khi mở vòi nước trong phòng tắm, anh quan sát thấy các tia nước bắn ra vuông góc với dòng chảy. Ban đầu, Padgett tưởng mình bị hoa mắt và thấy lo lắng, nhưng sau đó đứng chôn chân tại chỗ vì thấy chúng quá đẹp. Anh bắt đầu có niềm ham mê khác thường, ám ảnh với toán học và vật lý.
Padgett đã ngừng đi làm và dành toàn bộ thời gian để học toán cũng như vật lý, tập trung vào các cấu trúc hình học gần giống nhau hoặc lặp đi lặp lại có tên gọi là fractal. Mặc dù chưa từng bộc lộ tài năng hội họa trước đó, nhưng anh bắt đầu vẽ các mẫu thiết kế fractal vô cùng chi tiết và mất nhiều tuần để hoàn thành chúng.
Tuy nhiên, đó cũng là điểm yếu của những tài năng mới xuất hiện ở Padgett. Từng là người vô cùng cởi mở, hòa đồng, anh trở thành người khép kín, thích dành toàn bộ thời gian ở nhà, dùng chăn che phủ các cửa sổ và từ chối khách viếng thăm.
Padgett cũng trở nên ám ảnh với vi trùng và rửa tay liên tục cho tới khi chúng đỏ ửng. Anh thậm chí sẽ không ôm hôn con gái của mình cho tới khi cô bé cũng rửa tay sạch sẽ.
Padgett và những người thân nghĩ anh có thể đang phát điên. Tuy nhiên, hy vọng lóe hiện sau khi anh xem được một bộ phim tài liệu về một nhà bác học bị tự kỷ có tên Daniel Tammet. Padgett đã tới gặp tiến sĩ Darold Treffert, một chuyên gia hàng đầu về chứng thiên tài, người chẩn đoán anh có dấu hiệu của "hội chứng bác học mắc phải". Hiện trên thế giới chỉ có 40 người được chẩn đoán mắc hội chứng này, khiến họ trở nên thông minh hơn sau một tổn thương não.
Padgett đã hiểu hơn về tình trạng của mình khi tới Hà Lan để thăm khám tiến sĩ Berit Brogaard. Kết quả chụp cộng hưởng từ, khảo sát não hé lộ, phía bên trái bộ não của Padgett, đặc biệt là vùng thùy đỉnh trái, nơi cứ trú của toán học, hoạt động tích cực hơn bình thường. Có lẽ, sau tổn thương não, các tín hiệu dẫn truyền thần kinh đã tràn tới khu vực não trái của Padgett và rốt cuộc làm thay đổi cấu trúc não, khiến anh trở thành "cực giỏi".
Nhằm phát huy các khả năng tiềm ẩn mới có được, Padgett đã quyết tâm vào học đại học. Trong cuốn hồi ký mới xuất bản của mình, Padgett tin anh là ví dụ cho thấy, mọi người đều là những thiên tài tiềm ẩn chưa được đánh thức.
Tuấn Anh (Theo New York Post, Daily Mail)

20 thg 4, 2014

Ai có công đầu với chữ quốc ngữ?
20/04/2014 07:00 (GMT + 7)
TT - Đây là vấn đề được đặt ra từ vài chục năm nay bởi một số nhà nghiên cứu cùng những người quan tâm đến lịch sử buổi đầu chữ quốc ngữ. Những ai đã tiên khởi mở ra việc tạo lập chữ quốc ngữ?

Giao sĩ Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) Ảnh tư liệu
Alexandre de Rhodes hay Francisco De Pina?
Với hai quyển sách Tự điển An Nam - Bồ Đào Nha - Latin (gọi tắt Tự điển Việt - Bồ - La) và Phép giảng tám ngày bằng quốc ngữ được tòa thánh La Mã cho xuất bản năm 1651, giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) từ lâu được coi là người có công lớn trong việc chế tác ra chữ quốc ngữ.
Để tưởng nhớ công lao của Đắc Lộ, năm 1941 một bia kỷ niệm khắc tên ông đã được dựng bên hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội; và ở Sài Gòn vào năm 1955 người ta đã lấy tên Alexandre de Rhodes đặt cho một con đường ngay trung tâm thành phố này, còn mãi đến nay.
Nhà nghiên cứu Võ Long Tê nhận xét: “Đành rằng giáo sĩ Alexandre de Rhodes không phải là người duy nhất đã sáng chế và làm cho chữ quốc ngữ trở nên hoàn hảo, nhưng lịch sử vẫn xem vị giáo sĩ này là thủy tổ chữ quốc ngữ vì đã có công thử thách chữ quốc ngữ trong các lĩnh vực soạn sách tự điển, văn phạm, giáo lý, và nhất là phổ biến rộng rãi chữ quốc ngữ bằng những tác phẩm ấn loát tại nhà in của Thánh bộ Truyền giáo tại La Mã”.
Đó là những quyển sách được coi là công cụ bước đầu trong việc phổ truyền việc dạy và học chữ Việt, mở ra sự xuất hiện chữ Việt trên bản đồ chữ viết của thế giới. Thủy tổ chữ quốc ngữ là cụm từ do nhà nghiên cứu Phạm Đình Khiêm dành cho giáo sĩ Đắc Lộ, trong đó có một số luận chứng giống như tác giả Võ Long Tê đã trích dẫn.
Quan điểm cho rằng giáo sĩ Đắc Lộ là người có công đầu, có công nhiều nhất trong việc làm ra chữ quốc ngữ cũng đã được nhà nghiên cứu Hoàng Tiến nhắc lại trong đề tài nghiên cứu Chữ quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỷ 20 của mình được xuất bản năm 1994:
“...Và nhất là cha cố người Pháp Alexandre de Rhodes là một nhà bác học rất giỏi về khoa ngôn ngữ đã tới Việt Nam và giảng đạo bằng tiếng Việt. Tất nhiên việc này có công sức đóng góp của nhiều người, nhưng ông là đại diện và giữ công đầu”.
Tuy nhiên, mãi đến gần đây nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Tương đã phản bác quan điểm tồn tại lâu nay, ông cho rằng Đắc Lộ không phải là người có công đầu trong việc tạo tác chữ quốc ngữ.
Trong tham luận “Hội An - Thanh Chiêm và sự ra đời chữ quốc ngữ” tại tọa đàm khoa học “Danh xưng Quảng Nam” ở Tam Kỳ hồi tháng 9-2001, tác giả Nguyễn Phước Tương nhấn mạnh rằng Francisco de Pina mới là nhà tiên phong sáng tạo chữ quốc ngữ.
Luận cứ mang tính khẳng định của nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Tương trước hết dựa vào tự bạch của giáo sĩ Đắc Lộ trong “Lời nói đầu” ở Tự điển Việt - Bồ - La rằng ông học tiếng Việt lúc đầu với giáo sĩ F. de Pina, rằng ông đã sử dụng các công trình tự điển viết tay An Nam - Bồ, Bồ - An Nam của các giáo sĩ Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa - những điều mà bất cứ ai tiếp cận Tự điển Việt - Bồ - La đều biết rõ.
Bên cạnh một số luận cứ khác nữa, đặc biệt, nhà nghiên cứu này còn dựa vào phát hiện mới về công trình chữ quốc ngữ của F. de Pina của nhà ngôn ngữ học Pháp Roland Jacques.
Đó là bức thư viết dở dài bảy trang cùng cuốn Nhập môn tiếng Đàng Ngoài dài 22 trang dạy cho người mới học tiếng Việt của giáo sĩ F. de Pina được R. Jacques tìm thấy ở Thư viện Quốc gia tại Lisbon (Bồ Đào Nha).
Từ những tư liệu mới tìm thấy này, R. Jacques đã viết chuyên luận Công trình của một số nhà tiên phong Bồ Đào Nha trong lĩnh vực ngôn ngữ học Việt Nam được ấn hành tại Paris năm 1995.
Tác giả này viết: “Qua sự so sánh có hệ thống việc mô tả bộ chữ cái Việt Nam thực hiện bởi văn bản này và văn bản kia, như vậy sẽ trở nên có thể nhận định được rõ ràng hơn rằng Alexandre de Rhodes đã chịu ơn các vị tiền bối của mình và ngược lại, có sự đóng góp tài năng của bản thân ông”.
Nhà in Làng Sông được thành lập năm 1872 tại huyện Tuy Phước, Bình Định - một trong những nhà in chữ quốc ngữ đầu tiên - Ảnh: H.V.M.
Công lao tập thể và vai trò của người Việt
Trong khi đó, một quan điểm phổ quát hơn, từng được nhiều nhà nghiên cứu cùng chấp nhận hơn là: chữ quốc ngữ được hình thành bước đầu từ công lao của một số giáo sĩ dòng Tên.
Năm 1955, trong cuốn sách về Công trạng của nước Pháp ở Đông Dương của mình, tác giả Pháp Georges Taboulet cũng đã đưa luận điểm như trên khi ông viết: “Việc phiên âm tiếng Việt bằng chữ Latin điểm thêm các dấu quy ước, là một công lao tập thể mà sự đóng góp chủ yếu của các linh mục Francisco de Pina, Cristophoro Borri, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, còn linh mục Alexandre de Rhodes thì có công hệ thống hóa, chỉnh lý và phổ biến văn tự này...”.
Tác giả Võ Long Tê cũng cho rằng: “...Căn cứ vào những sử liệu chắc chắn và những suy luận hợp lý, chúng ta có thể quyết đoán rằng công cuộc sáng chế chữ quốc ngữ là một công trình tập thể, nằm trong một khuôn khổ những nỗ lực phiên âm các thứ tiếng có chữ tượng hình ở Viễn Đông do các thừa sai châu Âu khởi xướng từ thế kỷ thứ 16”.
Cũng nhắm vào công lao tập thể trong việc tạo lập chữ quốc ngữ, linh mục Đỗ Quang Chính đã dùng từ “những ông tổ” để chỉ những giáo sĩ có công trong việc Latin hóa tiếng Việt buổi đầu.
Dẫu vậy, vị linh mục sớm đi vào nghiên cứu lịch sử chữ quốc ngữ này cho rằng “ai là người có công nhất trong việc sáng tác chữ quốc ngữ?” vẫn còn là điều thắc mắc cần được làm sáng tỏ.
Về đóng góp của người Việt, theo nhà nghiên cứu Võ Ngọc Liễn, có lẽ vì đặt nặng vai trò chủ động của các giáo sĩ dòng Tên trong việc tạo tác nên chữ Việt mới từ mẫu tự Latin do họ “mang tới” vốn hoàn toàn xa lạ với người Việt, các nhà nghiên cứu có phần chậm trễ khi nói đến vai trò của người Việt.
Trong một số tác phẩm được xuất bản từ những năm 1960-1970 của mình, các tác giả Đỗ Quang Chính, Võ Long Tê đều đã đề cập sự đóng góp của người Việt cho sự ra đời của chữ quốc ngữ.
Đó là những nho sĩ, những sư sãi, những tân tòng - người mới theo đạo (Công giáo) mà đặc biệt là những tân tòng trở thành thầy giảng (đạo).
Nhưng tiếc rằng đó đều là những đóng góp lặng thầm, chìm khuất, ít được các giáo sĩ thời đó nêu danh tính hay ghi lại cụ thể, ngoại trừ những ghi chép của các giáo sĩ F. de Pina, Đắc Lộ, C. Borri về công lao của người Việt trong việc bày vẽ cho họ học tiếng bản xứ.
“Các thầy giảng Igesico Văn Tín, Bentô Thiện với những tác phẩm quốc ngữ xuất sắc được lưu lại từ năm 1659, đương nhiên họ đã cùng với các vị giáo sĩ ở cư sở của mình cùng nhau miệt mài luyện tập chữ quốc ngữ cũng như học hỏi ngôn ngữ của nhau” - nhiều nhà nghiên cứu đã nói.
Và, ngoài tên tuổi của một ít các thầy giảng người Việt được nói đến, chắc chắn còn nhiều người Việt khác đã cộng tác đắc lực với các linh mục dòng Tên trong công cuộc kiến tạo chữ quốc ngữ buổi đầu.
HUỲNH VĂN MỸ - BẢO TRUNG
Kỳ tới: Đâu là “chiếc nôi” chữ quốc ngữ?


