27 thg 6, 2012

Không có ai gọi tôi trở dậy vào buổi cuối thu

Không có ai gọi tôi trở dậy vào buổi cuối thu
Mây trắng ngổn ngang bầu trời mấy chục năm về trước
Những cậu bé quàng khăn đỏ rảo bước nhanh con đường mới đắp

Rất nhiều người trong căn phòng rộng
Qua ô cửa khuyết
Tôi gọi hoài không ai nghe thấy

Bên dòng sông khói sóng dâng mù mịt
Trên con đường gió bụi xa xăm
Số phận giống câu thơ vừa viết xong, bị xóa
Bản nháp bài thơ gió nhấc lên tựa một lá bùa

Trên cánh đồng mẹ nằm cô quạnh
Mẹ hằng mong tôi khôn lớn một ngày.
Đâu đó bên hàng song thụ
Trên lớp lá thu còn một chiếc giày

Tôi hứa rằng không nói với ai
Câu chuyện sẽ mang theo mãi.

Không ai gọi tôi trở dậy vào buổi cuối thu
Tôi nằm viên mãn - chiếc lá vàng dưới hàng song thụ
Nếu mẹ tôi mà biết
Liệu mẹ tôi trách cứ các người...

DƯƠNG KIỀU MINH
Postest: TQS, 27/6/2012

26 thg 6, 2012

-Cái phi thường nhất của con người là làm một người bình thường ( Thiền ).

-Lẽ đời ngẫm nghĩ nên sung sướng
Danh hão mà chi lụy đến thân
                ( Đỗ Phủ )

- Cuộc sống không hoàn toàn là sung sướng hay đau khổ. Nó là việc quan trọng mà chúng ta phải gánh vác và hoàn tất trong danh dự.
                 ( Tomas de Torquemada , nhà làm luật Tây Ban Nha )


-Thành công hay thất bại của một cuộc đời , 70% là cái ngẫu nhiên, còn lại 30% là tài năng và đạo đức.
                                                                                                      ( Hữu Ngọc )


-Chưa biết thì đi cho biết. Biết rồi thì đi cho nhanh. Đi lạc sẽ biết thêm đường mới.


- Bạn hãy giữ cái gì là riêng của mình, hãy săn sóc làm sao cho nó phát triển tự do. Lúc một con người không có cái gì là riêng của mình, thì phải thấy ở người đó chẳng có gì hết. ( Gorki )



Thành gấm
Thành gấm non sông dệt chí người
Càng phô sắc thắm cảnh vui tươi :
Ấn trời tô điểm sâu tình nước (1)
Bút ngọc tuôn mây thắm nghĩa đời (2)
Lũy xưa quạnh quẽ ngăn giông tố (3)
Vách đá long lanh quét bụi mù (4)
Rồng vờn nước réo tươi khoai lúa (5)
Đá bủa sông giăng xác giặc vùi (6)
Non sông thao thức, phun mưa móc (7)
Đệm các êm đềm lướt dặm khơi (8)
Của sớm thung dung câu thế cuộc (9)
Đò chiều nhộn nhịp điệu hò vui (10)
Rừng rậm chênh vênh nai đùa giỡn (11)
Ao sen man mác chị Hằng bơi (12)
Cảnh này há dễ ai vùi dập?
Quyết trải thân ra giữ đắp bồi !

(1) Thiên Ấn niêm hà
(2) Thiên bút phê vân
(3) Cổ lũy cô thôn
(4) Thạch bích tà dương
(5) Long đầu hí thủy
(6) La hà thạch trận
(7) Vân Sơn dạ vũ
(8) An Hải sa bàn
(9) Thạch cơ điếu tẩu
(10) Hà Nhai vãn độ
(11) Vu Sơn lộc trường
(12) Liên trì dục nguyệt




25 thg 6, 2012

-Ta đi nhưng biết về đâu chứ
Đã dấy phong yên khắp bốn trời
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ
Uống say mà gọi thế nhân ơi !  ( Uống say rồi gọi thế nhân ơi ! )
    ( Hành phương nam,  Nguyễn Bính)


-Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt
Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà
    ( Phạm Hữu Quang, Cần Thơ )


-Giang hồ trốn vợ đi phiêu bạt
Đời đục lòng ta vẫn trắng tinh...


-Cuộc tàn quán vắng thương tóc bạc
 Gái đẹp ngồi bên nhớ vợ già
...
  Hiền sĩ ơi tuyệt đỉnh một tiếng " khà "
     ( Trần Vạn Giả )

-Liên hoa trì thượng đa nhân kiến
Ngọc ẩn sa trung thiểu  khách tri
 ( Sen trên mặt hồ thì nhiều người biết
 Ngọc ẩn trong cát mấy ai hay )

- Về đi em chợ chiều sắp vãn
 Nhớ mua cho anh một góc nhân tình
 Non nước cách xa bạn bè lận đận
 Anh nằm đây trò chuyện với riêng mình
                       ( Thu Bồn )

- Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
  Nhất sinh đê thủ bái mai hoa
                  ( Cao Bá Quát )
 ( Mười năm xuôi ngược giao du quyết tìm thanh gươm cổ
  Suốt đời chỉ biết cúi đầu trước hoa mai mà thôi )

-Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm
         ( Lê Bá Dương )


 -Nhất áp xuân giao vạn lí tình
Đoạn trường phương thảo đoạn trường oanh
Nguyện hương song lệ đề vi vũ
Minh nhật lưu quân bất xuất thành.
   ( Trần Mỹ Dung- Trung Hoa cổ, người yêu của  Phan Trung ).

Ngọc Liên dịch:
-Một chén xuân đưa vạn dặm tình
Não màu cỏ biếc não lời oanh
Xin đem dòng lệ làm mưa nhỏ
Mai sáng bên đường níu bước anh.

-Thư viết đừng xong, thuyền trôi chớ đổ
Để nghìn sau... lơ lửng... với nghìn xưa
                  ( Hồ Zếnh )

Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé
Tôi sẽ trách- cố nhiên- nhưng rất nhẹ
Nếu trót đi, em hãy gắng quay về;
Tình mất vui khi đã vẹn câu thề
Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở...

- Cơn bão nghiêng đêm
Cây gãy cành bay lá
Ta nắm tay em
Cùng qua đường cho khỏi ngã.
Cơn bão tạnh lâu rồi
Hàng cây xanh thắm lại
Nhưng em đã xa xôi
Và cơn bão lòng ta thổi mãi
             ( Tế Hanh )

- Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai.
Sự trục nhãn tiền quá ,
Lão tùng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa tận lạc,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
        ( Mãn Giác thiền sư )

Xuân qua trăm hoa rụng
Xuân lại nở trăm hoa
Trước mắt sự đời thoảng,
Trên đầu hiện tuổi già.
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Ngoài sân đêm trước một cành mơ.
  ( Hồ Xuân Hãn dịch )

   Trương Quang Sửu chép lại từ các sách đã đọc...
      ngày 26 tháng 6 năm 2012.

