6 thg 7, 2014



Từ thời còn trẻ… đến lúc về già


Tác giả: Nguyễn Ngọc Chính
KD: Bài do bạn bè iu quý gửi đến, rất thú vị, bổ ích.  Theo bạn bè, bài này do bạn Bá Trần giới thiệu. Xin cảm ơn bạn Bá Trần và xin được đăng lên Blog để bạn đọc chia sẻ   :D
.
Trẻ hay già, đều do tâm hồn, tinh thần, phong cách con người tạo ra. Từ kinh nghiệm bản thân, mình thấy ở riêng người đàn bà, tuổi 38-40 mới là tuổi đẹp nhất. Người đàn bà khi đó có cái trẻ của giai đoạn “bừng sáng”, thăng hoa, lại có độ chín chắn, hấp dẫn, quyến rũ riêng mà tuổi trẻ không sao có được. Đó là mình muốn nói đến sự tự nhiên, chân thành và độ tinh tế trong trí tuệ, trong tư duy và trong cả làm đẹp, trong ứng xử, không nói đến các “nghệ thuật mồi chài, đưa đẩy” thực chất rất xa lạ với cái đẹp trong sáng, bản thể.
.
Vì thế mình lại thấy, 30 tuổi thì tuổi 20 chả là gì, 40 tuổi thì tuổi 30 chả là gì… , với mình. Khi nghe lời tư vấn, lời khuyên đó, nhiều bạn trẻ ở cơ quan cũ, báo ND, và VNN bây giờ lè lưỡi và sung sướng. Hỏi: Phải làm thế nào hả cô? Chịu. Bí quyết là Lao động.
.
Khi nói vậy, các bạn trẻ lại thừ người, và có vẻ không còn hào hứng.
.
Nhưng đó chính là bí quyết để làm Đẹp đó. Ai nắm được bí quyết bí ẩn này, người đó vẫn là người Hạnh phúc!  :D
—————-
Đời người thường được gói gọn trong một câu thật đơn giản: “Từ thời còn trẻ… đến lúc về già”. Nói như vậy nhưng không đơn giản chút nào vì những suy nghĩ phức tạp của từng thời kỳ, qua đó thể hiện quan niệm sống khác hẳn nhau, nhiều lúc đến độ mâu thuẫn, xung đột gay gắt.
Thời còn trẻ bao gồm các giai đoạn từ thơ ấu, tiến dần đến tuổi vị thành niên và rồi trở thành thanh niên vào lứa tuổi từ 19 đến 24. Đây là khái niệm của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhưng chưa được thống nhất vì còn tùy thuộc vào từng khuôn khổ xã hội của từng quốc gia. Chẳng hạn như ở Trung Quốc, tuổi thanh niên là 29, trong khi tại Bangladesh là 34 và ở Malyasia thậm chí đến 40 tuổi!

Tuổi trẻ
Những người được gọi là “cao tuổi”, “cao niên” hay “người già” thường có độ tuổi từ 60 trở lên như tại Việt Nam. Tại một số nước quy định tuổi của người già được căn cứ vào những gì họ cống hiến cho gia đình và xã hội. Thuật ngữ “senior citizen” dùng tại Anh và Mỹ ám chỉ những người đã hưu trí (retiree), thường là những người từ 65 tuổi trở lên. Tại Mỹ, ngày 21/8 là ngày toàn quốc tôn vinh những công dân lớn tuổi, ngày đó được gọi là“National Senior Citizens Day”.
Tuổi già
Bài viết này không có ý tôn vinh tuổi già và cũng chẳng đề cao tuổi trẻ. Tôi chỉ có tham vọng đặt vấn đề về những cảm xúc của con người thay đổi theo tuổi tác. Những điều được nêu ra dưới đây có thể mang phần nào ý nghĩa chủ quan vì người viết thuộc về lứa tuổi “gần đất xa trời”, nhưng thiết nghĩ, người trẻ cũng như già nên đọc để chiêm nghiệm những cái đúng và cả những cái sai.