Hai bức thư và tập lịch sử nước An Nam

19/04/2014 12:05 (GMT + 7)
TT - Người Việt Nam sử dụng được chữ quốc ngữ sớm nhất ở thời điểm nào? Thật không dễ có đáp án chính xác cho câu hỏi có vẻ đơn giản này nếu không có những bản văn viết tay của hai người Việt được lưu lại đến ngày nay.
Trang cuối lá thư của Igesico Văn Tín viết ngày 12-9-1659 bằng chữ quốc ngữ - Ảnh tư liệu
Đây được coi là những sản phẩm đầu tiên mà người Việt gieo trồng và thu hoạch được trên cánh đồng quốc ngữ vừa được khai mở...
Hai bức thư
Trong bài viết “Một vài văn kiện bằng quốc âm tàng trữ ở Âu châu” đăng ở tập san Đại Học số 10, tháng 7-1959 tại Sài Gòn, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã viết về việc Viện bảo tàng dòng Tên ở La Mã (Ý) còn giữ được những tư liệu quan trọng. Đó là bức thư và tập lịch sử của Bentô Thiện gửi cho giáo sĩ G. Philippo de Marini đề ngày 25-10-1659 và bức thư của Igesico Văn Tín cũng gửi cho vị giáo sĩ này, đề ngày “mươy hay thánh chính D.C.J. ra đờy một nghìn sáu tram nam muoy chinh” (mười hai tháng chín Đức Chúa Jesus ra đời một nghìn sáu trăm năm mươi chín).
Trong sách Lịch sử chữ quốc ngữ (1620-1659), linh mục Đỗ Quang Chính, S.J. - người tiếp cận nhiều tư liệu gốc cho việc nghiên cứu sự hình thành chữ quốc ngữ ngay tại các bảo tàng và văn khố ở châu Âu - đã chép lại toàn văn các văn bản của Igesico Văn Tín và Bentô Thiện để người đọc có thể thấy chữ quốc ngữ ở thời khởi nguyên được viết thế nào.
Có thể nói những người học và sử dụng chữ quốc ngữ sớm nhất ở nước ta là những tân tòng - người mới theo đạo (Công giáo) - trẻ tuổi và ham học hỏi bởi họ gần gũi, tiếp xúc thường xuyên với các vị giáo sĩ truyền đạo vốn là những người đang sử dụng chữ quốc ngữ buổi đầu. Igesico Văn Tín và Bentô Thiện đều là tân tòng rồi dần trở thành thầy giảng (đạo). Bức thư của Igesico Văn Tín được viết ở vùng Kẻ Vó (Đàng Ngoài/tức miền Bắc). Còn bức thư của Bentô Thiện được viết tại Kẻ Chợ (tức Thăng Long, cũng thuộc Đàng Ngoài).
Bức thư của Igesico Văn Tín gồm hai trang, trang đầu viết trong khổ 17x25cm, có 27 dòng chữ cỡ trung bình, trang hai trong khổ 16x9cm có 11 dòng. Thư của Bentô Thiện cũng gồm hai trang, cỡ chữ nhỏ, viết trong khổ 21x31cm. Cả hai bức thư đều là những lời thăm hỏi, kể về tình hình của những tân tòng, công việc truyền đạo trong vùng cũng như bày tỏ lòng tôn kính, nhớ mong của họ với giáo sĩ Marini.
“Ơn đức Chúa Blờy blả’ caõ cho thầi đờy đờy. Bấi nhieu mlờy tôy chép tháng mươy ĩ Igreja mà thư nầi thi ngài Lễ Bà Thánh Daria cũ õn Thánh Chrisanto tử vì đạo, tôy lại ơn thầi là cha vì thương đến con cũ tôy xin cha chớ quên làm chi. Từ Đức Chúa Jesu ra đờy cho đến rài một nghìn sáu trăm năm mươy chín năm. Bentô Thiên tôy tá nhà Thầi (Ơn đức Chúa Trời trả công cho thầy đời đời. Bấy nhiêu lời tôi chép tháng mười Igreja, mà thư này thì ngày lễ bà thánh Daria cùng ông thánh Chrisanto tử vì đạo. Tôi lạy ơn thầy là cha thì thương đến con cùng. Tôi xin cha chớ quên làm chi. Từ Đức Chúa Jêsu ra đời cho đến rày một nghìn sáu trăm năm mươi chín năm. Bentô Thiện tôi tá nhà thầy) - những câu cuối thư của Bentô Thiện. Và câu cuối thư của Igesico Văn Tín “D. C. Blờy blả’ cõn cho Thài đờy nài và đờy sau (Đức Chúa Trời trả công cho thầy đời này và đời sau). Cả hai cho thấy phần nào cách dùng từ, văn phong và cách viết quốc ngữ ở giai đoạn tiên khởi.
Bìa quyển Tự điển An Nam-Bồ Đào Nha-Latin của giáo sĩ Đắc Lộ được in ở La Mã năm 1651 - Ảnh tư liệu
Và tập lịch sử nước An Nam
Ngoài bức thư gửi giáo sĩ G. P. de Marini, thầy giảng Bentô Thiện còn viết một tập Lịch sử nước An Nam (LSNAN) gửi cho vị giáo sĩ này. (Tác giả Bentô Thiện không đặt tên cho tập tư liệu lịch sử của mình, nhưng căn cứ vào nội dung tập tư liệu của ông, linh mục Đỗ Quang Chính đã đặt tên là Lịch sử nước An Nam).
Qua lời trong thư của Bentô Thiện gửi giáo sĩ Marini, rõ là tập LSNAN được Bentô Thiện viết gửi cho giáo sĩ Marini theo đề xuất của vị giáo sĩ này. Căn cứ từ những dữ liệu xác tín, linh mục Đỗ Quang Chính khẳng định tập tư liệu này được Bentô Thiện viết ở khoảng đầu năm hoặc giữa năm 1659. Nhờ đích thân Bentô Thiện viết cho một tư liệu lịch sử, giáo sĩ Marini không chỉ nhắm đến năng lực chữ quốc ngữ mà còn ở vốn kiến thức của người thầy giảng mà giáo sĩ từng biết qua thời gian truyền đạo ở vùng Kẻ Vó.
Với sáu tờ giấy viết chữ cỡ nhỏ ở hai mặt, tức 12 trang, phần nhiều được viết trong khổ 20x29cm, có thể nói tập LSNAN là văn bản quốc ngữ “dài hơi” đầu tiên của người Việt được lưu lại. Nhận thức rằng đây là “công trình” có giá trị với người nước ngoài, mà cụ thể là với vị giáo sĩ mình yêu kính, Bentô Thiện đã viết thành hai bản để gửi đến giáo sĩ Marini qua hai chuyến tàu, mỗi chuyến tàu một bản, để phòng rủi bị thất lạc ở chuyến tàu này thì còn có bản gửi ở chuyến tàu kia. Bản gửi theo chuyến tàu thứ nhất được tác giả ghi ở đầu thư là 1a via, còn bản gửi theo chuyến tàu thứ hai được ghi là 2a via. Và may mắn cho bảo tàng chữ quốc ngữ, cả hai bản sử lược này đều đến tay giáo sĩ Marini, tất cả đều còn được lưu giữ trọn vẹn ở văn khố dòng Tên tại La Mã.
Chỉ với 12 trang viết, LSNAN được viết hết sức đại lược. Tuy vậy những sự kiện chính yếu diễn ra ở các triều đại đều được tác giả kể ra, cả các chuyện Sơn Tinh - Thủy Tinh, Trọng Thủy - Mỵ Châu, Thánh Gióng cũng được ghi lại với những tình tiết hấp dẫn. Ngoài phần lược sử các triều đại, cây bút “viết quốc sử bằng chữ quốc ngữ đầu tiên” này còn dành phần nói về văn hóa: phong tục tập quán, việc hành chính, địa lý, điểm qua một số chùa chiền, nhà thờ...
“Họ nhà Mạc thì trốn lên Cao Bằng hết, còn có ai ở đâu thì Chúa (tức Chúa Trịnh) lại bắt. Nước Annam đã an hết về làm một nhà Lê mà thôi. Còn ông Đoan là cha ông Thụy ở trong Hóa xưa, thì Chúa Tiên đòi ra ở làm tôi, mà ông ấy thấy chúa chẳng yêu đãi cho đủ bao nhiêu, thì ông ấy lại trốn vào ở Quảng, thì Đức Chúa ngờ là về Thanh Hóa; chẳng ngờ ông ấy đã vào Hóa, thì Đức Chúa theo. Song le chẳng theo kịp, thì lại trở ra Kẻ Chợ mà trị cho đến con cháu bây giờ. Rày lại đánh nhau cùng Kẻ Quảng. Song le chửa biết đời trị loạn, thì chửa có tra vào sách” (trích).
Trong thời hoàng kim của chữ Việt - quốc ngữ hôm nay, đọc hai bức thư của hai thầy giảng Igesico Văn Tín và Bentô Thiện, nhất là bản LSNAN, sẽ giúp chúng ta thấy được phần nào tiến trình cùng tài năng, công sức lao nhọc của những người dựng xây ngôi nhà quốc ngữ buổi đầu.
HUỲNH VĂN MỸ - BẢO TRUNG
Hai sách quốc ngữ đầu tiên
Hai sách chữ quốc ngữ đầu tiên được xuất bản là Tự điển An Nam - Bồ Đào Nha - Latin và Phép giảng tám ngày. Được in và xuất bản tại La Mã năm 1651, Tự điển Việt-Bồ-La và Phép giảng tám ngày, theo linh mục Đỗ Quang Chính, được giáo sĩ Đắc Lộ viết ở Áo Môn khoảng từ năm 1637-1645.
Nhận thấy ý nghĩa và giá trị của hai quyển này, Tòa thánh La Mã đã cho phép Bộ Truyền giáo - vốn mới được thành lập từ giữa năm 1622 - in ấn và xuất bản ngay. In ấn sách chữ Việt lần đầu là một việc làm tốn nhiều công sức. Với các thanh điệu mới, cách ghép vần khác hẳn với chữ viết của các nước dùng mẫu tự Latin trong vùng vốn đã quen thuộc, để có thể in được chữ quốc ngữ, xưởng in của Bộ Truyền giáo đã phải đúc khuôn chữ in mới.
Với gần 500 trang, Tự điển Việt-Bồ-La, lúc đầu giáo sĩ Đắc Lộ chỉ soạn bằng hai loại chữ quốc ngữ và Bồ Đào Nha. Về sau, theo ý các vị bề trên ở La Mã, ông soạn thêm phần chữ Latin vào để tiện cho người Việt học tiếng Latin.
Phép giảng tám ngày - công trình về giảng dạy giáo lý - được Đắc Lộ viết bằng hai thứ chữ quốc ngữ - Latin. Theo nhà nghiên cứu Võ Long Tê dẫn theo linh mục Nguyễn Khắc Xuyên, quyển sách nổi danh về truyền dạy giáo lý này được Đắc Lộ biên soạn hay khởi thảo từ những năm 1627-1629.