Con nợ của nhân gian   ( Di Li )




"Nhà phê bình cần tri thức và bản lĩnh. Tôi thấy mình có cả hai." Phạm Xuân Nguyên đã nói một câu rất ngạo như thế.

Tôi từng cộng tác với nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên nhiều lần, nói nhờ vả thì đúng hơn, và lần nào cũng lắm sự không thể không viết thành chuyện. Phạm Xuân Nguyên thì khối người nhờ vả, và cái tính cả nể của anh đâm thành giai thoại. Nhà văn Nguyễn Quang Lập có lần nói rằng Phạm Xuân Nguyên là người không thể nói "không". Từ sáng chí tối, anh "được" vô số lời mời, mời hội thảo, mời tọa đàm, mời khai trương, mời ra mắt sách, cả mời tiệc tùng đình đám, và "bị" nhờ, nhờ viết bài cho báo, nhờ dịch sách, nhờ viết tiểu luận, phê bình, nhờ làm MC, nhờ đọc tham luận, nhờ nhận xét, nhờ đủ thứ nhờ. "Được" hay "Bị", cái gì cũng cả nể mà không thể nói "không". Thật bi kịch khi Thượng đế không cho Phạm Xuân Nguyên 48 tiếng một ngày nhưng lại ban cho cái "đức" luôn luôn nói "có". Thế mới sinh ra chuyện.
Thoạt đầu tôi không biết điều ấy, mới nhờ Phạm Xuân Nguyên viết giùm cho một lời giới thiệu đầu sách. Là tôi được nhà xuất bản đề nghị đứng ra tuyển chọn một tập 18 tác giả trẻ. Lần đầu tiên làm việc này, tôi tâm huyết lắm. Và sau khi chọn chọn lựa lựa, tính tới tính lùi, tôi quả quyết rằng không ai khác có thể thực hiện được công việc rất quan trọng này giùm tôi ngoài Phạm Xuân Nguyên. Anh nhận lời ngay, một cái gật đầu rất sốt sắng (là lúc ấy tôi cảm thấy thế). Ngày hẹn trả bài đã đến, tôi gọi điện cho Phạm Xuân Nguyên. Anh bảo anh chưa xong, và nói bằng một giọng nghiêm trọng như đang khảo cứu một công trình lớn "Anh biết cuốn này em mất nhiều công sức, anh đọc cũng thấy thế nên muốn viết cho thật kỹ". Tôi cảm động lắm, lại cảm ơn rối rít và hẹn ngày trả bài.
Cùng hôm ấy, tôi đến công ty phát hành đã đặt hàng tôi tập sách. Tôi khoe rằng cuốn sách sẽ rất oách, vì chính Phạm Xuân Nguyên đã nói rằng "Anh biết cuốn này...". Chị giám đốc cười rộ "Ôi dào, ông ấy nói thế đấy. Đây này, vẫn còn nợ đây hai cuốn sách dịch hơn năm nay chưa trả được". Gặp biên tập viên của NXB Phụ nữ, tôi lại khoe về cuốn sách tuyển chọn đầu tay, và để chứng minh cho chất lượng của nó, chẳng gì bằng trích dẫn lại lời của Phạm Xuân Nguyên "Anh biết cuốn này...". Chị biên tập viên cười mím chi "Bác ấy nói vậy thôi, là lười chưa làm. Bác ấy vẫn còn nợ bên chị mấy việc đã xong đâu". - "Không, nhưng mà anh Phạm Xuân Nguyên bảo đã đọc cuốn của em rất kỹ...". Tôi chạnh lòng vì "công trình" của mình có vẻ bị phủ nhận, đành nói vớt mấy câu thế. "Thôi, có khi bác ấy còn chưa đọc đâu.", chị biên tập phẩy tay rồi nói sang chuyện khác.
Đến chiều, nhà văn Nguyễn Quỳnh Trang, phóng viên báo Thể thao&Văn hóa gọi điện cho tôi có công chuyện. Quỳnh Trang cũng có một tác phẩm trong tập. Nhân tiện tôi báo cho cô biết tập sách đã hoàn thành, chỉ còn chờ lời bạt của Phạm Xuân Nguyên nữa là đưa vào máy in. Tôi nhắc lại "Phạm Xuân Nguyên đã bảo rằng...". - "Ôi trời," Quỳnh Trang cắt ngang lời, "thế thì chị chờ còn lâu. Phạm Xuân Nguyên không có thời gian để làm việc ấy đâu. Chị không biết rằng nếu Phạm Xuân Nguyên nhận lời hẹn với ai mà trên đường đi gặp một người khác là chú ấy rẽ ngang vào quên ngay cuộc hẹn thứ nhất à?". Rồi Trang mắng tôi xơi xơi "Mà sao chị lại cứ nhờ ông ấy vào lúc này. Báo Tết bên em đang chờ bài của Phạm Xuân Nguyên, ngày in đến nơi rồi mà em phải giục suốt từ hôm nọ đến giờ. Thôi thôi, chị đừng nhờ vả gì nữa để chú ấy viết bài cho bọn em cho xong đi".
Lần này thì tôi tổn thương ghê gớm. Tôi gọi điện ngay cho Phạm Xuân Nguyên với vẻ không hài lòng. Tôi trách rằng tại sao anh nợ nần nhiều như thế mà còn nhận lời viết cho tôi. Phạm Xuân Nguyên bảo yên trí, yên trí, nợ rồi sẽ lần lượt được trả hết.
Từ bữa đó, niềm tin trong tôi bị lung lay. Tôi bắt đầu ráo riết "thúc nợ".
•-         Đây, đêm nay anh sẽ ngồi viết. Sáng mai em mở hộp thư ra sẽ thấy bài.
Tôi yên trí ngủ ngon.
Sáng sớm khấp khởi mở máy tính, vào mailbox. Không thấy bài.
•-         Em chưa thấy bài? Anh gửi lại đi.
•-         Vậy à? Thế thì anh còn đoạn kết nữa, nhất định đêm nay sẽ hoàn thành nốt.
Tôi chờ ngót một tháng sau mới nhấc máy điện thoại nhắc nhở "đoạn kết".
•-         Đúng 7 giờ sáng mai là em sẽ nhìn thấy bài. - Phạm Xuân Nguyên tuyên bố chắc nịch như thế.
Tất nhiên đến 7h tối hôm sau trong mailbox của tôi vẫn chỉ thấy toàn thư rác của Agoda, Airasia và Vietnamairline.
Trong khi đó, phía công ty sách liên tục giục giã "Em ơi, hay là thôi mình cứ in đi nhé. Hoặc em nhờ người khác. Chị nói rồi. Bác ấy không viết đâu".
Không. Tôi có thói quen đã làm việc gì là làm đến cùng, và cái việc thúc giục một "con nợ gan lì" như Phạm Xuân Nguyên cũng phải làm đến cùng.
Đúng đợt đó là Hội nghị quốc tế Văn học Việt Nam, tôi biết Phạm Xuân Nguyên đến đấy sẽ "sa vào lưới" của vô số những bạn văn trong nước và quốc tế. Tôi gọi điện ốp và ngạc nhiên khi thấy đang giờ "hot" của hội nghị mà Phạm Xuân Nguyên lại ở nhà.
•-         Đây, tôi phải ở nhà để viết bài cho chị. Có dám đi đâu đâu. Ai gọi điện mời mọc tôi cũng từ chối hết.
