4 thg 9, 2014

KỲ TÀI NGƯỜI CHỮA KHỎI VÔ SINH CẢ TRƯỜNG HỢP KHÔNG CÓ TINH TRÙNG

Cô Quách Thị Huệ (59 tuổi) ở thôn Xuân Phong xã Hải Vân, huyện Như Thanh (Thanh Hóa) nổi tiếng khắp vùng quê với những bài thuốc gia truyền hay trị hiếm muộn, bệnh gút, xương khớp.
Trị hiếm muộn con
Đến xã Hải Vân hỏi thăm cô Huệ thuốc nam, từ đứa trẻ đến người già đều nhiệt tình chỉ dẫn. Cô Huệ trước là Hiệu trưởng Trường tiểu học xã Hải Vân. Từ lúc mới vài tuổi, cô đã theo bà, theo mẹ lên rừng tìm cây thuốc. Năm 1991, khi mẹ đẻ của cô bị tai nạn ốm yếu, cô bắt đầu thay mẹ đảm nhận việc bốc thuốc gia truyền. Cô nhớ lại: “Lúc đó, người dân nơi đây không biết đến trạm xá, hay bệnh viện lớn, mỗi khi ốm đau đều trông chờ vào những thầy thuốc như tôi. Vì thế, tôi không có thời gian nghỉ ngơi, buổi trưa, chiều đi dạy về là tranh thủ khám bệnh cho mọi người, cuối tuần lại cùng chồng và các con lên rừng tìm cây thuốc”. Hiện tại, để có đủ số lượng thuốc nam đáp ứng cho bệnh nhân, cô Huệ phải huy động tất cả anh em trong nhà tham gia việc cung cấp thuốc. Ngoài việc tận dụng thuốc có trên rừng tại địa phương, số lượng còn lại sẽ được mua gom từ các tỉnh Nghệ An, Hòa Bình...
Những bài thuốc của cô chỉ gồm 3 - 10 vị, nhưng hiệu quả thấy rõ, nhất là với bệnh hiếm muộn. Cô Huệ chia sẻ: “Với bệnh vô sinh ở nam giới, tinh trùng yếu 50% - 60% chỉ cần uống thuốc một tháng thì cơ hội đậu thai là rất cao. Nếu tinh trùng còn từ 1% trở lên thì thời gian chữa sẽ lâu hơn. Trường hợp tinh trùng chết hoàn toàn điều trị phức tạp hơn, bệnh nhân phải uống thuốc 5 – 6 tháng”.
Bằng cái tâm của mình, cô Huệ đã giúp nhiều cặp vợ chồng, đứng bên bờ vực của sự chia ly vì nỗi đau không có con, được hàn gắn lại. Kỷ niệm đáng nhớ mà cô vẫn thường nhắc đến là lần điều trị cho một cặp vợ chồng ở thôn Nhật Tân, xã Thanh Thủy, huyện Tĩnh Gia cách đây tròn 20 năm. Hai vợ chồng lấy nhau được 10 năm, sống và làm việc ở nước Đức, chạy chữa nhiều nơi vẫn chưa có con. Đến khi về nước, chỉ uống mấy thang thuốc do cô Huệ bốc, trong 2 tháng đã sinh được cô con gái đầu lòng đặt tên là Mai Huệ Công. Đặc biệt hơn, tại làng Ngọc Bản, xã Vạn Hòa, huyện Nông Cống, Thanh Hóa có gần chục cặp vợ chồng hiếm muộn nhờ những bài thuốc gia truyền của cô giờ đã được hưởng niềm hạnh phúc làm cha, làm mẹ.
Và nhiều loại bệnh khác
Trong quá trình làm việc, cô Huệ phân chia nhóm bệnh để điều trị rất khoa học. Bệnh viêm khớp, thoái hóa xương, bệnh gút chữa cùng một lúc. Nhóm bệnh gan nhiễm mỡ, sỏi thận, sỏi mật, viêm gan, dạ dày, đại tràng, tá tràng sẽ kết hợp điều trị cùng nhau.
Một bệnh nhân của cô Huệ là ông Minh nhà ở khu đô thị Bình Minh, TP.Thanh Hóa bị gút lâu năm, uống đến thang thuốc thứ 4 do cô Huệ bốc thấy đau nhức dữ dội. Lo sợ, ông đi khám tại bệnh viện tỉnh thì nhận được kết quả ngoài mong đợi, bệnh gút của ông đã khỏi hẳn. Cô Huệ tươi cười cho biết thêm: “Cứ 10 người thì 8 người khi uống thuốc sẽ cảm thấy xương khớp đau nhức, 2 người còn lại bệnh tự mất đi mà không có cảm giác đau đớn”. Những căn bệnh như khớp teo cơ, uống 3 tháng sẽ khỏi, hơn tháng sẽ đi lại được.
Cô còn nhớ bệnh nhân Hà Thị Hoàn - người cùng xã bị bệnh to lách, sau kéo theo viêm phổi, suy tim, sơ gan, nang thận. Chị Hoàn đi viện nhưng bị trả về, gia đình đã chuẩn bị tinh thần lo hậu sự. Khi cô Huệ đến thăm, người bệnh nhân sưng phù chỉ nằm chờ chết, thấy “còn nước còn tát” cô vội đi kiếm một số vị thuốc lá tươi giã cho chị Hoàn uống. Được vài tiếng, nhiệt độ người bệnh từ 40oC hạ xuống 38,5oC, đến đêm đã đi vệ sinh được. Xem xét bệnh tình có chiều hướng tốt lên, cô Huệ tiếp tục cho uống thuốc với chế độ kiêng cữ nghiêm ngặt trong đúng 3 tháng 10 ngày, tuyệt đối không được ăn muối chỉ được ăn thịt nạc và một số loại rau. “Từ sau trận ốm thập tử nhất sinh năm ấy, chẳng thấy cô Hoàn ốm đau thêm lần nào. Giờ cô ấy khỏe mạnh lắm, còn chạy chợ được nữa đấy”, cô Huệ vui mừng nói.
Cô thường bảo, tiền lương hưu cũng đủ cho cô tiêu dùng rồi nhưng cô vẫn tiếp tục bốc thuốc với mong muốn được giúp đỡ mọi người. Một thang thuốc của cô bán với giá 20 nghìn đồng, người bệnh có gia cảnh khó khăn cô giúp đỡ không lấy tiền. Chính nhờ những việc làm trên, cô Huệ đã vinh dự được nhận giấy khen là Người dân tộc thiểu số tiêu biểu do huyện nhà tổ chức vào tháng 6 vừa qua.