Kỳ tới: Ai có công đầu với chữ quốc ngữ?

19 thg 4, 2014

Vì sao Israel tuyển dụng các binh sĩ mắc bệnh tự kỷ?

19/04/2014 11:30

(TNO) Quân đội Israel đã thành lập một đơn vị tình báo đặc biệt, chỉ tuyển những binh sĩ mắc bệnh tự kỷ, nhằm tận dụng khả năng đặc biệt của họ để phân tích các thông tin tình báo.


Các binh sĩ Israel - Ảnh: Reuters 
Bệnh tự kỷ là bệnh rối loạn phát triển hệ thần kinh với biểu hiện chậm phát triển về khả năng giao tiếp trong xã hội, không sử dụng được ngôn ngữ trong sinh hoạt hằng ngày…
Tuy nhiên, Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) cho rằng những binh sĩ mắc bệnh tự kỷ có khả năng phân tích đặc biệt, theo trang tin The Washington Free Beacon (Mỹ).
“Họ thậm chí có thể phát hiện ra những chi tiết nhỏ nhất mà nhiều người không thể phát hiện được”, IDF cho biết trong một thông cáo.
Người chỉ huy đơn vị tình báo đặc biệt của IDF, trung tướng J. (đề nghị giấu tên), cho biết chương trình tuyển dụng những binh sĩ mắc bệnh tự kỷ thành công trên cả những gì IDF kỳ vọng.
Ông J. nói nhiệm vụ của các binh sĩ mắc bệnh tự kỷ là phân tích hình ảnh từ vệ tinh và các thiết bị định vị trên không.
Với sự hỗ trợ của các binh sĩ khác và hệ thống giải mã, các binh sĩ mắc bệnh tự kỷ phân tích các hình ảnh nhằm cung cấp dữ liệu, thông tin tình báo quan trọng cho các chỉ huy lên kế hoạch tác chiến.
Ý tưởng tận dụng khả năng đặc biệt của người mắc bệnh tự kỷ trong việc phân tích thông tin tình báo xuất phát từ một cặp đôi từng phục vụ cho tình báo quân đội Israel.
Đại học Ono Academic (Israel) là đơn vị đầu tiên tổ chức các chương trình huấn luyện cho các binh sĩ mắc bệnh tự kỷ.
Những người mắc bệnh tự kỷ sẽ tham gia chương trình đào tạo kéo dài 3 tháng trước khi gia nhập quân đội Israel.
Các giáo sư của Ono Academic tiếp tục hỗ trợ binh sĩ khi họ đã tốt nghiệp và gia nhập quân đội Israel.
Nhóm binh sĩ mắc bệnh tự kỷ đầu tiên do Ono Academic đào tạo đã và đang làm việc rất thành công cho tình báo quân đội Israel, theo ông J.
Khi được hỏi về quan hệ giữa những binh sĩ bình thường và binh sĩ mắc bệnh tự kỷ, ông J. cho biết họ có mối quan hệ rất tốt, cùng nhau ăn trưa và “rất bình thường”.
Phúc Duy
post 

15 thg 4, 2014

ĐỊNH MỆNH VIỆT NAM 3

Người dịch Trà Điêu từ Blog Xuyên Sơn

Bài đọc liên quan:

Trên thực tế, sự tồn tại tiếp tục của chính thể cộng sản trên bề mặt của một Việt Nam đang ở triền dốc của chủ nghĩa tư bản một phần nào có thể được giải thích là bởi lòng tin nơi tính quốc gia của đảng, một đảng từng lãnh đạo đất nước trong các cuộc kháng chiến chống lại Pháp, Mỹ và Trung Quốc. Hơn nữa, như là trường hợp của Tito đối với Nam Tư hay Enver Hoxha đối với Albania, Hồ Chí Minh là một lãnh tụ đi lên từ trong nước chứ không phải được đặt ngồi cai trị xứ sở bởi một đội quân xâm chiếm, như tại nhiều các quốc gia cộng sản còn lại. Hơn nữa, những người cộng sản Việt Nam luôn thể hiện sự tương đồng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với triết lý Khổng giáo, điều được xem trọng bởi gia đình và chính quyền. “Chủ nghĩa dân tộc được xây trên nền tảng Khổng giáo,” Lê Chí Dũng từ Bộ Ngoại giao nói. Neil Jamieson viết rằng “cái đặc tính “chuyên chế” chung ấy của người Việt Nam” mang dáng vẻ của một vài “trật tự đạo đức” cơ bản, đã được xác định trên thế giới.” Điều đó đến phiên nó, liên quan đến tinh thần chính nghĩa [chinh nghia, được tác giả viết trong nguyên bản tiếng Anh], có thể tạm dịch như là một nghĩa vụ xã hội, đối với gia đình của mỗi người và đối với một nhóm liên kết rộng hơn.