Tôi lại cảm động lắm lắm. Sáng hôm sau gặp Phạm Xuân Nguyên tại hội nghị. Như một phản xạ có điều kiện, lập tức tôi gào lên từ "Bài" thay cho câu "Chào".
•-         À, đúng chiều nay anh sẽ gửi.
•-         Sao lúc chiều qua anh bảo anh đang ngồi viết?
•-         Ừ thì... viết được nửa bài rồi thấy bí, đứng lên để đến đêm viết tiếp.
•-         Đêm viết tiếp thì bài đâu?
•-         Thì anh viết rồi thấy không ưng lại... xé đi viết lại.
Vẫn giọng nghiêm trang như đang đứng giữa hội thảo quốc tế. Trời đất Quỷ thần ơi. Cứ thế này thì phát điên lên mất.
Tôi biết Phạm Xuân Nguyên chưa đụng bút được chữ nào. Lần cuối cùng gọi điện thúc giục, tôi nghe tiếng chuông đổ một cách giận dữ khác thường, tôi đồ rằng Phạm Xuân Nguyên sẽ "trốn nợ" mà không dám nhấc máy, ai ngờ nhấc ngay sau hồi thứ hai. Miệng tôi còn tròn vo chưa kịp trút hết nỗi điên tiết thì từ đầu dây bên kia, giọng xứ Nghệ đã đều đều cất lên, nghiêm trang và kính trọng:
•-         Dạ thưa chị, em đây ạ. Chị có điều gì chỉ bảo?
Khuôn miệng tròn vo lại kéo ngang đến mang tai. Vừa buồn cười vừa tức anh ách. Và tôi đồ rằng mình không phải là người duy nhất ở nước Nam này điên tiết với Phạm Xuân Nguyên như thế.
Sau bận ấy thì tôi giận thật. Phạm Xuân Nguyên đành nói cùn "Càng tốt. Càng đỡ bị nhờ vả". - "Ừ, lần sau em cũng chẳng dám nhờ anh nữa".
Nhưng rồi tôi vẫn cứ phải nhờ vả Phạm Xuân Nguyên. Thiên hạ có tức thế nào thì tức, tức như phải đấm lần sau vẫn đành hạ giọng nhờ. Nhiều lần, nhà xuất bản tổ chức lễ ra mắt tác phẩm của tôi. Không thể nhờ ai khác ngoài Phạm Xuân Nguyên làm MC, dù rất không muốn nhún nhường năn nỉ một người mà mình đã tuyên bố "không thèm nhờ vả gì nữa". Người có khả năng hoạt ngôn, mà lại hoạt ngôn trong lĩnh vực văn học dường như tìm không nổi người mà đếm trên đầu ngón tay. Có Phạm Xuân Nguyên, người ta yên tâm chương trình dù bị phát sinh rắc rối, dù có khuyết thiếu, dù xuất hiện thêm nhiều thành phần quá khích vẫn thành công trong tiếng cười hỉ hả. Phạm Xuân Nguyên hoạt ngôn cả trên bàn tiệc cũng như trước sân khấu lớn, trước công chúng trong nước cũng như quốc tế. Dường như anh có cái biệt tài thâu tóm mọi đầu mối trong khán phòng để tung hứng với kho ngôn ngữ và chữ nghĩa lúc nào cũng đầy ắp. Thậm chí còn có thể biến một bài diễn văn rất dở và tẻ nhạt của một cử tọa thành điểm nhấn ấn tượng và hài hước. MC là viết tắt của từ Master of Ceremony (Người làm chủ buổi lễ) và Phạm Xuân Nguyên luôn trở thành người chủ của mọi buổi lễ mà anh tham dự. Đâm ra Phạm Xuân Nguyên thành rất "đắt sô". Từ talk show của Hội đồng Anh, tọa đàm văn học của Hội nhà văn, họp báo ra mắt sách cho đến các hội thảo văn học lớn nhỏ đều không thể không mời MC tay ngang này. Có bận một cháu bé lớp bốn khoe với chúng bạn rằng cái bác trên ti vi kia là bạn của bố tớ. Thế là nhân một sự kiện của nhà trường, "bố tớ" năn nỉ bạn quý Phạm Xuân Nguyên đến dẫn chương trình, giao lưu với các cháu. Nhà văn Trần Thanh Hà có lần bình luận rằng "Đến nói chuyện với các cháu lớp bốn, bác ấy còn nói được..."
Việc nước đã thế, đến việc tiệc tùng Phạm Xuân Nguyên cũng không thoát khỏi cảnh bị chèo kéo. Không biết có khi nào anh nghĩ rằng thiên hạ "giành giật" anh để nhờ vả hoặc chỉ để uống một ly rượu là sự khốn khổ hay hạnh phúc. Những bàn tiệc có anh không khi nào ngớt tiếng cười. Phạm Xuân Nguyên có một kho chuyện như cái nồi Thạch Sanh không bao giờ cạn. Hay có đôi khi, chỉ một cách chơi chữ, một từ phát kiến hoàn toàn mới cũng khiến cho những người cùng bàn phì cười bó tay trước kẻ mà sự phản ứng nhanh nhậy trong các nơ ron thần kinh dường như tỉ lệ thuận với tuổi tác. Phạm Xuân Nguyên có sự thông minh, hóm hỉnh và vừa khiêm nhường, vừa cao ngạo đặc thù của một ông đồ xứ Nghệ.
"Nhà phê bình cần tri thức và bản lĩnh. Tôi thấy mình có cả hai." Phạm Xuân Nguyên đã nói một câu rất ngạo như thế. Ngạo mà không ai trách. Ngạo mà không ai ghét. Người ta thường có một câu nhận xét rất chung về Phạm Xuân Nguyên "Gã này cực kỳ thông minh". Cho đến giờ này, Phạm Xuân Nguyên là người duy nhất ở Viện Văn học chỉ có bằng cử nhân, và là một trong số rất ít những người thuộc giới viết lách, phê bình chuyên nghiệp mà lại chưa in sách, chưa khi nào có ý gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam. Phạm Xuân Nguyên chả lấy đó làm điều. Đi đâu còn phàn nàn rằng "Cũng là hạn chế đấy, vì nhiều trường đại học muốn mời tôi về giảng mà tôi chỉ có bằng cử nhân". Chuyện này làm tôi nhớ đến nhà thơ Trần Hòa Bình, người chưa bao giờ in một tập thơ khi còn sống, chưa có chân trong Hội Nhà văn Việt Nam, và thấy loay hoay làm tiến sĩ một hồi rồi lại bỏ ngang, xách ba lô lên rừng xuống bể. Chỉ những người rất tự tin vào tri thức của mình, chỉ những người đã có danh tiếng, danh vị mà coi nó như thứ phù du mới có thể đứng giữa thiên hạ mà ngang như thế. Cũng thể như một ông tỷ phú sở hữu hàng trăm bất đống sản có lần từng nói vui rằng "Ôi dào, tôi mặc cái gì mà thiên hạ chẳng tưởng tôi mặc hàng hiệu".