-Diễn văn đọc tại Lễ Khai giảng trường Lương Thế Vinh của thầy Văn Như Cương:
4/9/2014...
Thưa Ban Giám Hiệu nhà trường và các thầy cô giáo,
Thưa các vị phụ huynh,
Cùng toàn thể các em học sinh thân yêu
Thật là xúc động trong buổi tựu trường ngày hôm nay, chúng ta mặc cho mình bộ đồng phục với lá cờ linh thiêng của Tổ quốc Việt Nam yêu dấu!
Tôi đề nghị mọi người cùng giơ cao bàn tay phải của mình, và đặt lên lồng ngực bên trái…Chúng ta sẽ cảm nhận tiếng đập của trái tim mình, một trong 90 triệu trái tim Việt nam, tiếng đập rôn ràng dưới sắc vàng của ngôi sao năm cánh.
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, TRÁI TIM VIỆT NAM không ít lần cảm thấy tê tái, thậm chí còn rỉ máu đau thương… Đó là khi bọn ngoại bang từ phương Bắc , phương Tây đến dày xéo đất nước ta, hãm hại đồng bào ta, đè đầu cưỡi cổ nhân dân ta…; đó là khi mà đất nước chúng ta đã dành được độc lập và thống nhất, mà chúng vẫn luôn luôn dòm ngó, âm mưu thôn tính bờ cõi, biển đảo của chúng ta ; và đôi lúc đó là là khi trái tim VN ta vì quá nhân hậu,quá chí tình chí nghĩa mà thiếu cảnh giác, đề phòng âm mưu xảo quyệt nham hiểm của kẻ thù…
Nhưng lịch sử hào hùng của dân tộc ta cũng chứng tỏ rằng trái tim Việt Nam không bao giờ bị khuất phục, cuối cùng chúng ta đã đánh thắng bất kì một kẻ thù nào, đưa đất nước ta thống nhất toàn vẹn nối liền một dải từ Bắc chí Nam, từ đất liền đến biển đảo…
Các em học sinh thân yêu ! Hôm nay, mở đầu một năm học mới , sân trường chúng ta tràn ngập sắc màu của lá cờ Tổ quốc vinh quang. Buổi tựu trường hôm nay sẽ nhắc nhở chúng ta rất nhiều điều
Chúng ta hãy thể hiện tình yêu nồng thắm và lớn lao đối với đất nước mình. Chúng ta yêu núi cao, sông dài, yêu rừng xanh, biển bạc, yêu đất liền và đảo xa. Một nắm đất ở vùng biên giới, một vốc cát ở Trường Sa, hay Hoàng Sa đều do ông cha ta để lại, đều không thể mất…Chúng ta hãy yêu mến nhân dân mình, gần gũi nhất là yêu gia đình mình, yêu bạn bè , yêu thầy cô…Hãy nhớ rằng chúng ta được nuôi dưỡng bằng dòng sữa MẸ VIÊT NAM, tuy rất ngọt ngào nhưng được chắt lọc từ biết bao nhọc nhằn và cay đắng…
Tình yêu thương đất nước và nhân dân sẽ là động lực lớn thúc đẩy các em làm tốt nhiệm vụ của mình trong lúc còn ngồi trên ghế nhà trường: Nhiệm vụ đó chính là học tập tốt về mọi mặt. Hãy học tập không chỉ bằng khối óc mà còn bằng cả trái tim mình. Các em hãy nhớ lời của Bác Hồ : “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, mà một dân tộc yếu thì không làm chủ được chính mình, không bao giờ đạt được điều chung ta mong muốn là ‘’dân giàu, nước mạnh,xã hội văn minh’’
Chúc các em một năm học mới với tầm cao mới !
Xin cám ơn mọi người đã chú ý lắng nghe !!