Một lý do khác khiến chủ nghĩa cộng sản bền vững ở đây chính là do bản chất thực sự của nó đã không còn, và một cuộc nổi dậy hiện nay là không cần thiết, dĩ nhiên sẽ phải trả giá cho một sự cải cách không đầy đủ. Việt Nam ở trong hoàn cảnh tương tự Trung Quốc: lãnh đạo bởi một Đảng Cộng sản có tất cả mọi thứ nhưng đã từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, và có một khế ước xã hội áp đặt lên dân chúng, qua đó đảng đảm bảo mức thu nhập đời sống cao hơn hoặc được giữ nguyên trong khi người dân đồng ý không phản kháng quá mức. (Việt Nam cuối cùng cũng không thể khác được Trung Quốc, do họ đã cùng dấn vào những trải nghiệm tương đồng: giải phóng cho giới tư bản giàu có trong một đất nước cai trị bởi đảng cộng sản.)

Hẵng nghĩ về điều này, ở đây đã có một xã hội đã đi từ chỗ phải đong đếm khẩu phần đến chỗ trở thành một trong những nơi có nguồn lương thực thặng dư lớn nhất thế giới trong vòng chỉ một phần tư thế kỷ. Việt Nam hiện nay về mặt thống kê thuộc nhóm các nước có thu nhập thấp hơn mức trung bình với GDP bình quân đầu người là 1.100 USD. Thay vì chỉ có một nhân vật lãnh đạo bị căm ghét với hình ảnh luôn xuất hiện mọi nơi, như trường hợp xảy ra tại Tunisia, Ai Cập, Syria và một số nước A rập khác, tại đây là hình thức tam đầu chế ít lộ diện của các lãnh đạo – Tổng bí thư đảng, Chủ tịch nước, và Thủ tướng – và dẫn dắt một sự tăng trưởng GDP bình quân hàng năm là 7% từ năm 2002 đến năm 2012. Ngay vào thời Đại suy thoái năm 2009, kinh tế nội địa có mức tăng trưởng 5.5%.  “Đó là một trong những kỷ lục ấn tượng nhất của các nước đang giảm nghèo trong lịch sử thế giới.” Một nhà ngoại giao Phương Tây phát biểu thế. “Họ đã chuyển từ đi xe đạp lên xe máy.” Điều đó đối với họ có thể là dân chủ. Và thậm chí nếu không phải thế, một người có thể nói nền độc tài của Việt Nam và Trung Quốc  không cướp bóc thành quả lao động của nhân dân như cái cách đã xảy ra tại Trung Đông. “Giới lãnh đạo Trung Đông ẩn mình trong tháp ngà quá lâu và để đất nước nằm trong tình trạng khẩn cấp hàng chụp thập kỷ, và điều đó không xảy ra ở đây,” một cựu viên chức cao cấp Việt Nam nói với tôi. “Nhưng vấn đề của tham nhũng, hố chênh lệch thu nhập sâu, thất nghiệp giới trẻ cao thì chúng tôi chung tình cảnh với Trung Đông.” Sự đe dọa đối với Đảng Cộng sản ở đây ít mang nguy cơ Mùa xuân A rập hơn cuộc nổi dậy của sinh viên xảy ra tại Trung Quốc năm 1989, thời gian mà lạm phát xảy ra tại Trung Quốc cũng cao như tại Việt Nam cho đến những năm gần đây, khi bệnh tham nhũng và thói con ông cháu cha được dân chúng nhận diện là không thể kiểm soát: trường hợp này lặp lại với Việt Nam. Và rồi, viên chức đảng cũng lo ngại rằng cải cách chính trị sẽ lái họ rơi vào lại con đường của Nam Việt Nam đã đi trước năm 1975, khi mà một chính phủ yếu, bị chia xẻ bởi nhiều phe cánh, đã dẫn đến việc đất nước sụp đổ; hoặc như Trung Hoa thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, với một chính quyền trung ương yếu ớt đã dẫn đến việc bị ngoại bang đô hộ. Do vậy, các viên chức Việt Nam công khai bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với Singapore: một quốc gia-tập đoàn độc đảng thống trị đưa đến sự kỷ luật và một chính phủ trong sạch, là một cái gì mà một chính thể tham nhũng đang ngự trị như tại Việt Nam còn đang còn ở rất xa.

Mô hình Singapore đã thể hiện rõ ràng trước mắt  tôi qua Khu Công nghiệp Việt Nam-Singapore, cách Thành phố Hồ Chí Minh (hay còn gọi là Sài Gòn như tất cả những ai không liên quan đến các viên chức chính phủ) hai mươi dặm. Tôi chứng kiến hình ảnh một thế giới tương lai với những con đường quy hoạch chạy theo lề phải, được bảo trì và chăm sóc tốt, trong một môi trường được bảo vệ an ninh đầy đủ, tại đó 240 xí nghiệp sản xuất đến từ Singapore, Malaysia, Đài Loan, Hàn Quốc, Châu Âu, và từ Mỹ chế tạo ra dụng cụ golf cao cấp, vi mạch điện tử, y phẩm, giày cao cấp, điện máy không gian, và nhiều thứ khác. Trong giai đoạn mở rộng tiếp theo, các căn hộ cao cấp được lên kế hoạch xây tại chỗ cho lao động nước ngoài sống và làm việc. Một giám đốc sản xuất người Mỹ ở đây nói với tôi rằng công ty của ông ta chọn Việt Nam cho những vận hành kỹ thuật cao của họ qua một quá trình sàng lọc: chúng tôi cần hạ giá thành lao động. Chúng tôi không muốn đặt xưởng ở Đông Âu hay Châu Phi [nơi không có người lao động châu Á]. Tại Trung Quốc thì chi phí nhân công đã bắt đầu tăng cao. Indonesia và Malaysia theo đạo Hồi, và điều đó đã làm chúng tôi lo ngại mà tránh xa. Thái Lan gần đây trở nên bất ổn. Và Việt Nam hiện ra trước chúng tôi: nó giống như Trung Quốc hai thập kỷ trước, đang ở ngưỡng của sụ bùng nổ.” Ông ta nói thêm: “Chúng tôi đưa cho những nhân viên người Việt các bài test độ thông minh. Điểm của họ cao hơn các công nhân của chúng tôi ở Mỹ.”

Có ba Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore khác ở đất nước này, mà mục tiêu là đem các tập đoàn, đem sự sạch sẽ hoàn hảo, đem môi trường xanh, và mô hình quản lý phát triển kiểu Singapore đến cho Việt Nam. Nó nằm trong số bốn trăm Khu công nghiệp trên khắp Việt Nam, từ nam chí bắc, và tất cả chúng dù to hay nhỏ đều thể hiện việc thúc đẩy cùng một giá trị của mô hình quản lý theo kiểu Phương Tây và tính hiệu quả. Các siêu đô thị hiện tại là Sài Gòn và hành lang Hà Nội – Hải Phòng không thể tái sinh để mọi thứ có thể hoàn hảo hơn, những tồn tại của chúng không thể hoàn toàn loại bỏ: tương lai là các thành phố mới sẽ chia bớt sức ép dân số của các thành phố cũ. Sự hiện đại thực sự phải có nghĩa là phát triển nông thôn sao cho ít người muốn chuyển từ đó lên thành phố sinh sống hơn. Những Khu công nghiệp đó, với Singapore như hình mẫu chính, sẽ giúp thay đổi nông thôn Việt Nam. Do toàn bộ mong muốn của họ là có thể tự trang bị, nên họ đã đem theo với họ cả hạ tầng, như điện và nước, và cả một cửa hàng tiện ích cho các xí nghiệp nước ngoài đang tìm kiếm giấy phép từ chính phủ.

Trong khi Việt Nam thống nhất về mặt chính trị qua việc những người cộng sản Bắc Việt chiếm được Sài Gòn và đổi tên nó thành Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1975, thì chỉ bây giờ, qua các khu công nghiệp và các ý nghĩa khác của sự phát triển, Việt Nam mới trở nên thống nhất về kinh tế và văn hóa, qua một tiêu chuẩn toàn cầu về sản xuất đã liên kết Hà Nội và Sài Gòn. Bởi vì giai đoạn mới nhất này của phát triển liên quan đến đầu vào trực tiếp từ các con hổ kinh tế Châu Á khác, Việt Nam trở nên hội nhập ngày càng nhiều với phần còn lại của khu vực và qua đó trở nên dễ dãi hơn với sự mất mát một phần chủ quyền mà một ASEAN lớn mạnh hơn trong tương lai có thể dẫn tới.