Có một điều khiến tôi rất nể Phạm Xuân Nguyên là anh có thể tự học được ngoại ngữ. Là người làm việc trong chuyên ngành ngoại ngữ, tôi biết học một ngôn ngữ thứ hai gian lao như thế nào và cần phải có những quy trình gì. Vậy mà Phạm Xuân Nguyên tự học. Nhập ngũ ba năm thì cũng ôm mấy cuốn tự học nhàu nát mà xong được tiếng Nga, tiếng Pháp. "Xong" ở đây là mang nghĩa thành dịch giả chuyên nghiệp. Với bút danh Ngân Xuyên, dịch giả tự học Phạm Xuân Nguyên đã chuyển ngữ được cả những cuốn của Milan Kundera, một trong những tác giả khó dịch nhất, và những tập lý luận phê bình nặng ký. Nhưng có một điều kỳ quặc mà có lần tôi gợi ý nếu anh gửi hồ sơ rất có thể sẽ có tên trong Guinness. Ấy là anh dịch thành thạo được cả Anh, Pháp, Nga, nhưng chẳng nghe nói được câu nào, nửa chữ cũng không. Đi dự hội thảo quốc tế chỉ biết cười hì như người dốt thật. Vậy mà chẳng biết làm cách nào vẫn giao tiếp thân thiết được với Cao Hành Kiện và nhiều bậc danh gia khác. Có bận tôi sang Bắc Kinh, trong quá trình công tác có làm việc với dịch giả Điền Tiểu Hoa. Tôi hỏi chị có biết nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên không. Điền Tiểu Hoa quay sang nhìn tôi ngạc nhiên "Sao lại không biết?" và nói rằng anh Nguyên là một người đáng kính trọng. Lần này tới Hà Nội, nếu ăn tối với chúng tôi, chị nhất định mong muốn được mời Phạm Xuân Nguyên đến tham dự.
Nhiều người biết Phạm Xuân Nguyên, lắm người quý mến anh, âu cũng là nỗi khổ. Nhà văn Phạm Ngọc Tiến có lần nói trực tiếp với ông bạn thân rằng "Phạm Xuân Nguyên yêu quý cả nhân loại. Kẻ yêu tất cả mọi người là kẻ không yêu ai cả", rồi đay nghiến thêm "Ngày đi làm, tối đi nhậu, đọc vào lúc nào mà lại viết được, nói được lắm thế". Tôi đem điều đó giễu lại Phạm Xuân Nguyên. Lần này thì anh có vẻ tổn thương. Anh bắt đầu cố gắng chứng minh rằng không phải anh "yêu" tất cả, rằng trong phê bình anh là người nghiêm túc, phê phán thẳng thừng, không yêu quý gì hết. Riêng điều này thì tôi công nhận, vì mặc dù là một "chủ nợ" khắc nghiệt, chưa khi nào tôi được "con nợ" ăn năn bằng cách khen ngợi "trả nợ" về tác phẩm của mình. Rõ là đối với Phạm Xuân Nguyên, nợ nào đi nợ đấy.
"Nỗi tổn thương" của nhà phê bình còn thể hiện ở một sự rất kỳ quặc và ngộ nghĩnh. Ấy là cái bận tôi có một cuộc tọa đàm tác phẩm và đề nghị Phạm Xuân Nguyên viết tham luận. Sáng trước ngày tọa đàm, anh gọi điện cho tôi bảo giờ anh đang đi công tác, chiều muộn mới về, sách anh chưa có, tôi cứ đến nhà anh mà gửi lại qua bà trông xe đạp xe máy ở khu tập thể, lúc nào về anh sẽ đọc. Tôi tá hỏa. Sáng mai đã phải có tham luận. Cuốn sách dày như thế, còn phải đọc, còn phải viết, còn phải ngẫm nghĩ. Tất cả những việc ấy làm vào lúc nào. Tôi rầu rầu "Nếu anh có nhận được sách của em thì cũng cố gắng đọc cho hết hai truyện nhé. Có 10 truyện tất cả nhưng đọc hai thôi cũng được". Phạm Xuân Nguyên ngạc nhiên "Sao lại thế? Anh phải đọc hết chứ."
Tôi cười méo mó qua điện thoại.
•-         Là vì em thấy mọi người bảo anh chỉ đọc một trang đầu, một trang giữa, và một trang cuối, thế là viết được thành một bài 10 trang giấy.
Tối hôm ấy, Phạm Xuân Nguyên gọi điện cho tôi, thông báo đã nhận được sách và giờ đang ngồi đọc. Anh nói rằng anh tìm thấy hai lỗi chính tả, lỗi thứ nhất là ở trang 15, dòng thứ 9 từ trên xuống, tôi viết nhầm tên nhà sư trụ trì với tên ngôi chùa, lỗi thứ hai là dòng đầu tiên ở trang 20, tôi gõ nhầm chữ "khai thác" thành "khai khác".
•-         Vâng? - Tôi kiểm tra lại thông tin, xác nhận thế và chờ đợi.
•-         Ừ... thế thôi. - Nói xong nhà phê bình cúp máy.
Tôi ngơ ngác. Tôi tưởng có chuyện gì rất quan trọng trong phong cách nghệ thuật của tác phẩm. Mãi mới nghĩ ra, Phạm Xuân Nguyên vẫn còn rất ấm ức về chuyện bị vu oan rằng "không đọc gì mà vẫn viết được". Nay anh chứng minh cho tôi thấy rằng anh đọc rất kỹ, kỹ đến mức tìm được cả hai lỗi chính tả nhỏ xíu.
Tuy nhiên, sáng hôm sau, tại buổi tọa đàm, Phạm Xuân Nguyên không cần đến một tờ giấy ghi chép mà vẫn có thể tham luận về tác phẩm, với những chú dẫn, dẫn giải tỉ mỉ ở từng chi tiết, một việc sẽ là bất khả thi với người không đọc. Sau đó tôi mới biết những gì người ta vẫn nói về Phạm Xuân Nguyên chỉ là giai thoại. Tất cả đều biết rằng một ngày của anh chỉ có 24 tiếng, anh luôn trở về nhà khi đã muộn và thường cắt thời gian ngủ ra để làm việc. Phạm Xuân Nguyên làm việc đêm, và làm việc rất nhanh, đọc rất nhanh, việc người khác làm cả tháng thì với anh chỉ bằng một phần nhỏ thời gian như thế. Đấy là cái sự trời cho. Phạm Xuân Nguyên nói rằng anh thích làm việc đêm bởi vì những khi đối mặt với chiếc máy vi tính và công việc nợ nần ngập đầu, anh sẽ tạm quên đi bốn bức tường trống vắng ở bên trong thời khắc mà con người dễ cô quạnh nhất. Ngày cuối năm, người ta bảo "vui như Tết" thì Phạm Xuân Nguyên nói "buồn như Tết". Anh sợ những khoảnh khắc cô độc một mình của giao thừa, khi mà những gia đình đông đủ sẽ đầm ấm bên nhau, còn những người độc thân chỉ chờ từng giờ cho qua đi ba ngày Tết, để rồi sau đấy, ra Giêng, anh lại khoả lấp sống đời bằng những nợ nần của nhân gian.
Xuân Tân Mão
Di Li
(Tin Tức, số tết Tân Mão 2011)