Đề tài từ cổ chí kim được nói đến nhiều nhất là “Tình yêu trai gái”. Một triết gia nào đó đã phân tích: Cảm xúc về Tâm hồn tạo ra Tình Bạn; Cảm xúc về Tri thức tạo ra lòng Kính Trọng và Cảm xúc về Thể xác tạo ra lòng Ham Muốn. Nếu cả ba cái này cộng lại, người ta sẽ có Tình Yêu (!). Cụ thể hơn, “Tình yêu Nam-Nữ” được thể hiện qua công thức:
Tình yêu Nam & Nữ = Tình bạn + Tôn trọng + Ham muốn
Lúc trẻ, tưởng yêu là tất cả, là mọi thứ trên đời… nhưng khi lớn tuổi, trải qua nhiều cuộc tình, mới biết sau yêu còn có… chia tay. Không phải chỉ một lần mà rất nhiều lần, cứ lập đi lập lại… Điều mà người trẻ tuổi không bao giờ hoặc ít khi nào nghĩ đến!
Lúc trẻ, vẫn nghĩ rằng tình yêu là mãi mãi, tình yêu là thứ quan trọng nhất trong cuộc đời. Khi có tuổi mới biết tình yêu “đến đó rồi đi, có đó rồi mất”. Từ những cảm nghĩ lạc quan của tuổi trẻ người ta lại bước sang tư tưởng bi quan của người già!
Lúc trẻ, cứ tưởng “yêu một người thì dễ, quên một người mới khó”. Người trẻ khi yêu hình như đã mặc nhiên công nhận vị trí “khó quên” của người bạn tình. Đến khi tuổi tác ngày một cao đã chứng minh điều ngược lại: người lớn tuổi thấy mình đã quên đi nhiều người mình đã từng yêu, quên một cách dễ dàng!
Tình yêu có vĩnh cửu như “ổ khóa tình nhân” trên cầu?(Hình chụp tại Melbourne, Australia)

Lúc trẻ cứ tưởng tình yêu luôn dựa theo nguyên tắc “bình đẳng” qua triết lý “yêu thương cho đi là yêu thương nhận lại”. Về già mới chợt nhận ra bài học kinh nghiệm đầy bất công của tình yêu: “có những yêu thương chỉ cho mà không nhận”. Nhà thơ người Anh, Abraham Cowley (1628-1667) đã phải thốt lên:
“Of all the pain, the greatest pain
It is to love, but love in vain”
Tạm dịch là:
“Trong mọi khổ đau, niềm đau vĩ đại,
Là trót yêu người… không hề yêu lại”
Lúc trẻ cứ tưởng rằng “yêu một người là sống chết vì người đó”, giờ mới biết “yêu một người là phải biết tự yêu lấy mình”. Đây không phải là lòng “tự ái” của con người khi về già mà là những điều mà nhiều người có tuổi rút ra được sau những cuộc tình “mù quáng” của thời thanh niên và thiếu nữ.
Lúc trẻ cứ nghĩ “sau tình yêu sẽ là hôn nhân”, đến khi về già mới nhận ra: “vẫn có những cuộc hôn nhân không cần tình yêu”. Ngạn ngữ Pháp có câu: “Tình yêu là Bình Minh của hôn nhân, hôn nhân là Hoàng Hôn của tình yêu” và với kinh nghiệm bản thân, Socrates khuyên nhủ mọi người:
“Bằng đủ mọi cách, hãy lập gia đình. Nếu lấy được người vợ tốt, bạn sẽ hạnh phúc. Nếu lấy phải người xấu bạn sẽ trở thành một triết gia” (By all means: marry. If you get a good wife: you’ll become happy. If you get a bad one: you’ll become a philosopher).