3 thg 9, 2014

(Thơ) Hà Nội – phố

Published on September 2, 2014   ·   No Comments
Ra đời giữa cái rét tháng 12 năm 1972, không chỉ bởi trong một thời khắc lịch sử của chốn kinh kỳ ngàn năm, mà còn vì những ảnh hình đầy luyến thương được nhắc đến, cho đến giờ “Hà Nội – phố” vẫn được xem là áng tuyệt tác thi ca. Có bao gã từng bắt chước Phan Vũ để được làm “người nghệ sĩ lang thang hoài trên phố” ?… Mặc dầu là một thi phẩm rất đỗi thân quen với nhiều thế hệ, nhưng giờ đây mời quý độc giả thưởng thức theo một cách khác !
Hà Nội - phố
Gửi những người Hà Nội đi xa…
1.
Em ơi ! Hà Nội – phố !
Ta còn em mùi hoàng lan
Còn em hoa sữa.
Tiếng giày gọi đường khuya
Thang gác cọt kẹt thời gian
Thân gỗ…
Ta còn em màu xanh thật đêm
Ngôi sao lẻ
Xào xạc chùm cây gió
Chiếc lá lạc vào căn xép nhỏ
Lá thư quên địa chỉ.
Quay về…
2.
Ta còn em một gốc cây,
Một cột đèn
Ai đó chờ ai ?
Tóc cắt ngang xõa xõa bờ vai…
Ta còn em một ngã ba vội vã,
Chiếc khăn quàng tím đỏ thoáng qua,
Khuôn mặt chưa quen
Bỗng xôn xao nỗi khổ…
Mỗi góc phố một trang tình sử…
3.
Ta còn em con đường vắng
Rì rào cơn mưa nhỏ.
Trên vòm cao
Đổ xuống chuông hồi.
Nhà thờ Cửa Bắc
Tan chiều lễ
Kinh cầu còn mãi ngân nga…
4.
Ta còn em đôi mắt buồn
Dõi cánh chim xa.
Tháng năm dừng lại
Một ngôi nhà.
Gã Trương Chi ôm ghi-ta
Từng đêm
Hóa đá…
Ta còn em chuyến tàu đêm
Về muộn
Qua cầu
Một người nào lạc giữa sân ga…
5.
Em ơi ! Hà Nội – phố !
Ta còn em những hố sâu
Trước cửa
Cơn mưa đầy
Chiếc thuyền giấy lang thang
Không bến đỗ…
Ta còn em quả bóng lăn
Một mình trên sân cỏ.
Thằng bé thẫn thờ.
Tuổi thơ qua cuộc chơi,
Vội vã…
Ta còn em cánh cửa sắt
Lâu ngày không mở.
Nhà ai ?
Qua đó bâng khuâng,
Nhớ tuổi học trò..
6.
Ta còn em giàn thiên lý,
Năm xưa
Thơm mùi hò hẹn
Cuộc tình đầu ngọt lịm.
Những nụ hôn xanh ngắt trên cành…
Ta còn em chuỗi cười vừa dứt.
Nắng chiều vàng ngọn cỏ
Vườn hoang
Ngày cũ vui tàn theo mùa hạ…
Ta còn em tiếng ghi-ta
Bập bùng tự sự
Đêm kinh kỳ một thuở
Xanh lơ…
7.
Ta còn em chiếc đồng hồ quả lắc
Già nua,
Đếm thời gian
Theo nhịp đong đưa
Trước ngõ phố
Sót cây hoa gạo.
Buổi chợ chiều họp giữa kinh đô…
8.
Ta còn em những ngọn đèn mờ.
Trên nóc phố,
Mùa trăng không tỏ.
Tiếng rao đêm
Lạc giọng
Thờ ơ…
Ta còn em bảy nốt cù cưa,
Lão Mozart hàng xóm
Từng đêm quên ngủ.
Cô gái mặc áo đỏ Venise
Tiếng dương cầm trong căn nhà đổ
Những mảnh vỡ trên thềm -
Beethoven và Sonate Ánh Trăng -
Nốt nhạc thiên tài bay lả tả,
Một kiếp người,
Một phím đàn long…
9.
Ta còn em khuya phố,
Mênh mông,
Vùng sáng nhỏ.
Bà quán ê a chuyện nàng Kiều.
Rượu làng Vân lung linh men ngọt.
Mắt cô nàng lúng liếng,
Đong đưa,
Những chàng trai say suốt cả mùa…
10.
Ta còn em tiếng hàng ngày
Vang âm đường phố.
Tia hồ quang chớp xanh.
Toa xe điện cuối ngày,
Người soát vé
Áo bành tô cũ nát…
Lanh canh ! Lanh canh !
Tiếng chuông reo hay lời kêu khổ ?
Bó gạo, mớ rau
Mẹ về buổi chợ
Lanh canh ! Lanh canh !
Lá bánh, củ khoai.
Đàn con trên bến đợi
Cuối ngày…
11.
Em ơi ! Hà Nội – phố
Ta còn em con đê lộng gió.
Dòng sông chảy mang theo hình phố.
Cô gái dựa lưng bên gốc me già,
Ngọn đèn đường lặng thinh
Soi bờ đá…
Ta còn em một con tàu
Giã biệt bến sông.
Mảnh trăng vỡ
Tiễn người bỏ xứ.
Dãy phố buồn..
Nghìn năm mắt nhớ…
12.
Ta còn em ráng đỏ chiều hôm,
Dôi chim khuyên gọi nhau trong bụi cỏ.
Đôi guốc bỏ quên bên ghế đá.
Gã đầu trần đi ngược trời mưa…