“Tinh thần dân tộc của Việt Nam chỉ chĩa vào Trung Quốc, một kẻ thù lịch sử, chứ không về phía các quốc gia khác trong khu vực,” Đặng Thành Tâm, một nhà doanh nghiệp hàng đầu Sài Gòn, nói với tôi. Tâm ngồi trước một bàn làm việc trống trải, sử dụng hai smartphone gần như cùng lúc, là hiện thân của Sài Gòn mới, mà, do việc mất  đi vai trò thủ phủ chính trị vào năm 1975, đã từ đó trở về sau đã dành hết tiềm lực của mình hoàn toàn cho thương mại. Trong lúc Hà Nội là Ankara của Việt Nam, Sài Gòn chính là Istanbul. Saigon Invest Group của Tâm đại diện cho hơn tỷ đô la đầu tư vào các khu công nghiệp, lĩnh vực viễn thông, sản xuất, và hầm mỏ.  Ông ta vừa khởi công hai mươi lăm khu công nghiệp dọc suốt hành lang nam – bắc Việt Nam. Ông nói với tôi: “Tương lai thuộc về sự phi tập trung hóa đi đôi với một chính phủ có trách nhiệm hơn, và gắn liền với một tỷ lệ sinh đẻ còn cao đối chiếu với dân số già của Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.”

Trong khi ở Hà Nội bạn nghe nói đi nói lại là Việt Nam mong muốn trở thành một thế lực trong khu vực và một quốc gia quan yếu, tại Sài Gòn bạn sẽ nhìn thấy sự thể hiện của điều đó. Mọi thứ đều ở một quy mô to hơn ở Hà Nội, đường sá rộng rãi với cửa hiệu lập lòe đèn sáng, các salon bán ô tô đời mới, các nhà cao tầng được bao phủ bởi kính và thép. Những quán bar đầy phô trương, những tiệm ăn quy mô to lớn thể hiện hơi hướng Pháp, với chút gì đó cáu kỉnh tinh quái của một thành phố cựu thuộc địa Pháp. Khách sạn Continental, khung cảnh chính của tác phẩm Một người Mỹ trầm lặng năm 1955 của Graham Greene, và là nơi trú đóng của các ký giả ngoại quốc trong cuộc chiến tranh Việt Nam, - với sự hiện hữu của một sảnh cưới trắng toát và những chiếc cột kiểu tân cổ điển đang thì thầm nhỏ nhẹ và cười nhạo quá khứ - đơn giản là đã khuất lấp giữa những cám dỗ mới và những biển hiệu khách sạn mới mọc lên.

Thống kê của Mỹ nửa thế kỷ trước cho thấy Sài Gòn có 2,5 triệu dân và GDP đầu người là 180 USD; bây giờ có dân số tám triệu người, và GDP đầu người là 2,900 USD. Sài Gòn chiếm một phần ba GDP cả nước, mặc dù dân số chỉ chiếm một phần chín. Một trăm tỷ đô la sẽ được đổ vào đây cho một trung tâm thành phố mới quy hoạch bởi một công ty từ Boston, với một tòa nhà trăm tầng và năm cây cầu cùng đường hầm mới. Một công ty Nhật đang xây dựng hệ thống tàu điện ngầm với sáu tuyến. Các viên chức từ Viện Nghiên cứu Phát triển Sài Gòn nói với tôi rằng họ nhấn mạnh yếu tố phát triển “phù hợp”: một mô hình “xanh” với một hệ thống “toàn cầu – khu vực.” Những khu vực hạn chế sẽ ra đời, cũng như sẽ không cho sử dụng xe gắn máy và ô tô tư nhân tại nhiều nơi thuộc trung tâm thành phố mới và cũ. Lại một lần nữa mô hình Tập đoàn Singapore  lại được dẫn chiếu, để nói về một thành phố “đẳng cấp thế giới” nhưng già cằn về mặt thẩm mỹ học, với một sân bay mới và trung tâm trung chuyển hàng hóa đường không cho Đông Nam Á, và một hải cảng với công suất lớn hơn.

Hà Nội là kỳ vọng về địa chính trị và quân sự, Sài Gòn thịnh vượng kiểu tư bản sẽ không bao giờ thành hiện thực nếu thiếu đi kỳ vọng đó. Một Sài Gòn Mở rộng [hay Sài Gòn To lớn hơn, người dịch thêm vào]  sẽ là một mô phỏng của Singapore  giúp cho Việt Nam đối chọi lại với Trung Quốc, đối thủ và kẻ bắt nạt lịch sử. Đó chính là thông điệp ở đây.

Dĩ nhiên, Sài Gòn Mở rộng còn là một điều mất rất lâu để đạt được. Việt Nam hiện nay còn đang ở giữa cơn khủng hoảng kinh tế tương tự như trường hợp của Trung Quốc: trong khi cả hai đảng cộng sản đã đem đến cho nhân dân những gặt hái ấn tượng về mức sống trong những thập kỷ gần đây, những tiến bộ tiếp theo đòi hỏi những cải cách sâu sắc và tự do hóa chính trị, điều đó sẽ tạo nên những thách thức lớn hơn bao giờ hết.
Trong khi ấy, những lãnh đạo cộng sản Việt Nam đang cố gắng dựa vào cái chất Phổ của họ, những chính sách kinh tế tư bản chủ nghĩa hà khắc của họ, và sự kiểm soát chính trị gắt gao để bảo toàn nền độc lập hằng khao khát của họ trước Trung Quốc. Họ biết rằng không giống với các nước của Mùa Xuân A rập, đất nước họ đối mặt với một kẻ thù bên ngoài đã xác định rõ (tuy rằng gần gũi về mặt ý thức hệ), và có thể làm dâng lên cao trào phản kháng chính trị của nhân dân họ. Nhưng giống như Ấn Độ, họ thận trọng trước mọi hình thức hiệp ước chính thức với Hoa Kỳ. Thật ra mà nói, sự cần thiết của một hiệp ước quốc phòng với Hoa Kỳ một khi nảy sinh ra, điều đó có thể chỉ ra rằng tình hình an ninh tại vùng Biển Đông khi ấy đã trở nên bất ổn so với hiện tại. Trong bất cứ trường hợp nào, định mệnh của Việt Nam, và khả năng của họ để không trở thành bị Phần Lan hóa [thuật ngữ Phần Lan hóa hình thành từ mối quan hệ của Liên Xô và Phần Lan trước đây, xem thêm Wiki – lời người dịch] bởi Trung Hoa, sẽ nói lên rất nhiều về khả năng để Hoa Kỳ có thể lại hướng sức mạnh của mình vào khu vực Thái Bình Dương trong thế kỷ XXI như định mệnh của Việt Nam đã dẫn dắt trong thế kỷ XX.

Asia Clinic, 9h10' Ngày thứ Ba, 15/4/2014

ĐỊNH MỆNH VIỆT NAM 2

Người dịch: Trà Điêu từ blog Xuyên Sơn

+ Bài đọc liên quan: Định mệnh Việt Nam 1

Tuy nhiên, trong khi mà Hoa Kỳ chỉ là một cấu thành bên lề của quá khứ Việt Nam, Trung Hoa lại là một thành tố cốt tử. Thuật ngữ đặc biệt Đông Dương [Indochina- người dịch lặp lại nguyên văn cho phù hợp logic phân tích của tác giả] đã phản ánh chính xác phạm vi mà ảnh hưởng của Ấn Độ đã hiện hữu suốt phần còn lại của Đông Nam Á, trong khi mà ảnh hưởng của Trung Hoa tập trung chủ yếu vào phần lớn của phía bắc Việt Nam. Có thể nói là sự “hỗn loạn kéo dài” của thời kỳ cuối Nhà Đường và thời kỳ chuyển tiếp mang tính bán hỗn độn tiếp theo sau của giai đoạn Ngũ Đại Thập Quốc vào thế kỷ X tại Trung Hoa đã tạo thời cơ cho nền độc lập của Việt Nam thành hình. “Lịch sử chính thống Việt Nam đã nhấn mạnh rất nhiều đến các cuộc phản kháng, chủ yếu là chống lại Trung Hoa.” Robert Templer đã viết như thế trong một quyển sách khảo cứu của ông về Việt Nam hiện đại: Bóng tối và cơn gió: một cái nhìn về nước Việt Nam mới. “Nỗi lo sợ bị đô hộ là bất biến và vượt qua mọi khác biệt về hệ tư tưởng, nó đã tạo ra cảm giác mỏng manh của sự lo âu và tinh thần phản kháng vì một cội gốc Việt.” Nỗi lo sợ của Việt Nam là một tất yếu sâu sắc vì Viêt Nam không thể chạy trốn thoát khỏi sự vây tỏa của người láng giềng khổng lồ phương bắc, có dân số đông gấp mười lăm lần Việt Nam. Người Việt Nam hiểu rằng vị trí địa lý đã chỉ định cho cách thức quan hệ với Trung Hoa: họ có thể chiến thắng trên chiến trường, nhưng sau đó vẫn phải cử người đến Bắc Kinh thể hiện sự thần phục. Đó là tình huống lạ lùng đối với một quốc gia trên thực tế là một hòn đảo như nước Mỹ.