Ngay từ lúc còn trẻ nhiều người cũng đã trở thành “triết gia” vì yêu. Họ thích định nghĩa tình yêu với những mỹ từ, mỹ ý… Nào tình yêu là X, là Y, là A,B,C,D… khi lớn tuổi lại cuống cuồng vì hoang mang, không biết tình yêu thật sự là gì cả. Tại sao ư? Vì, “tình yêu thật khó định nghĩa: nó đến bất chợt, đi bất ngờ, và để lại một vết thương lòng muôn thuở”!
Tình yêu quả là… rắc rối
Lúc trẻ cứ tưởng hạnh phúc là điều gì đó xa xôi lắm, về già mới biết hạnh phúc chỉ đơn giản là những thứ bình dị xung quanh, có chăng là mình đã không nhận thấy. Người trẻ chỉ thấy hạnh phúc trong hôn nhân khi được sống bên người tình yêu mến, về già hạnh phúc đó lan tỏa đến con cháu qua một thứ không còn là tình yêu trai gái mà là tình ruột thịt, máu mủ.
Khi còn trẻ, phạm vi giao tiếp thường mở rộng, bạn bè giao thiệp rất đông. Đến lúc ở vào tuổi về hưu bỗng thấy mình cô đơn vì cuộc sống thu hẹp và người già thường “ẩn mình” trong phạm vi gia đình.
Tuy nhiên, cũng có người vẫn hăng say hoạt động xã hội để khỏa lấp sự trống rỗng, có người tìm một thú vui cho bản thân như chăm sóc cây cảnh, viết lách… Chỉ tội nghiệp những ai không tìm cho mình một hướng đi lúc về già trước khi bị bệnh tật tấn công để trở về với cát bụi.
Lúc trẻ tưởng “nói quên là có thể quên được”, giờ mới biết có những chuyện càng muốn quên thì nó lại càng ở mãi trong lòng. Điều này cho thấy người lớn tuổi hướng về cuộc sống “nội tâm” trong khi người trẻ giữa cuộc sống tất bật ngoài xã hội, luôn… “hướng ngoại”.
Lúc trẻ, tưởng cô đơn ở đâu xa lắm vì chung quanh toàn là người, về già mới hiểu những giây phút bên người thân quả là một sự ấm áp nhưng lại rất mong manh, trong khi đó, “nỗi cô đơn luôn ở bên cạnh”.
Cũng vì thế cho nên khi còn trẻ cứ tưởng việc đóng một cây đinh vào tường thật đơn giản vì không thích thì có thể nhổ đi. Về già mới thấy: đinh có thể nhổ nhưng vết lõm trên tường vẫn còn đó.
“Hai mươi bốn năm sau. Tình cờ đất khách gặp nhau.
Đôi cái đầu đều bạc.
Nếu chẳng quen lung đố nhìn ra được.
Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi,
Con mắt còn có đuôi”
Đó là những lời kết trong bài thơ Tình Già của Phan Khôi đăng trên báo Phụ nữ Tân văn năm 1932. Bài thơ này có thể coi như tác phẩm thơ tự do đầu tiên, mở đường cho phong trào Thơ Mới ở Việt Nam. Về phương diện tình cảm, bài thơ thể hiện “một vết lõm trên tường” sau khi cái đinh được nhổ từ thời trai trẻ.
Hạnh phúc tuổi già
Theo lẽ tự nhiên, người ta khóc khi buồn nhưng một khi có tuổi mới thấy điều buồn nhất là… “không thể khóc được”. Xem một cuốn phim, đọc một cuốn truyện người trẻ và người già thường có những cảm xúc khác hẳn nhau! Có thể vì đã từng trải nhiều nên tình cảm của người già đã trở nên… “chai lì”? Phải chăng tuyến lệ cũng đã bị “lão hóa” nên không còn hoạt động?