Người post: TQS, 25/6/2012

" Khi xem thơ "    ( Phạm Xuân Nguyên )


Tình cờ, gặp nhau giữa một trưa mùa thu Hà Nội đang ngàn năm Thăng Long, nhà báo Trương Nguyên Việt mời chúng tôi đến dự chương trình thơ Tố Hữu (1920 - 2002) nhân kỷ niệm 90 năm sinh nhà thơ diễn ra tại Nhà Hát Lớn thành phố vào sáng 2/10/2010. Nghe thế, tôi làm ngay một cuộc phỏng vấn "bỏ túi" mấy người đang ngồi quanh đều là thuộc "thế hệ thơ Tố Hữu", nếu có thể nói như vậy, rằng đọc nhiều, thuộc nhiều thơ Tố Hữu suốt mấy chục năm qua, nếu kể ra một bài thích nhất, anh thích bài nào của ông. Nhà báo Dương Đức Quảng (nguyên giám đốc trung tâm báo chí của Văn phòng Chính phủ) và nhà báo Nguyễn Phong Doanh (nguyên Tổng biên tập báo Thiếu Niên Tiền Phong) giống nhau là thích bài "Bầm ơi". Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, phó chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam, bảo chẳng hiểu sao lại thích bài "Khi con tu hú gọi bầy" được đọc từ hổi nhỏ. Còn tôi thì thích bài tứ tuyệt này: "Tôi lại làm thơ như mọi lần / Nghe ấm trời lất phất mưa xuân / Con chim chích nhớ mùa trái chín / Ríu rít về ăn táo ngoài sân" (ghi theo trí nhớ). Và thế là câu chuyện mùa thu Hà Nội của mấy chúng tôi có thêm thơ Tố Hữu hôm qua và hôm nay.
Có một thời thơ Tố Hữu được đọc khắp nơi, được học khắp nơi. Thơ ông đi vào nhà trường gần như ở mọi cấp học, ở mọi kỳ thi. Có thể nói, thơ Tố Hữu gần như là "chủ vị" của đời sống thơ ca nói riêng và đời sống tinh thần nói chung của một xã hội đang trong quá trình vận động cách mạng. Hàng năm, mỗi độ xuân về tết đến, người dân cả nước lại chờ đọc trên báo, chờ nghe trên đài bài thơ chúc tết của Bác Hồ và bài thơ chào xuân của Tố Hữu. Nói rằng có đến mấy thế hệ thuộc thơ Tố Hữu, đến mức "thở ra thơ Tố Hữu" cũng có lẽ không ngoa. Nhưng rồi đã lại có một thời thơ Tố Hữu dần lặng tiếng, dần khuất bóng trên thi đàn và trong đời sống cộng đồng. Sự nghiệp chính trị của ông dừng lại và thơ ông cũng dừng lại, tuy con người thi nhân trong ông vẫn sống, vẫn sáng tác. Gặp nhau ở Nhà Hát Lớn, nhà thơ Nguyễn Bao kể tôi nghe câu chuyện: sau năm 1990, nhà xuất bản Văn Học làm một tuyển tập Tố Hữu mời những người chuyên nghiên cứu thơ ông trước nay viết giới thiệu thì ai cũng lẩn tránh. Mọi người nói lại tình hình đó với nhà thơ, ông bảo thế ở nhà xuất bản có ai viết được không. Và thế là nhà thơ Nguyễn Bảo nhận trách nhiệm viết lời tựa cho tuyển tập Tố Hữu, bài viết rồi có đăng báo Văn Nghệ với tên bài: "Năm 1990, đọc lại thơ Tố Hữu". Nguyễn Bảo kể tiếp: khi gặp Tố Hữu, ông bảo tôi thời nay mà còn dám viết về Tố Hữu là dũng cảm đó. Kể xong chuyện, nhà thơ Nguyễn Bao và tôi cùng cười, tiếng cười có sự ngậm ngùi, cảm thông. Lịch sử mà, không ai nói trước được lịch sử. Nhưng lịch sử cũng là một quá trình, không phải ngày một ngày hai mà thành lịch sử.
Tôi đã đến dự chương trình thơ Tố Hữu tại Nhà Hát Lớn Hà Nội. Nắng thu vàng rực rỡ phố phường thủ đô đông đúc người trẩy hội. Khán phòng nhà hát phải chờ hồi lâu người mới dần vào đông. Hai bên sân khấu đặt hai khổ thơ đầu đời và cuối đời của nhà thơ. Tố Hữu đã vào đời với cách mạng: "Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ / Mặt trời chân lý chói qua tim / Hồn tôi là một vườn hoa lá / Rất đậm hương và rộn tiếng chim". Tố Hữu đã qua đời với một nguyện ước nhân sinh: "Xin tạm biệt đời yêu quý nhất / Còn mấy vần thơ, một nắm tro / Thơ tặng bạn đường, tro bón đất / Sống là cho, chết cũng là cho". Thơ ông đã được ngâm lên, nhạc phổ thơ ông đã được hát lên. Và những tràng vỗ tay đã vang lên từ những bàn tay của nhiều người già, người lớn tuổi có mặt, để tưởng nhớ một nhà thơ, để hoài niệm một thời, và để suy ngẫm một hành trình. Tiết mục ấn tượng là một chiến sĩ đặc công Rừng Sác năm xưa bước lên sân khấu đọc ngâm bài "Trăng trối" mà anh từng ấp ủ thời đạn bom. Tôi có hỏi Trương Nguyên Việt là chương trình có chọn bài thơ "Đêm cuối năm" để ngâm không thì anh nói là không, và cho biết thêm là gia đình nhà thơ có đề nghị bài ấy. Với những ai từng quen thuộc thơ Tố Hữu thì sẽ không thể quên bài thơ đó. Với những ai đọc qua thơ Tố Hữu thì nên đọc bài thơ đó. Đêm cuối năm riêng một ngọn đèn / Dở hay, khôn dại, những chê khen... Bài thơ "Đêm cuối năm" là một "tiếng đờn" lạ trong khúc nhạc thơ Tố Hữu, như là một sự gãy nhịp ngang cung.
Tố Hữu, với tư cách nhà chính trị và nhà thơ, sẽ còn phải chịu thử thách đánh giá và phán xét của thời gian và lịch sử. "Khi xem thơ, tôi chỉ biết có thơ", tôi đọc ông, hôm qua và hôm nay, luôn theo tinh thần này của nhà phê bình văn học Hoài Thanh từ thời Thơ Mới.