Ta còn em con đường tên cũ
Cổ Ngư,
Cành phượng vĩ là đà.
Chiều phai nắng,
Bông hoa muộn in hình ngọn lửa…
Ta còn em chiếc lá rụng
Khởi đầu nguồn gió.
Lao xao con sóng biếc
Gió Tây Hồ.
Hoàng hôn xa đến tự bao giờ ?
Những bước chân tìm nhau vội vội.
Cuộc tình hờ bỗng chốc nghiêm trang…
13.
Ta còn em ngọn gió Nghi Tàm
Thoáng mùi sen nở muộn
Gió Nhật Tân
Gợi
Mùa hoa năm ấy
Cánh đào phai…
14.
Ta còn em cơn mưa rào
Đi nhanh qua phố.
Chiếc lá bàng đầu tiên nhuộm đỏ.
Cô gái băng qua đường
Chợt hồng đôi má.
Cơn mưa nào đi nhanh qua phố
Một chút xanh hơn,
Trời Hà Nội hôm qua…
Ta còn em cô hàng hoa
Gánh mùa thu qua cổng chợ.
Những chùm hoa tím
Ngát mùa thu…
15.
Em ơi ! Hà Nội – phố
Ta còn em một Hàng Đào,
Không bán đào.
Một Hàng Bạc,
Không còn thợ bạc.
Đường Trường Thi
Không chõng, không lều
Không ông nghè bái tổ vinh quy…
Ta còn em tiếng gọi trong đêm,
Người đi xa trở về.
Căn nhà không biển số.
Ngày đi mỏi mòn nỗi nhớ.
Ngày về phố cũ quên tên…
16.
Ta còn em chiếc xe hoa
Qua hàng liễu rũ,
Điệp vàng rực rỡ.
Cánh tay trần trên gác cao khép cửa.
Những gót son dập dìu đại lộ.
Bờ môi ai đậm đỏ bích đào…
Ta còn em tà áo nhung huyết dụ.
Đất nghìn năm còn mãi dáng kiêu sa,
Phường cũ lưu danh người đẹp lụa.
Ngõ phố nào in dấu hài hoa… ?
17.
Ta còn em đường lượn mái cong
Ngôi chùa cổ.
Năm tháng buồn xô lệch ngói âm dương.
Ai đó ngồi bên gốc đại,
Chợt quên ai kia bên đường đứng đợi.
Cuộc đời, có lẽ nào,
Là một thoáng
Bâng quơ…
Ta còn em những cuộc tình
Như một bài thơ.
Những nỗi đau gặm mòn phận số.
Nhật ký sang trang
Ghi thêm nỗi khổ…
18.
Ta còn em đống kim ngân
Đổ đầy Hàng Mã.
Ngựa, xe, võng, lọng,
Những hình nhân nuối tiếc vàng son.
Khi phố phường là miền loạn gió
Làm sao tìm được mớ tro than…?
19.
Ta còn em nóc phố lô xô,
Màu ngói cũ
Ngôi nhà còn tiếng khóc oa oa.
Con đường đá lát bao niên kỷ ?
Qua sông nhớ mẹ tuổi già…
20.
Em ơi ! Hà Nội – phố
Ta còn em mảnh đại bác
Ghim trên thành cũ.
Một thời thịnh,
Một thời suy,
Hưng vong lẽ thường.
Người qua đó,
Hững hờ bài học sử..
Ta còn em dãy bia đá
Nhân hình hội tụ.
Rêu phong gìn giữ nét tài hoa.
Ly rượu đầy xin rót cúng cha.
Nghìn lạy cúi đầu thương đất tổ.
Bến nước nào đã neo thuyền ngự ?
Đám mây ào in bóng rồng bay ?…
21.
Ta còn em tháng Chạp,
Những hàng cây óng ả sợi hồng
Tháng Chạp
Trên giường trải chiếu hoa
Tháng Chạp,
Mùi hương dài theo phố.
Một tháng Chạp
Mẹ
Nửa đêm thức
Hóa vàng…
22.
Em ơi ! Hà Nội – phố
Ta còn em năm cửa ô -
Năm cửa gió
Cơn bão thường niên qua đó -
Ba mươi sáu phố,
Bao nhiêu mảnh vỡ ?
Ta còn em một màu xanh thời gian.
Một màu xám hư vô,
Chợt nhòe,
Chợt hiện.
Chợt lung linh ngọn nến,
Chợt mong manh một dáng,
Một hình,
Nhợt nhạt vàng son,
Đậm đầy cay đắng…
23.
Ta còn em những ngõ cụt bất ngờ,
Ô cửa ngẩn ngơ
Ngôi nhà không người ở
Khung trời của nỗi buồn
Vô cớ…
Người nghệ sĩ lang thang
Hoài,
Trên phố.
Bỗng thấy mình không nhớ nổi con đường.
Tha hương ngay trước cổng nhà mẹ cha…
24.
Ta còn em những giọt sương,
Nhòe nhòe bóng điện.
Mặt nước Hồ Gươm,
Một đêm trở lạnh.
Tháp Rùa ngả bóng lung linh.
Cánh nhạn chao nghiêng chiều cuối
Người ra đi mang theo buốt giá,
Áo choàng không ấm thân gầy,
Cầm bằng như cánh chim bay…
25.
Em ơi ! Hà Nội – phố !
Ta còn em cây bàng
Mồ côi mùa đông.
Ta còn em nóc phố
Mồ côi mùa đông.
Ta còn em mảnh trăng
Mồ côi mùa đông…
Hà Nội phố, hoa sữa… góc nhỏ, bình yên…