Một nhà ngoại giao Việt Nam khác gỉải thích: “Trung Hoa xâm lấn Việt Nam mười bảy lần. Nước Mỹ xâm lấn Mexico chỉ có một lần, và hãy nhìn xem người Mexico nhạy cảm ra sao về điều đó. Chúng tôi lớn lên giữa những trang sách giáo khoa đầy ắp hình ảnh các anh hùng dân tộc chống lại ách đô hộ của Trung Hoa.” Hoặc như một chuyên gia Phương Tây về Việt Nam nhận xét: “hãy nghĩ xem người Canada ác cảm với Mỹ như thế nào, và rồi hãy tưởng tượng giả thử Hoa Kỳ đem quân vào Canada.”

Sự thù địch mang tính lịch sử của người Việt Nam đối với Trung Quốc, phần nào là do con người tạo ra, thời gian gần đây người Việt Nam thường nhấn mạnh đến những cuộc nổi dậy chống lại sự đô hộ của Trung Hoa trong thời kỳ cổ đại và cận đại, trong khi hạ thấp đi vai trò của nhiều thế kỷ “mô phỏng sát sao” Trung Hoa và những mối quan hệ tốt đẹp với nó, để phục vụ yêu cầu về một nguồn gốc quốc gia vững chắc. Tuy nhiên, ít có sự phủ nhận đối với việc Việt Nam hướng sự quan ngại của họ đến nước láng giềng phía bắc.

Nguồn gốc của Việt Nam thật là đặc thù vì nó đã hình thành “trên cơ sở và đối lập với” ảnh hưởng của Trung Hoa, theo như một bản tin của BBC. Việt Nam đã bắt đầu như là một tiền đồn phương nam của nền văn hóa Hoa hóa. Nó đã bị sát nhập bằng vũ lực vào Đế chế Hán của Trung Hoa vào năm 111 trước CN.  Từ đó về sau nó đã bị chiếm đóng bởi Trung Hoa hoặc bị buộc phải giữ vai phụ thuộc trong suốt gần một thiên niên kỷ, cho đến khi, như tôi đã đề cập, cuối cùng đã tự mình thoát ra khỏi ách đô hộ đó vào buổi hoàng hôn của Nhà Đường năm 939 sau CN. Từ đó trở về sau, các triều đại Việt Nam như Lý, Trần và Lê đã xác định vị thế to lớn của mình qua các cuộc kháng chiến loại bỏ sự kiểm soát của Trung Hoa ở phía bắc, đẩy lùi được những làn sóng xâm lăng của một đội quân to lớn hơn nhiều, như Neil L. Jamieson – cựu học giả của George Mason University đã viết trong Hiểu về Việt Nam. Không phải khi nào Việt Nam cũng thành công: đã có một thời kỳ Nhà Minh chiếm đóng từ 1407 đến 1427, điều đó minh chứng cho việc người Trung Hoa từ cuối thời kỳ Trung đại đã chưa bao giờ từ bỏ ý định xâm phạm nền độc lập của Việt Nam. Sự giải thích cho việc Nhà Thanh chấp nhận cho một Việt Nam độc lập vào thế kỷ XIX là ở chỗ do nước Pháp-“kẻ vẽ bản đồ” cứ khăng khăng vẽ phần lãnh thổ Đông Dương của mình vào phần này của Trung Hoa.

“Sự đóng góp mang tính Hoa hóa bao hàm tất cà mọi mặt của văn hóa, xã hội, và chính quyền, tử đôi đũa người nông dân cầm trên tay cho đến chiếc bút người học giả và viên chức sử dụng,” nhà nghiên cứu Keith Weller Taylor đến từ Cornell University đã viết như thế trong Sự ra đời của Việt Nam. Họ của người Việt Nam cũng như văn phạm và ngữ pháp, phong cách nghệ thuật và văn chương, đã phản chiếu sự ảnh hưởng sâu sắc của Trung Hoa. Thậm chí, văn học Việt Nam đã “thụ thai” với di sản Khổng giáo của Trung Hoa. Tiếng Hoa đã từng được sử dụng như ngôn ngữ của giới học giả như là chữ La tinh đã từng được sử dụng ở Châu Âu: và, cho dù gắn chặt với tiếng Hoa, tiếng Việt lại có ngồn gốc Môn – Khơ me và Thái. Trong suốt quá trình đó, văn hóa bình dânViệt Nam vẫn giữ được nét riêng biệt bên cạnh sự bành trướng của văn hóa xây nên bởi giới ưu tú của Việt Nam. Trong giới ưu tú, theo như lời chuyên gia Đông Nam Á Victor Lieberman của Michgan University, các quy tắc hành chính Trung Hoa đã được “tiếp thu tới mức nguồn gốc ngoại lai của nó là không thể chấp nhận.” Điều thúc đẩy cho mong muốn to lớn của Việt Nam tách khỏi Trung Hoa chính là sự tiếp xúc của họ với người Chăm và người Khơ me ở phương nam, những người mà bản thân họ chịu sự ảnh hưởng của các nền văn minh phi Hoa, đặc biệt là của Ấn Độ. Chính vì sự tương đồng quá to lớn với người Trung Hoa, người Việt Nam – như tôi đã đề cập - đã rất tự hào về những dị biệt nhỏ, và điều đó thậm chí đã có từ trong quá khứ và mãi tiếp thêm sức sống cho họ.

Chiến thắng quân sự ở phía bắc trước Trung Hoa, như chiến thắng của Hoàng đế Lê Lợi gần Hà Nội năm 1426, và ở phía nam chống lại người Chăm và người Khơ me vào những năm 1471 và 1778, tất cả những cái đó đã tạo nên một nguồn gốc quốc gia thật riêng biệt, được tô đậm thêm trong bối cảnh mà cho đến thời kỳ hiện đại, Trung Hoa hiếm khi để yên cho Việt Nam. Vào năm 1946, người Trung Hoa thông đồng với người Pháp để tiến quân chiếm đóng bắc Việt Nam để rồi sau đó được thay thế bởi quân Pháp. Năm 1979, như chúng ta đã biết, bốn năm sau khi Hoa Kỳ từ bỏ Việt Nam, 100 000 quân Trung Quốc đã tiến công xâm lược. Lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình “chưa bao giờ đánh mất sự căm thù tận xương tủy đối với người Việt Nam,” Robert Templer viết, và do đó đã âm mưu một chính sách “hút sạch máu Hà Nội”, qua việc đẩy Việt Nam vướng vào một cuộc chiến tranh du kích tại Cambodia. Hiện nay, những sự việc đang xảy ra như những xung đột tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc và Việt Nam tại Biển Đông, việc tàu chiến Trung Quốc xâm phạm Vịnh Bắc Bộ, nỗi thèm khát của Trung Quốc đối với một bờ biển dài 1,900 dặm của Việt Nam mở rộng ra các tuyến giao thương nối liền Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương, tất cả những cái đó trở thành lịch sử đang vận hành; trong khi cuộc chiến của Việt Nam với Mỹ thì đơn giản là không phải, ngoại trừ một điểm. Do Việt Nam đã từng chiến thắng nước Mỹ trong chiến tranh cho nên họ xem mình là bên chiếm ưu thế trong mối quan hệ song phương:  họ không có gì phải khổ tâm, đề phòng hay mất mặt trong một mối liên minh quân sụ trên thực tế trong tương lại với người Mỹ. Từ sâu thẳm, ngưởi Việt ít nhạy cảm với cuộc chiến với nước Mỹ vì họ đã là người chiến thắng.

Cuộc Kháng chiến chống Mỹ, như là cuộc xâm lược của Trung Quốc tiếp sau đó, và cuộc tiến chiếm của chính Việt Nam đối với Cambodia đã đưa cuộc xâm lược của Trung Quốc lên vị trí hàng đầu, tất cả là một phần của một quá trình lịch sử từ rất lâu đã là tương tự như thế. Đó là lịch sử của những cuộc chiến tranh trên bộ, phần nào dựa trên quá trình giải thực dân Phương Tây hóa. Ngày nay khi vấn đề biên giới trên đất liền đã được giải quyết, cuộc tranh đấu quốc gia chủ nghĩa tại nhiều nước Châu Á đã mở rộng ra biển; đặc biệt là tại Biển Đông. Thực tế là, Việt Nam có một truyền thuyết lập quốc qua đó đất nước được thành lập từ sự hợp nhất của Chúa Rồng Lạc Long Quân và nàng tiên Âu Cơ. Cùng nhau họ sinh ra 100 người con trai, năm mươi theo mẹ lên núi và năm mươi còn lại theo cha xuống biển. Di sản của người cha ngày nay dường như gắn chặt với số phận của Việt Nam, sau hàng mấy mươi năm bị chi phối bởi phần từ người mẹ.