Hà Nội 2.10.2010
Người post: TQS, 25/6/2012

Nguyện ước của vua Lý Thái Tổ     ( Phạm Xuân Nguyên )


Tôi đang ở Hà Nội những ngày đại lễ mừng ngàn năm định đô Thăng Long. Tiết cuối thu trời thương người, thương lịch sử, cho thủ đô một không khí se lạnh buổi mai, mát mẻ buổi ngày, heo may buổi chiều, phiêu diêu buổi tối, để tưng bừng diễn ra những hoạt động múa hát kỷ niệm tụ hội đông người xa gần về tham dự, chia vui, nhìn ngắm. Hà Nội đỏ sắc cờ hoa. Thăng Long êm ả Hồng Hà. Hồ Gươm thành tâm điểm cho cháu con về bên Lý Thái Tổ dâng hương hoa, tỏ lòng thành kính, soi bóng nước rùa vàng, nô nức chen chúc nghìn năm có một. Ai ai cũng như đắm chìm trong một trời thu quyến rũ say người, rất nhẹ nhàng, rất nên thơ. Trời khi bừng lên nắng vàng mỏng manh, dịu nhẹ, khi âm u, phơ phất hạt mưa. Gió khi trút mạnh rung cây, khi nhè nhẹ mơn man da thịt. Cảnh thiên nhiên ấy, phố phường lung linh ấy, phập phồng hơi thở nghìn năm ấy, người đi hội đi lễ như cuốn say, như ngất ngây. Mưa ở cuối trời xa, mây ở cuối trời xa, chỉ là thêm dư vị nồng say cho những cảnh sắc, những cuộc vui ở hồ Gươm, hồ Tây. "Thành phố trong mưa, hoa rắc trên đầu. Hoa mưa nở từng bông trên mái tóc", lãng mạn, tình tứ biết bao, người nắm tay người đi trong lễ hội, anh dắt em đi trong mưa lây phây. Mấy ai hay, mây ấy nặng mưa, mưa ấy đang nặng hạt ở miền Trung.
Tôi đến bên chân tượng Lý Thái Tổ, đọc bài Chiếu dời đô bằng ba thứ tiếng Hán, Việt, Anh. Vị vua 36 tuổi khi quyết định chuyển đô từ Hoa Lư về Đại La, đã căn cứ vào nhiều lý do địa chính trị. Nào đó là nơi "ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục. Nào đó là "nơi thắng địa, chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương". Nào đó là "nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời". Lý do nào cũng quan yếu. Nhưng giữa tiết thu này ở Hà Nội, sau ngàn năm bản Chiếu dời đô được tuyên cáo giữa triều đình nhà Lý mới lập nên khi ấy ở Hoa Lư, tôi chú ý đến một lý do vị vua sáng lập triều đại mở đầu nền tự chủ dài lâu của quốc gia Đại Việt nêu lên: ấy là  Người chọn Đại La làm kinh đô mới vì "vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh." Tôi dừng lại hồi lâu nhìn mãi mấy chữ "dân cư không khổ thấp trũng tối tăm". Trong nguyên bản Chiếu dời đô chữ Hán mấy chữ này viết là "dân cư miệt hôn điếm chi khốn", có người dịch khác là "dân cư không bị ngập chìm tối tăm khổ sở". Vâng, vùng đất Lý Thái Tổ quyết định chuyển đô từ rừng núi về đồng bằng, là nơi không bị ngập lụt, để cho dân chúng không bị đắm chìm trong làn nước lũ, được thảnh thơi vui sống, an cư lạc nghiệp. Kinh đô là phải vậy, và cả nước là phải vậy. Người đã dong thuyền từ Hoa Lư về Đại La và rồng đã bay lên trong tâm thức Người, trong nguyện ước Người, rồng bay lên khỏi nước, dân chúng thoát khỏi ngập chìm nước, quốc gia cất mình vượt ra khỏi nước. Từ đó nên Thăng Long. Thăng Long ngày ấy đã một dải từ châu thổ sông Hồng đến châu Hoan, châu Ái.
Hoan Ái giờ đây đang mưa, mưa to. Tôi đi trên phố phường thủ đô se lạnh khí thu choàng một màn sương mỏng xuống ngàn năm kinh thành mà ngỡ chân mình lạnh trong dòng nước lũ đang dâng cao trên các triền sông quê mình, đang cô lập những xóm thôn, mái nhà quê mình. Hoan Ái là phên dậu của nước Đại Việt xưa. Thăng Long nay nghìn tuổi, phên dậu xưa đang bị mưa lũ hoành hành. Phên dậu vẫn căng sức chống đỡ, vẫn vững vàng cho kinh thành an khang, thịnh vượng, cho đất nước mãi vẹn nguyên. Thương về miền Trung, tôi biết, có bao người đang cùng tôi vui hưởng đại lễ trên các ngả đường Hà Nội hôm nay không quên, không làm ngơ trước cảnh đồng bào mình đang bị thiên tai đe dọa mạng sống. Tôi tin, thương về miền Trung năm nào cũng lụt lội, bão giông, người người từ khắp nước về Hà Nội dịp ngàn năm này, đến cúi mình trước tượng đài vua Lý Thái Tổ, sẽ đọc thấu nguyện ước của Người: làm sao cho dân không bị ngập chìm.
"Nghe mưa nơi này lại nhớ mưa xa", thoảng trong những tiếng ca hát về Thăng Long - Hà Nội, giữa bài "Hà Nội mùa thu" của Trịnh Công Sơn, tôi lại nghe vẳng cả lời ca này của người nhạc sĩ tài hoa, như một nhắc thầm, như một nỗi niềm, lúc này cho tôi, cho những người không quen tôi, nhưng đang cùng tôi sống một ngàn năm kinh đô hôm qua và hôm nay, giữa lúc mưa vẫn mưa đổ như trút xuống miền Trung quê tôi.