Luật sư, Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa



 Viết nhân dịp ngày 2/9.
 Luật sư Trần Vũ Hải/ Quê Choa 
Bản yêu sách 8 điểm của nhân dân An Nam
Ai cũng biết Hồ Chí Minh (tức Nguyễn Ái Quốc) mất ngày 2/9/1969, đúng 24 năm sau khi Hồ Chí Minh khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH). Tuy nhiên, ít người biết có một luật sư người Anh đã công bố Nguyễn Ái Quốc (NAQ) chết năm 1933 tại Hồng Công nhằm tránh truy đuổi của thực dân Anh lẫn thực dân Pháp. 


Vụ án NAQ tại Hồng Công năm 1931 đã quá nổi tiếng, xin tóm tắt như sau:

Năm 1929, thực dân Pháp kết án vắng mặt NAQ tử hình. Năm 1930 tại Hồng Công, NAQ đã thành công hợp nhất các phái cộng sản tại Việt Nam thành một Đảng cộng sản. Đến ngày 16/6/1931, mật thám Anh kết hợp với mật thám Pháp bắt NAQ tại Hồng Công, dự định trả NAQ cho thực dân Pháp về Việt Nam để thi hành án tử hình. Nhưng luật sư Loseby và đồng sự đã ngăn chặn được âm mưu này, kiện ra Tòa án của Anh tại thuộc địa Hồng Công, buộc Tòa án tuyên lệnh bắt NAQ là trái luật và trả tự do cho NAQ. Mặc dù vậy, Tòa án Anh vẫn ra lệnh trục xuất NAQ ra khỏi Hồng Công. Để tránh lệnh trục xuất này và che giấu NAQ trước mật thám Pháp, luật sư Loseby đã “diệu kế” tung tin NAQ đã mất vì bệnh và tổ chức cho NAQ rời khỏi Hồng Công an toàn. 

Có thể nói không quá, không có luật sư tài ba người Anh, không có tên Hồ Chí Minh xuất hiện (được đặt tên sau vụ án trên nhiều năm). Không có Hồ Chí Minh, không có VNDCCH. Công sức của luật sư Loseby đối với Hồ Chí Minh và VNDCCH là rất lớn. 

Nhiều người biết đến công của luật sư Loseby, nhưng ít người biết đến công của một luật sư khác đối với NAQ và cách mạng Việt Nam. Đó là ông Phan Văn Trường (1876 – 1933), luật sư đầu tiên của Việt Nam. Ngày 18/6/1919, một yêu sách 8 điểm của nhân dân An Nam đã được gửi đến những nhà lãnh đạo đồng minh chiến thắng trong chiến tranh Thế giới thứ nhất, đang họp tại Pháp. Tên ký dưới yêu sách nổi tiếng này là NAQ. Lần đầu tiên tên NAQ vang vọng trên chính trường Quốc tế và vang đến Việt Nam. Yêu  sách này được khởi xướng bởi 4 nhà hoạt động người Việt trên đất Pháp là Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Thế Truyền. Người thanh niên Nguyễn Tất Thành khi đó có chí lớn, nhưng chưa rành tiếng Pháp, đang được ông Trường trợ giúp về nhiều mặt. Trong khi đó ông Phan Văn Trường đã là một tiến sỹ luật, mở văn phòng luật sư tại Pháp, hoạt động nhiều năm tại đây cho phong trào người Việt yêu nước (ái quốc). Một văn bản cô đọng và có nội dung pháp lý vẫn còn giá trị đến ngày nay như yêu sách 8 điểm này đòi hỏi một trình độ tuyệt hảo về Pháp ngữ và pháp lý, chỉ có thể được chấp bút cuối bởi một người Việt uyên thâm về tiếng Pháp và luật học như luật sư Phan Văn Trường tại thời điểm đó. Vì vậy, luật sư Phan Văn Trường được đánh giá là kiến trúc sư cho yêu sách 8 điểm này, sự kiện làm nên cái tên NAQ. Mặc dù vậy, sau sự kiện này chỉ Nguyễn Tất Thành được mang tên NAQ và được chí sỹ Phan Chu Trinh và luật sư Phan Văn Trường thừa nhận (xem thư của Phan Chu Trinh gửi Phan Văn Trường ngày 11/4/1923). Như vậy, luật sư Phan Văn Trường là người góp phần quan trọng khai sinh và đem lại tiếng vang cho cái tên NAQ, đặt nền móng uy tín cho nhà cách mạng NAQ.

Khi VNDCCH được thành lập, Hồ Chí Minh biết rõ lợi ích của những luật sư và người đã học luật, vì thế trong Chính phủ 15 thành viên đầu tiên của VNDCCH có tới 5 vị Bộ trưởng là luật sư hoặc cử nhân luật. Đó là các ông: Võ Nguyên Giáp – Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Dương Đức Hiển – Bộ trưởng Bộ Thanh niên, Nguyễn Mạnh Hà – Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Vũ Đình Hòe – Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Vũ Trọng Khánh – Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Trong đó ông Vũ Trọng Khánh đã là luật sư danh tiếng. Ngay sau khi VNDCCH ra đời, nhiều luật sư danh tiếng khác của Việt Nam đã nhận những trọng trách trong chính quyền và đoàn thể như các luật sư Phan Anh (Bộ trưởng Quốc phòng), Phạm Văn Bạch (Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam bộ), Trần Công Tường (Thứ trưởng Bộ tư pháp), Nguyễn Thành Vĩnh, Nguyễn Mạnh Tường…Ngày 10/10/1945 Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh cho duy trì các đoàn luật sư bên cạnh tòa án. 

Đáng tiếc sau năm 1954, khi VNDCCH thiết lập chính quyền ở miền Bắc, không rõ vì lý do gì trường Đại học luật ở Hà Nội bị giải tán và đến sau năm 1975 mới có việc dạy luật ở cấp đại học. Luật sư danh tiếng Nguyễn Mạnh Tường đã bị thất sủng sau vụ Nhân văn Giai phẩm, không còn giữ chức Giám đốc Đại học luật và Chủ tịch Hội đồng luật sư Hà Nội. Các luật sư làm việc như những viên chức bào chữa của tòa án, không còn có các đoàn luật sư. Phải nhiều năm sau 1975, đoàn luật sư mới hình thành trở lại (Đoàn luật sư Hà Nội được lập mới từ năm 1984). 

Giờ đây, có khoảng 8.000 luật sư hành nghề ở Việt Nam, nhưng có rất ít những luật sư danh tiếng và được chính quyền trọng vọng như thời kỳ đầu của VNDCCH. 