“Biên giới trên bộ giờ đây không còn quan trọng đối với chúng tôi so với vấn đề Biển Đông,” Nguyễn Duy Chiến, Phó Chủ nhiệm Ủy ban biên giới Chính phủ, phát biểu. Chiến thể hiện trước tôi một phong cách làm nhớ lại ấn tượng của Lý Quang Diệu về các nhà lãnh đạo Việt Nam những năm 1970 quá sức nghiêm trọng và đặc sệt Nho phong. Chúng tôi gặp nhau trong một văn phòng đơn sơ và giản dị. Chiến vận một bộ đồ đơn giản. Cuộc gặp gỡ bắt đầu và kết thúc đúng thời gian hạn định và ông ta đã dùng suốt thời gian để trình bày một bản PowerPoint thật chi tiết, liên tục phản bác  mọi luận điểm của Trung Quốc trên mọi khía cạnh có thể.

Chiến bắt đầu với một giới thiệu tổng quát về tình hình biên giới: hai trăm điểm tranh chấp với Trung Quốc đã được giải quyết qua tám năm thương lượng vào những năm 1990, với công tác phân chia hoàn tất vào năm 2008. “So với 314 cột mốc biên giới có với Nhà Thanh Trung Hoa [khi bước vào thế kỷ XX], thì nay đã có tới 1,971 cột. Vấn đề không phải ở trên đất liền, mà là ở ngoài khơi.” Một phần ba dân số Việt Nam sống dọc theo bờ biển, ông ta nói với tôi, và lĩnh vực liên quan đến biển chiếm 50% GDP của Việt Nam. Việt Nam yêu cầu chủ quyền đối với một thềm lục địa hai trăm dặm tại Biển “Nam Trung Hoa” [ngoặc kép của người dịch] mà họ gọi là Biển Đông và bác bỏ chữ  “Trung Hoa” trong tên gọi đó. Điều dó cũng phù hợp với vùng đặc quyền kinh tế  theo định nghĩa của Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển. Nhưng Chiến cũng nhấn mạnh, thềm lục địa này có “phần chồng lấn” với vùng biển tuyên bố của Trung Quốc và của Malaysia, cũng như với phần của Cambodia và Thái Lan kế bên Vịnh Thái Lan. Địa hình của Vịnh Bắc Bộ đã tạo ra một vấn đề nan giải, với bờ biển phía bắc Việt Nam bị án ngữ bởi đảo Hải Nam của Trung Quốc, Chiến giải thích rằng Việt Nam và Trung Quốc đã giải quyết vấn đề bằng việc phân chia vùng vịnh giàu tiềm năng này làm đôi, trong khi vấn đề phần cửa vịnh vẫn còn để ngỏ cần phân chia tiếp.

“Nhưng chúng tôi không thể chấp nhận đường lưỡi bò – đường vẽ thô bạo của Trung Quốc tại Biển Đông. Trung Quốc nói rằng vùng biển này đang tranh chấp. Chúng tôi nói không. Đường lưỡi bò xâm phạm chủ quyền của năm quốc gia.”

Chiến giới thiệu với tôi hàng loạt bản đồ trên máy tính của ông, và nhắc lại một quá trình lịch sử dài. “Khi các vua Nhà Minh chiếm đóng Việt Nam trong một khoảng thời gian vào thế kỷ XV, họ đâu có cai quản Hoàng Sa và Trường Sa. Nếu các quần đảo này thuộc về họ, sao các vua Nhà Minh không vẽ vào bản đồ của họ?” ông dẫn tiếp “ vào đầu thế kỷ XX tại sao bản đồ của các hoàng đế Nhà Thanh sao chẳng hề xuất hiện Hoàng Sa và Trưởng Sa nếu chúng thuộc về Trung Hoa?” Vào năm 1933, Pháp gửi quân đến Hoàng Sa và Trường Sa, ông ta nói với tôi, bởi vì đó là một phần của Đông Dương thuộc Pháp, ngày nay thuộc về Việt Nam. Ông ta thêm rằng vào năm 1956 và sau đó năm 1988, Trung Quốc đã dùng “sức mạnh quân sự” để chiếm lấy các bãi đá ở Hoàng Sa. Cuối cùng, ông ta giới thiệu một trang về nhà thờ Santa Maria del Monte tại Italy, nơi lưu trữ một tài liệu địa lý viết tay từ 1850, với một trang rưỡi trình bày rõ rằng Trường Sa thuộc về Việt Nam như thế nào. Sự quả đoán của ông với những chi tiết trình bày đó có một mục đích, như tại những bản đồ được trình bày tiếp theo trong bản PowerPoint, thể hiện phần lớn của Biển Đông, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa, được chia thành những ô vuông tí hon thể hiện những khu mà Việt Nam có thể nhượng quyền khai thác dầu mỏ cho các tập đoàn quốc tế trong tương lai.

Một viên chức ngoại giao nói: “ Khi đến với Biển Đông, thái độ ban đầu của Trung QUốc là rất lúng túng, người của chúng tôi còn nhớ rõ về điều đó.” Phó Đô đốc hải quân Nguyễn Viết Nhiên, Phó tư lệnh Hải quân Nhân dân Việt Nam, gọi đường lưỡi bò là “vô căn cứ.” Gặp gỡ tại Bộ tư lệnh Hải quân tại Hải Phòng – nơi từng bị Hoa Kỳ ném bom dữ đội từ 1965 đến 1972 – Phó Đô đốc Nhiên cho tôi thấy một sự khẳng định cương quyết nữa của Việt Nam. Phía sau ông là một bức tượng bán thân to của Hồ Chí Minh và một tấm bản đồ lớn thể hiện mọi vùng tuyên bố cạnh tranh tại “Biển Đông” như ông thường xuyên nhắc đến. Với bốn mươi lăm phút trình bày, ông chỉ rõ từng hành vi quân sự của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa: đặc biệt là việc xâm chiếm phần phía tây của quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 từ tay của chính thể Sài Gòn đang suy yếu. Đường lưỡi bò, ông cho rằng, là một “giấc mơ lịch sử” của Bắc Kinh hơn là một yêu cầu chủ quyền mang tính pháp lý, mà, cái việc đưa vào để tranh luận giữa các nhà lãnh đạo Bắc Kinh với nhau về điều đó, cuối cùng có thể sẽ khép lại toàn bộ hay một phần đề tài này trong các cuộc thương lượng trong tương lai. Thêm vào đó, việc Trung Quốc xây dựng một hạm đội mạnh và dẫn dắt kinh tế Đông Á theo cái cách mà họ đang làm, có thể dẫn tới việc Trung Quốc thống trị Biển Đông như Hoa Kỳ đã từng thống trị vùng biển Caribe vào thế kỷ XIX. Thiếu tướng Lê Kim Dũng giải thích rằng sự bành trướng của nền kinh tế Trung Quốc – dù chậm – sẽ dẫn đến sự hiện diện rõ rệt của hạm đội của họ tại Biển Đông, đi đôi với niềm khao khát khai thác nguồn năng lượng tại đây. Bày tỏ quan điểm đối mặt với sự bành trướng đó, Việt Nam dựa vào một tinh thần dân tộc đang dâng cao - với cường độ mãnh liệt – đã từng thể hiện trong các cuộc chiến tranh trên đất liền các thập kỷ trước đây.

Người Việt Nam rất thường nói với tôi rằng Biển Đông không đơn thuần là một sự tranh chấp lãnh thổ: đó là ngã tư đường của thương mại hàng hải, là yếu tố sống còn về nhu cầu năng lượng của Hàn Quốc và Nhật Bản, và chính là nơi mà một ngày nào đó Trung Quốc có thể nắn gân sức mạnh của Hoa Kỳ tại Châu Á. Việt Nam tán thành ý nghĩa lịch sử và văn hóa của cái cách mà các nhà làm chính sách quản lý của Obama đã đặt tên cho thuật ngữ “Indo-Pacific”: Ấn Độ cộng với Đông Á.

Không gì minh họa rõ nét hơn cho mong muốn của Việt Nam trở thành vai chính trong khu vực bằng hành động qua đó họ đã mua sáu tàu ngầm hiện đại lớp Kilo từ Nga. Một chuyên gia quốc phòng Phương Tây nói với tôi rằng việc mua chúng chưa mang ý nghĩa gì cả. “Người Việt Nam sẽ thực sự sốc khi họ biết được rằng việc bảo dưỡng những chiếc tàu đó sẽ tốn kém thế nào.” Quan trọng hơn, Việt Nam sẽ phải đào tạo đội ngũ thủy thủ biết sử dụng chúng, một việc sẽ mất cả một thế hệ để làm được. “Thay vì ngồi đếm số tàu ngầm của Trung Quốc, họ nên tập trung vào các khí tài chống tàu ngầm và phòng vệ bờ biển là tốt hơn.” Rõ ràng, việc Việt Nam mua tàu ngầm là để nâng cao thanh thế, để chỉ rõ rằng chúng tôi nghiêm túc.  Theo chuyên gia quốc phòng này, người Việt Nam “ đề cao cảnh giác” từ việc Trung Quốc tiến hành xây dựng căn cứ tàu ngầm nguyên tử dưới đất tại đảo Hải Nam trong Vịnh Bắc Bộ.