Hà Nội 6.10.2010

 Người post : TQS, 25/6/2012

 

Truyện ngụ ngôn về con sán dây ( thư gửi một nhà văn trẻ )





Mario Vargas Llosa (sinh 1936), nhà tiểu thuyết, nhà viết kịch, nhà tiểu luận, nhà báo, nhà phê bình văn học người Peru, một trong những nhà văn trung tâm của khu vực nói tiếng Tây Ban Nha. Ông vừa được trao giải Nobel văn học 2010.

Bức thư của bạn khiến tôi xúc động sâu sắc, vì đọc nó tôi bỗng nhận ra chính mình ở tuổi mười bốn, mười lăm, khi tôi sống ở thành phố Lima xám xịt dưới chế độ độc tài Odria. Tôi say sưa mơ có ngày nào đó trở thành nhà văn và đau khổ vì chẳng biết phải làm gì để được thế, phải bắt đầu từ đâu, phải làm sao để biến thiên hướng tôi cảm thấy trong mình và luôn xui tôi cầm bút viết truyện trở thành các tác phẩm - và để chúng chinh phục được độc giả như tôi đã từng bị chinh phục bởi tác phẩm của các tác giả đã được tôi xếp vào ngôi đền thờ của riêng mình: Faulkner, Hemingway, Malreau, Dos Passos, Camus, Sartre.
          Nhiều lần tôi đã có ý nghĩ viết thư cho một ai đó trong số các nhà văn trên (khi đó họ còn sống cả) để xin họ lời khuyên: làm thế nào trở thành nhà văn? Nhưng rồi tôi đã không dám - tính rụt rè đã ngăn cản tôi, và có lẽ, cả thói bi quan nữa đã tước bỏ ý định viết thư: viết mà làm gì, nếu biết trước là không ai trong số họ sẵn lòng trả lời cho tôi? - đấy, chính cái đó thường giết chết các tài năng trẻ ở những nước mà đối với số đông người văn học gần như chẳng là gì cả và đành kéo lê sự tồn tại thảm hại bên lề cuộc sống xã hội, biến thành một công việc gần như là rút vào bí mật.
          Nhưng bạn đã không biết đến nỗi sợ tê liệt đó nên bạn đã viết thư cho tôi. Và đấy là một khởi đầu tốt, nếu bạn thực sự nghĩ gánh lấy một công việc mạo hiểm như vậy và chờ đợi ở nó - tôi tin là bạn có chờ đợi, dù trong thư bạn không nói lời nào về chuyện này - biết bao điều kỳ diệu. Tôi chỉ khuyên bạn đừng tạo ra những ảo ảnh thừa, tức là đừng cứ chăm chăm vào thành công. Xin hãy hiểu tôi cho đúng. Bạn hoàn toàn có thể đạt được nó! Sao lại không cơ chứ! Nhưng bạn hãy sẵn sàng đón nhận bước ngoặt khác của tình thế, bởi mỗi ai kiên trì viết và in đều rất nhanh nhận ra rằng các giải thưởng, sự thừa nhận của độc giả, số lượng bản in, uy tín trong xã hội thảy đều phụ thuộc vào những quy luật đặc biệt nào đó, hoàn toàn võ đoán và thường với sự lì lợm lạ lùng, khó hiểu quay lưng lại với chính những người xứng đáng được nhận nhất, nhưng lại trút như mưa xuống những kẻ ít xứng đáng nhất. Nói cách khác, nếu bạn coi thành công là động lực chính thì bạn hãy chuẩn bị tinh thần cho việc các mơ ước không phải bao giờ cũng đạt được, và nói chung đừng nên nhầm văn học với chớp lóe ồn ào của vinh quang và những lợi ích vật chất mà công việc sáng tạo thực sự mang lại cho một số nhà văn (đếm được trên đầu ngón tay). Đó là hai chuyện khác nhau.
          Có lẽ, tiêu chí chính ở đây là thế này: đối với người có tài năng văn học, chính khả năng bộc lộ mình là phần thưởng cao nhất, lớn hơn, đáng thèm muốn hơn tất cả những gì hắn có thể nhận được nhờ thành công. Tôi hoàn toàn tin vào một điều - mặc dù nhiều phương diện khác của tài năng văn học vẫn còn bí ẩn đối với tôi - mà nhà văn cảm thấy bằng tâm hồn: đúng, loại công việc mà hắn lựa chọn là tốt nhất trong tất cả những việc hắn đã kịp thử trước đó hay có thể sẽ biết sau này, bởi vì viết văn đối với hắn - đó là cách sống tốt nhất trong tất cả các cách sống phù hợp với hắn, bất luận hắn nhận được những lợi lộc chính trị, xã hội hay vật chất nào do sáng tạo mang lại.
          Nhưng trở lại câu hỏi của bạn trong thư: làm thế nào trở thành nhà văn. Bạn cảm thấy trong tâm hồn mình có một thiên hướng nào đấy, sau đó dồn hết tính cách và ý chí, bạn quyết hiến mình cho văn học. Tiếp đến là thế nào?
          Quyết định của bạn lấy văn học làm số phận đời mình cần phải biến thành sự sẵn sàng phục vụ nó một cách trung thành tận tụy, thực chất là trở thành nô lệ của nó. Để giải thích rõ hơn điều này, tôi xin nói rằng trong chừng mực nào đó bạn giống như các quý bà nổi tiếng thế kỷ XIX, họ lo sợ phát phì và muốn giữ được thân hình thon thả nên đã buộc mình phải uống sán dây. Bạn đã bao giờ thấy một người có cái giống ký sinh khủng khiếp ấy ở trong mình chưa? Tôi đã thấy và có thể nói với bạn rằng các quý bà đó đáng được gọi là anh hùng, là những người tuẫn tiết vì cái đẹp. Đầu những năm sáu mươi tại Paris tôi có một người bạn thân - anh chàng Tây Ban Nha Jose Maria, một họa sĩ và người làm điện ảnh. Và anh ta cũng bị căn bệnh đau khổ này. Số là khi đã vào trong