Bản yêu sách 8 điểm năm 1919 ký dưới tên Nguyễn Ái Quốc và do Phan Văn Trường, luật sư đầu tiên của Việt Nam, chấp bút vẫn còn có nhiều giá trị đòi hỏi đối với thực tiễn Việt Nam.

Bản yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm:

1-     Tổng ân xá tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị.
 2- Cải cách nền pháp lí Đông Dương bằng cách để người bản xứ cũng được quyền hưởng những bảo đảm pháp lí như người châu Âu. Xóa bỏ hoàn toàn những tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam.
 3- Tự do báo chí và tự do ngôn luận.
 4- Tự do lập hội và hội họp
5- Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương.
 6- Tự do họp tập, thành lập các trường kĩ thuật tại tất cả các tỉnh cho người bản xứ.
 7- Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật.
 8- Có đại biểu thường trực của người bản xứ do người bản xứ bầu ra tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được nguyện vọng của người bản xứ.
      

30 thg 8, 2014

Có phải em mùa thu Hà Nội

Published on August 29, 2014   ·   No Comments
Một thi phẩm của tác giả Tô Như Châu.
3972804594_607a154987_b
Tháng Tám mùa thu lá khởi vàng chưa nhỉ
Từ độ người đi thương nhớ âm thầm
Có phải em là mùa thu Hà Nội
Tuổi phong sương ta cũng gắng đi tìm
Có phải em mùa thu xưa.
Có bóng mùa thu thức ta lòng sang mùa
Một ngày về xuôi chân ghé Thăng Long buồn
Có phải em là mùa thu Hà Nội
Ngày sang thu anh lót lá em nằm
Bên trời xa sương gió bay.
Thôi thì có em đời ta hy vọng
Thôi thì có em sương khói môi mềm
Có phải em là mùa thu Hà Nội
Nghe đâu đây lá ướt và mi xanh
Nghe đâu đây hồn Trưng Vương sông Hát.
Có chắc mùa thu lá rơi vàng tiếng gọi
Lệ mừng gặp nhau xôn xao phím dương cầm
Có phải em là mùa thu Hà Nội
Nghìn năm sau ta níu bóng quay về
Ôi mùa thu của ước mơ.

29 thg 8, 2014

Từ Dịch Thuỷ đến Tiền Giang.

Hơn 200 năm trước Công Nguyên, Tần Thuỷ Hoàng đã dựng lên một triều đài độc tài lớn nhất Trung Hoa. Nỗi sợ hãi về hình ảnh uy nghi quyền lực như thượng đế của Tần Doanh Chính làm khiếp đảm cả thiên hạ Trung Hoa mênh mông.  Bằng quyền lực tuyệt đối của mình, Tần Thuỷ Hoàng đã bắt dân chúng phải lập nên một dãy tường thành vạn lý, khiến bao người mất mạng vì đói rét, bệnh tật, kiệt sức khi xây thành. Thế nhưng toàn bộ Trung Hoa không có một sự phản kháng nào đáng kể.


 Kinh Kha người nước Vệ, đã nhận trọng trách ám sát Tần Thuỷ Hoàng. Trong lúc Tần Thuỷ Hoàng đang ở đỉnh cao của quyền lực tối thương.

Kinh Kha khi qua sông Dịch Thuỷ để hướng về Hàm Dương thực hiện sứ mệnh tiêu diệt tên bạo chúa độc tài Để Kinh Kha có thể tiếp cận được Tần Thuỷ Hoàng những người thực hiên , giúp đỡ đã phải mất nhiều của cải, và cả tính mạng như Phàn Ô Kỳ, tự cắt đầu để Kinh Kha dâng vua Tần. Có dịp gặp để ra tay.

Kinh Kha ra tay không thành công, bị giết ở giữa cung điện Tần Vương.

Đời sau người ta nhắc đến Kinh Kha , không luận sự đạt được mục đích ban đầu. Thiên hạ ngàn đời nhớ đến Kinh Kha, bởi dám làm một việc như thế.

Thực ra Kinh Kha chẳng những biết mình sẽ chết, mà Kinh Kha còn biết được mình sẽ không hoàn thành được công việc. Thế nhưng Kinh Kha vẫn đi, vẫn để bao người tâm huyết, xương máu bỏ ra để mình đi thực hiện công việc đó.

Bởi vì một điều mà ít ai nói đến.Là lúc đó hình ảnh Tần Thuỷ Hoàng chói loị quyền uy, như thánh thần, thượng đế. Thế mà có người tính chuyện giết chết. Giết chết như một tên ác nhân bình thường, đó là giết bằng dao găm.

Câu chuyện hành thích của Kinh Kha đã dấy lên trong nhân dân ý nghĩ, rằng Tần Thuỷ Hoàng không phải là thánh, là thượng đế. Mà chỉ là độc tài, khát máu, man rợ có quyền lực trong tay. Hắn chẳng phải con trời, hay thần thánh gì cả. Từ đó bắt đầu có những sự nổi dậy liên miên của người dân, nhà Tần bị diệt vong không lâu sau đó. Thậm chí ngay trong nội bộ triều đình sự coi thường vương triều nhà Tần cũng lộ trắng trợn qua việc Triệu Cao, Lý Tư lộng hành.

Đó chính là điều mà Kinh Kha mong đợi, chứ không phải là việc ông giết được Tần Thuỷ Hoàng. Ông mong đợi  nhát dao của mình đâm vào cái áo của Tần Thuỷ Hoàng,  đó là đâm vào hình ảnh chế độ độc tài hùng mạnh, đâm vào một hình tượng tưởng như thánh thần trên trời rơi xuống, đâm vào sự ngộ nhận của nhân dân, sự sợ hãi của nhân dân Trung Hoa dưới thời Tần Thuỷ Hoàng. Để rồi những cuộc khởi nghĩa được phát động, để cho chính những quan lại nhà Tần cũng coi thường Tần Vương, cho đó cũng là con người, có thể lấn át quyền lực như thường.