Giao dịch nhiều tỷ đô là mua tàu ngầm của Nga bao gồm cà 200 triệu đô la cho việc cải tạo Vịnh Cam Ranh, một trong những nơi bỏ neo sâu nhất Đông Nam Á, trấn tọa những con đường hàng hải tại Biển Đông, và là căn cứ quan yếu của quân đội Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Người Việt Nam nói rằng họ có ý định sử dụng Vịnh Cam Ranh cho các tàu nước ngoài. Ian Storey, Nghiên cứu sinh Học viện Nghiên cứu Đông Nam Á tại Singapore, nói rằng một người Việt Nam không nêu tên đã phát biểu rằng việc đại tu Vịnh Cam Ranh sẽ “đẩy mạnh quan hệ quốc phòng với Hoa Kỳ và tạo thuận lợi cho sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại Đông Nam Á như là một đối trọng cho sức mạnh đang lên của Trung Quốc.” Vịnh Cam Ranh là một địa điểm hoàn hảo cho chiến lược “vị trí không đóng căn cứ” của Lầu Năm Góc, là căn cứ quân sự của nước ngoài mà tàu chiến và máy bay Mỹ có thể viếng thăm để sửa chữa và tiếp nhiên liệu mà không cần phải có những thỏa ước khung nhạy cảm về chính trị và nghi thức. Các tàu chiến Hoa Kỳ - hàng không mẫu hạm, khu trục hạm, tàu tiếp liệu, tàu cứu thương đã thường xuyên định kỳ ghé thăm các cảng của Việt Nam. Ngô Quang Xuân, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, bồi thêm: “Sự hiện diện của Hoa Kỳ là cần thiết cho một bối cảnh hàng hải tự do tại Biển Đông.”

Một mối quan hệ chiến lược trên thực tế giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã được thể hiện  ít nhất là từ tháng bảy 2010 tại Diễn đàn Khu vực ASEAN tại Hà Nội, khi Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tuyên bố rằng Hoa Kỳ có một mối “lợi ích quốc gia” tại Biển Đông, rằng Hoa Kỳ sẵn sàng tham gia vào nỗ lực đa phương để giải quyết tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông, và rằng tuyên bố lãnh hải phải trên cơ sở yếu tố đất liền: nghĩa là, trên cơ sở trải rộng của thềm lục địa, một nguyên tắc đã bị vi phạm bởi đường  kẻ vạch hay còn gọi là đường lưỡi bò của Trung Quốc. Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Yang Jiechi gọi ý kiến của Clinton  là “một sự chống đối lại Trung Quốc thật sự.” Các viên chức Hoa Kỳ cơ bản là coi thường phát biểu của Yang. Có lẽ không điều gì có thể minh chứng rõ việc Washington xích lại gần Việt Nam hơn là việc hai bên ký kết thỏa thuận năng lượng hạt nhân phục vụ dân sinh ba tháng trước mà theo đó về mặt lý thuyết Hoa Kỳ đồng ý hỗ trợ Việt Nam xây dựng một cơ sở năng lượng hạt nhân.

Thực tế là, không có quốc gia nào bị đe dọa bởi sự lớn mạnh của Trung Quốc bằng Việt Nam. Hãy nhìn việc Việt Nam tiếp cận ASEAN. Dĩ nhiên là Việt Nam muốn ASEAN mạnh hơn, để làm đố trọng với Trung Quốc, họ đã thực tế, họ nói với tôi như vậy. Họ biết rằng sự trỗi dậy mạnh mẽ của tinh thần quốc gia chủ nghĩa ở Châu Á – đối lập với tư tưởng hậu quốc gia chủ nghĩa nhiều thập kỷ tại Châu Âu – đã ngăn cản sự hội nhập giữa các nước thành viên ASEAN. “ASEAN thậm chí không phải là một thể thống nhất thuế quan – điều đã làm cho nó trở thành một khối trao đổi thương mại ở mức thấp,” một viên chức nói. Giữa những tấm màn nhung đỏ của bộ ngoại giao, bên bộ ấm trà tráng lệ và trong khung cảnh kiến trúc kiểu Pháp –Á, tôi đã được nghe tham vấn về những chiến lược cơ bản của Trung Quốc, mà theo người Việt Nam, là nhằm trì hoãn mọi cuộc đối thoại đa phương với các nước Đông Nam Á liên quan đến các tranh chấp về Biển Đông trong khi mà Bắc Kinh khẩn trương lớn mạnh hóa quân đội của họ, và, một cách cố tình, lôi kéo sự nhượng bộ của từng quốc gia Đông Nam Á riêng biệt khỏi cuộc bàn luận đa phương  - chia cắt để chế ngự, nói một cách khác. Hạm đội  củaTrung Quốc, các viên chức quốc phòng Việt Nam nói với tôi, đã thực sự to lớn hơn của tất cả các nước ASEAN gộp lại.

Nhưng Việt Nam không có lý do gì để xa lánh Trung Quốc hay nằm vào vòng tay của Hoa Kỳ. Việt Nam đã quá phụ thuộc vào (và quan hệ mật thiết với) Trung Quốc. Như chuyên gia người Australia Carlyle Thayer phân tích, mối quan hệ quân sự Việt Nam – Trung Quốc đã phát triển song song với mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ. Trong khi Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, Việt Nam nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc nhiều hơn từ bất cứ quốc gia nào khác – vải vóc, máy móc, phân bón, thuốc trừ sâu, hàng điện tử, da giày, một loạt sản phẩm tiêu thụ, ta có thể liệt kê. Nền kinh tế nơi đây đơn giản là không thể vận hành mà thiếu đi Trung Quốc, ngay cả khi Trung Quốc qua việc tràn ngập thị trường Việt Nam với hàng hóa giá rẻ, đã hạn chế sự phát triển của khu vực sản xuất nội địa. Hơn thế, các viên chức Việt Nam bị ấn tượng bởi hoàn cảnh bất cân xứng về địa lý của họ, như họ nói, nước xa không cứu được lửa gần. Trung Quốc thì ngay kế cận còn Hoa Kỳ thì cách nửa vòng trái đất, điều đó có ý nghĩa như là việc người Việt Nam phải nhẫn nhục chấp nhận việc tàn phá môi trường do Trung Quốc khai thác quặng bauxit tại vùng Tây Nguyên màu mỡ, một dự án như nhiều dự án khác khắp đất nước sử dụng lao động người Trung Quốc hơn là sử dụng lao động người Việt Nam. “Chúng tôi không thể chuyển [đất nước mình-người dịch] đi nơi khác, về mặt thống kê chúng tôi chỉ to bằng một tỉnh của họ.” Nguyễn Tâm Chiến, một cựu Thứ trưởng Ngoại giao nói với tôi.

Với việc Liên bang Xô viết đã không ra tay hỗ trợ Việt Nam năm 1979, người Việt Nam sẽ không bao giờ lại đặt niềm tin vào một thế lực xa xôi. Do địa lý, người Việt Nam ở một mức độ nền tảng cơ sở nào đó không thể tin vào Hoa Kỳ. Một quan chức nói với tôi rằng đơn giản là Hoa Kỳ đã yếu đi, và hoàn cảnh còn tệ hơn, ông ta biện luận, khi Hoa Kỳ đặt mối quan tâm vào vấn đề Trung Đông nhiều hơn là việc trỗi dậy của Trung Quốc tại Đông Á. Đó là một phân tích chủ quan, tuy nhiên cũng có thể đúng, hoặc đúng một phần. Và vẫn còn đó nỗi lo sợ Hoa Kỳ sẽ bán đứng Việt Nam để đổi lại mối quan hệ nồng ấm với Trung Quốc: Xuân, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại, nhắc lại rõ sự kiện Nixon mở cửa quan hệ với Trung Quốc như là hành động trao cho Trung Quốc một bối cảnh chiến lược thuận tiện cho việc xâm lược Việt Nam. “Điều đó có thể lặp lại.” Ông ta gật gù thất vọng. Ngược lại, Việt Nam mong muốn Hoa Kỳ đóng một vai diễn lạnh lùng, thực tế trong nên ngoại giao toàn cầu, như là họ [Việt Nam] vậy. “Trở lực lớn nhất trong quá trình đối thoại với người Mỹ là vấn đề dân chủ và nhân quyền,” một viên chức cộng sản chính phủ nói với tôi. Người Việt Nam lo sợ điều đó bởi vì do tác động từ Quốc hội, truyền thông, hay từ nhiều nhóm áp lực khác ở Washington, người Mỹ có thể một ngày nào đó bán họ ra đưởng như là thời gian qua tại các nước độc tài hay bị giới quân sự chi phối khác: Thái Lan, Uzbekistan, và Nepal, thí dụ như thế. Người Việt Nam nhìn nhận sự miễn cưỡng trước đây của Hoa Kỳ kéo dài hàng mấy chục năm trong việc cân bằng cán cân với Trung Quốc tại Myanmar là xuất phát từ vấn đề nhân quyền và sự bướng bỉnh của Rangoon. “ Giá trị to lớn nhất phải là sự vững mạnh của đất nước và nền độc lập. Chính là một quốc gia, chứ không phải là từng cá nhân, có thể đem lại tự do.” Lê Chí Dũng, một Phó vụ trưởng của Bộ Ngoại giao, nói với tôi, cố gắng giải thích về triết lý chính trị của đất nước mình.

Đón đọc Định mệnh Việt Nam 3