cơ thể rồi, con sán dây dường như dính liền với cơ thể, bám vào cơ thể mà sống và lớn lên, đến mức rất khó đuổi được nó ra khỏi cái cơ thể nó đã được đưa vào và sống thoải mái ở đó. Jose Maria gầy rộc đi, mặc dù anh buộc phải ăn uống rất nhiều (trước hết là uống sữa) để thỏa mãn con ký sinh trùng đang ở trong lục phủ ngũ tạng mình, nếu không người bệnh sẽ đau không thể chịu nổi. Nhưng mọi đồ ăn thức uống đều không ích gì cho anh chàng đáng thương và không đưa lại sự thỏa mãn nào. Một hôm chúng tôi ngồi trò chuyện tại một quán rượu nhỏ ở Monparnase, Jose Maria đã có lời tâm sự khiến tôi sửng sốt: "Tớ với cậu thường gặp nhau. Chúng ta đi xem phim, xem triển lãm, vào hiệu sách, nói chuyện hàng giờ về chính trị, văn học, điện ảnh, về những người bạn chung. Cậu làm tất cả việc đó vì ý thích riêng, nhưng tớ thì không. Tớ làm là vì nó, con sán dây ấy. Bất luận thế nào nhưng tớ luôn có cảm giác bây giờ tớ như không sống cho mình mà cho cái kẻ đang ở trong tớ và tớ phải làm nô lệ cho nó".
          Từ đấy tôi thích so sánh cuộc sống của nhà văn với cuộc sống của anh bạn tôi Jose Maria. Văn học - không phải là sự tiêu khiển thời gian, không phải là thể thao, không phải là trò chơi hoa mỹ trong những giờ nhàn rỗi. Đó là công việc đòi hỏi phải dốc toàn tâm toàn lực cho nó, phải dành cho nó vị trí ưu tiên hàng đầu không có cái gì khác chạm đến được, đó là công việc khổ sai tự nguyện biến người chọn nó (những kẻ tuẫn tiết hạnh phúc) thành nô lệ. Cần phải lao động văn học thường xuyên, nó choán hết cả cuộc đời chứ không chỉ trong những giờ ngồi viết, nó bắt tất cả mọi việc khác phụ thuộc vào nó, bởi vì lao động văn học ăn tuốt chính ngay cuộc đời của nhà văn, giống như con sán dây to lớn nằm trong cơ thể người. Flaubert từng nói: "Văn học là lối sống". Nói cách khác, người đã chọn sứ mệnh cao đẹp và toàn năng đó là người không phải viết để sống, mà là sống để viết.
          Nhưng hóa ra, cái ý so sánh nghề văn với sán dây không phải là mới. Vừa đây tôi mới biết điều này, khi đọc Thomas Woolf (học trò của Faulkner, tác giả hai cuốn tiểu thuyết đồ sộ "Về Thời Gian và về Dòng Sông" và "Thiên thần, hãy ngó vào nhà mình"), ông đã mô tả quan hệ của mình với nghề văn như là có con sâu nằm trong bụng mình: "Thế là vĩnh viễn hết ước mơ, cái ước mơ tuổi nhỏ nhân từ, khó hiểu và bị lãng quên. Con sâu đã chui vào tim tôi và cuộn tròn ở đó, và óc tôi, tinh thần tôi, ký ức tôi trở thành thức ăn cho nó... Tôi biết  rốt cuộc thì ngọn lửa của tôi đã lan sang tôi, cái ngọn lửa riêng của tôi đã thiêu đốt tôi, phải, thiêu đốt tôi, kẻ bị xâu xé bởi những móng vuốt của một ham muốn điên cuồng và phàm ăn suốt bao năm qua đã ăn trụi toàn bộ cuộc đời tôi, không để lại chút gì. Nói gọn lại, tôi biết cái luồng sáng đó - ở trong óc, trong tim hay trong ký ức - sẽ không bao giờ lụi tắt, sẽ tỏa sáng suốt ngày đêm, khi thức cũng như khi ngủ; con sâu sẽ nhận được thức ăn - và ánh sáng sẽ phát ra, và không trò vui nào, không cuộc nhậu nhẹt nào, không cuộc du lịch trọng đại nào hay người phụ nữ kiều diễm nào có thể dập tắt được ánh sáng đó, vì thế tôi sẽ không bao giờ có thể thoát được con sâu đó nữa, trừ khi cái chết phủ lên tôi tấm màn đen vô tận và không thể đảo ngược được.
          Tôi hiểu rằng cuối cùng tôi đã biến thành nhà văn, hiểu ra cái gì đang diễn ra với con người mà cuộc sống của hắn đã trở thành cuộc sống nhà văn".
          Tôi nghĩ rằng chỉ ai hiến mình cho văn học như hiến mình cho tôn giáo, kiên quyết dâng cho nó tất cả thời gian, tất cả nghị lực, tất cả sức mạnh, chỉ người đó mới có khả năng trở thành nhà văn chân chính và viết được tác phẩm làm nổi danh hắn. Và còn một điều bí ẩn nữa - đó là tài năng. Thiên tài không phải sinh ra là có, ít ra thì giữa các nhà văn cũng không gặp nhưng người như thế, dù ở các nhà thơ và các nhạc sĩ thì có - thiên tài bộc lộ khi tuổi còn rất nhỏ (hai trường hợp cổ điển là Rimbaud và Mozart) - không, phải cần có những năm dài khổ luyện thành tài. Không có các nhà tiểu thuyết chín sớm. Tất cả các nhà tiểu thuyết vĩ đại, tất cả các nhà tiểu thuyết xuất sắc ban đầu đều là các nhà văn-thợ phụ, và tài năng của họ phát triển dần dần, nhờ sự kiên trì và niềm tin vào năng khiếu của mình. Vì vậy tác giả mới vào nghề cần nên hy vọng theo tấm gương của những nhà văn xây tài năng của mình bằng từng viên gạch nhỏ, khác với Rimbaud đã trở thành nhà thơ thiên tài khi còn đầu xanh tuổi trẻ.


Ngân Xuyên (dịch từ tiếng Nga)
Báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần, 16/10/2010.

 Người post:  TQS, 25/6/2012