Nhát dao của Kinh Kha chính là nhát dao đâm vào hình tượng của một chế độ. Thân xác của Tần Doanh Chính còn sống, nhưng hình tượng về bậc đế vương uy quyền khiến thiên ha khiếp sợ bắt đầu chết từ đó.

Câu chuyện về Kinh Kha gắn với dòng sông Dịch Thuỷ, hình ảnh người tráng sĩ ra đi và để lại cho đời sau một huyền thoại bất tử...

Thể chế là yếu tố chính giúp một quốc gia thịnh vượng.

Tuần Việt Nam/ Vnn 
Ảnh: Lê Anh Dũng
(...)

Nhà báo Thu Hà: Sau 69 năm lập quốc và gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đang đứng ở đâu trên bản đồ kinh tế của khu vực và thế giới?

Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành: Nếu hình dung nền kinh tế thế giới như một cánh rừng với những tầng bậc thấp khác nhau. Có những cây khổng lồ, to khỏe vững chắc luôn là trụ cột của cánh rừng. Cạnh những cây to vừa đang trên đà lớn mạnh còn có cả cây lúp xúp, lơ thơ… Có lẽ nền kinh tế Việt Nam mới là một cây nho nhỏ trong cánh rừng đó.


Với quy mô của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, khoảng  200 tỉ USD nếu đem so sánh với GDP của Indonesia là gần 900 tỷ USD, Hàn Quốc là 1.200 tỷ USD; Nhật khoảng 6.000 tỷ và Mỹ lên tới 16.000 tỷ có thể thấy chúng ta ở vị trí còn rất khiêm tốn. Về GDP trên đầu người thì chúng ta còn thấp nữa vì quy mô dân số của ta lại đứng khá cao trên thế giới.

Sòng phẳng mà nói ngay với khu vực ASEAN (một khối kinh tế tương đối nhỏ và khiêm tốn so với các khối kinh tế khác trên thế giới), Việt Nam vẫn chưa phải một nước khá giả, mới chớm chạm tới mức trung bình thấp. Còn nếu xét trên bản đồ kinh tế thế giới nói chung, Việt Nam vẫn chưa có một chỗ đứng đáng kể nào. 

Tiến sĩ Đặng Hoàng Giang: Nhìn lại quãng thời gian 69 năm qua, 40 năm đầu Việt Nam hết sức khó khăn, trải qua nhiều cuộc chiến tranh dài ngắn khác nhau, làm suy kiệt sinh lực của đất nước. 

Công cuộc Đổi mới ở cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước đã đem lại những thành công đáng kể. Việt Nam đã trở thành một điểm sáng trong câu chuyện xoá đói giảm nghèo, lần lượt thực hiện thành công nhiều mục tiêu thiên niên kỷ. 

Tuy nhiên, khoảng cách về mức độ phát triển giữa chúng ta và các nước trong khu vực ngày càng lớn. Hiện nay GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc cao gấp 14 lần Việt Nam. Giả sử Việt Nam có thể tăng trưởng đều đặn 8% một năm, còn Hàn Quốc tạm thời đứng yên, thì mất gần 40 năm Việt Nam mới đuổi kịp Hàn Quốc của bây giờ. Ví dụ đó cho thấy chúng ta đang ở đâu, và nguy cơ chúng ta tiếp tục tụt hậu lớn như thế nào, bởi thời kỳ chúng ta tăng trưởng 8% và hơn một năm dường như sẽ còn lâu mới quay trở lại.

 Nhà báo Thu Hà: Chúng ta cần tới 35 năm kể từ thời điểm 1975, tương đương một thế hệ, mãi tới năm 2008 lần đầu tiên thu nhập đầu người của Việt Nam vượt qua ngưỡng 1.000 USD, thoát ra được vị trí của nước nghèo và vươn lên vị trí thu nhập trung bình thấp. Vì sao chúng ta  phải đi qua một quãng thời gian lâu đến vậy?

Tiến sĩ Đặng Hoàng Giang: Một trong những thách thức lớn sau 1975 là chúng ta phải thu dọn hậu quả chiến tranh, xây dựng lại một đất nước bị tàn phá và chia cắt trong quá khứ. Tuy nhiên không thể phủ nhận rằng chúng ta đã mất nhiều thời gian, đã phí nhiều nguồn lực con người và cơ hội. Phải đi một quãng đường vòng vì trong một thời gian dài chúng ta đã có những chính sách kinh tế và phát triển chưa hợp lý.
Tuần Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành, Tiến sĩ Đặng Hoàng Giang, Đổi mới, Thể chế,  quốc khánh, Thu Hà
Tiến sĩ Đặng Hoàng Giang (phải).

Nếu đi đúng hướng, luôn sẵn sàng điều chỉnh và đổi mới, một quốc gia có thể lột xác chỉ qua một thế hệ. 

Giữa những năm 1960, Singapore vẫn còn nghèo và lạc hậu hơn Manila của Phillipines hay Colombo của Sri Lanka. 

30 năm sau, họ đã trở thành một quốc gia của thế giới thứ nhất. Sự cất cánh của các con rồng châu Á khác như Hàn Quốc, Đài Loan… cũng là những ví dụ đáng khích lệ khác. Trong thời điểm hiện nay chúng ta phải nỗ lực gấp bội, vì các quốc gia khác trong khu vực , như Myanmar, Campuchia, đang nổi lên cạnh tranh trong một môi trường kinh tế quốc tế ngày càng khó khăn.   

Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành: Tôi từng nghe một vị lão thành kể lại, hồi thập niên 1965, một phóng viên Hàn Quốc tới Sài Gòn. Anh ta cảm thấy rất hâm mộ khu trung tâm thành phố, vực chỗ nhà hát lớn bây giờ, và ao ước một ngày nào đó, Seul quê hương anh sẽ xây được những tòa nhà đẹp như thế….
 
Tôi cũng mới được gặp một giáo sư Hàn Quốc. Ông ấy kể, quãng 20 năm trước, các trí thức nước họ mỗi khi có dịp ngồi với nhau đều không tin bật cười khi sẽ nghĩ có một ngày nào các sản phẩm của nước họ sẽ có thể đứng cạnh tranh với những tên tuổi lớn của Nhật Bản như Sony, Toyota….. Quả thực vào lúc ấy, đó  là điều không tưởng, họ không dám mơ đến.

Nhưng đó là câu chuyện của hơn hai chục năm trướcquá khứ. Bây giờ Hàn Quốc như thế nào, hẳn chúng ta đều đã rõ. Có những cuộc phát triển mà ngay cả những người trong cuộc họ cũng không hình dung ra được, vậy mà họ đã làm được nhờ dám mạnh dạn đổi mới theo các mô hình phát triển hợp thời cuộc, với một tinh thần và khát vọng mạnh mẽ.

Câu chuyện phát triển của mỗi nước đều rất thú vị, ẩn chứa nhiều bài học cho các nước đi sau.
 
Nhà báo Thu Hà: Ông có thể nói rõ hơn?
 
Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành: Quay trở lại với câu chuyện của chúng ta. 

Nhìn lại lịch sử kinh tế VN, có một thời vô cùng khó khăn, thời đó kinh tế Việt Nam sa vào khủng hoảng, cũng là thời kỳ khủng hoảng trầm trọng về lý luận và chính sách kinh tế. Đó là khoảng thời gian 10 năm sau sự kiện 30/4/1975.

Với một nền kinh tế kiệt quệ sau cuộc chiến tranh khốc liệt lâu dài, hàng chục năm sống chủ yếu dựa vào viện trợ và nhập khẩu, bị bó buộc, giờ phải học cách sống bằng những cái tự mình làm ra. 

Chính nhờ sự phản tính đúng lúc, nhờ những bứt phá về tư duy, nhờ cải thiện các mối quan hệ quốc tế chúng ta đã tìm ra đường đi là cuộc Đổi mới hồi năm 1986, đã khơi thông dòng chảy kinh tế cho Việt Nam. Có thể nói xung lực này đến từ điểm đáy gần như bằng 0.

Giai đoạn 1986-1989 là giai đoạn chập chững mở đầu cho sự nghiệp đổi mới và cũng là giai đoạn bi hùng nhất trong sự nghiệp đổi mới kinh tế ở Việt Nam.

Tiếp đó giai đoạn từ 1990 đến 1996 là giai đoạn Việt Nam đạt được những tăng trưởng ngoạn mục, cơ bản thoát ra khỏi khủng hoảng, mở rộng quan hệ quốc tế, bộ mặt xã hội thay đổi nhanh chóng.

Giai đoạn sau này từ 1997 đến 2007 là thời kỳ Việt Nam hoàn thiện mô hình kinh tế của mình, từng bước thoát ly tư duy cũ, cải cách kinh tế theo hướng hội nhập vào môi trường kinh tế thế giới ngày càng sâu hơn, mà cột mốc quan trọng là việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới. 

Tuy nhiên nền kinh tế Việt Nam lại đang bước vào một giai đoạn mới. Sau 10 năm tăng trưởng nhanh, giờ đây bắt đầu có những loạng choạng. Bài toán đặt ra cho tư duy kinh tế lúc này bao gồm làm sao để duy trì tăng trưởng lành mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh, hoàn thiện môi trường thể chế và pháp lý, nguồn nhân lực đủ tầm với những yêu cầu của nền kinh tế hiện đại. Có thể coi việc chọn một mô hình kinh tế thực sự đúng đắn để đi theo đó chính là vấn đề cốt lõi của ta hiện nay.  

Tiến sĩ Đặng Hoàng Giang:  Vì sao quốc gia này thành công, nhưng quốc gia kia lại thất bại? Đây là một câu hỏi đau đầu cho các chính trị gia và các nhà kinh tế học. Liệu có phải do văn hoá: người Do Thái hay người Nhật mang trong mình những yếu tố văn hoá giúp họ dễ thành công? Hay là do vị trí địa lý, những nước nhiệt đới nhiều thiên tại, dịch bệnh thì thường là nghèo? 

Gần đây, các chuyên gia hội tụ ở quan điểm là không phải văn hoá, không phải địa lý, thậm chí không phải việc có hay không một minh chủ, mà thể chế là yếu tố chính giúp một quốc gia thịnh vượng. Cụ thể là các thể chế tạo ra một sân chơi bình đẳng cho mọi tác nhân trong xã hội, tôn trọng và bảo vệ sở hữu cá nhân, không bóc lột môi trường, và không thiên vị cho bất cứ một nhóm lợi ích nào. 

Có những chứng cứ rất cụ thể cho vai trò quyết định của thể chế: Đông Đức và Tây Đức là ví dụ. Cùng một dân tộc, cùng một vị trí địa lý, cùng mức dân trí, cùng văn hoá, lịch sử, nhưng hai thể chế khác nhau cho ra hai con đường phát triển. Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc là một trường hợp khác.

(...)