Giọt nước mắt
Ở một thái cực ngược lại, cười là vui nhưng nhiều khi người lớn tuổi lại thấy “có những giọt nước mắt còn vui hơn tiếng cười”, chẳng hạn như trường hợp gặp lại người thân sau một thời gian dài xa cách, “mừng mừng, tủi tủi”.
Những lúc tình cảm đạt đến “cực điểm”, người ta thường nhớ đến câu thơ đầy mâu thuẫn của Xuân Diệu:
“Cười là tiếng khóc khô không lệ
Người ta cười trong lúc quá chua cay”
Người ta cũng có thể “cười ra nước mắt” hay như Nguyễn Du trong Kiều đã vẽ nên cảnh oái ăm “Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm”. Suy cho cùng, chuyện Khóc-Cười là lẽ thường tình nhưng rõ ràng là mức độ Khóc-Cười thường bị ảnh hưởng phần nào vì tuổi tác.
Khóc & Cười
Lúc trẻ tưởng chỉ có kẹo là ngọt, giờ lớn mới biết có những thứ còn ngọt ngào hơn cả kẹo. Người cha già trên giường bệnh nhận từ con viên thuốc đắng nhưng sao vẫn thấy ngọt. Người mẹ già ăn bát canh khổ qua nhưng không cảm thấy đắng vì sự hiếu thảo của con. Ông cha ta thường nói: “Già được bát canh, trẻ được manh áo mới”là vậy.
Lúc trẻ tưởng tượng rất nhiều, về già mới nhận ra: “chuyện cổ tích không bao giờ có thật”. Lúc trẻ, tưởng mình có thể thay đổi cả thế giới, khi tuổi tác đã cao mới thấy thay đổi chỉ một người cũng khó, có chăng vẫn chỉ là tự thay đổi mình.
Lúc trẻ cứ tưởng một khi thành “người lớn” là lớn, bây giờ mới thấy có nhiều người đã lớn mà vẫn chưa thành người lớn. Đến khi thật sự thành người lớn thì người ta mới hiểu: “không bao giờ bé trở lại được”. Đó là sự thật khiến cho nhiều người lúc bé cứ mong mình chóng lớn, giờ đây lớn rồi lại ước gì mình bé lại.
Lúc trẻ cứ mơ ước lớn lên sẽ trở thành người này người kia. Về già mới biết: “được trở thành chính mình mới là hạnh phúc nhất”. Lúc trẻ tưởng rằng “những gì đến rồi sẽ đi”, giờ mới biết: “khi niềm vui đến thường qua mau, còn nỗi buồn đến thì cứ ở bên ta mãi mãi”.
Lúc trẻ cứ nghĩ: “Tiền bạc, Tình yêu rồi mới đến Sức khỏe”, về già mới khám phá sự đảo ngược: “Sức khỏe, Tiền bạc, Tình yêu”. Lúc trẻ rất sợ phải chết, nhưng vềgià “sự lãng quên còn đáng sợ hơn cái chết rất nhiều”.
Cuối cùng, lúc trẻ cứ tưởng sự sống và cái chết ở cách xa nhau lắm. Về già mới hiểu nó chỉ cách nhau một lằn chỉ mong manh. Johann Von Goethe đã từng nói: “Cái chết, ở một mức độ nào đó, là một điều vô lý bỗng trở thành hiện thực” (Death is, to a certain extent, an impossibility which suddenly becomes a reality).
Và lúc đó chúng ta thanh thản ra đi để khởi đầu một cuộc hành trình cuối cùng: Bước-Nhảy-Vọt-Vào-Bóng-Tối.
———–

5 thg 7, 2014


20 BÀI THUỐC HAY CHỮA KHỎI BỆNH ĐAU LƯNG
Ðau lưng là một bệnh rất hay gặp ở độ tuổi trung và cao niên. Bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra và thường được chia làm hai loại: Ðau lưng cấp tính và đau lưng mãn tính.
Bài viết dưới đây xin giới thiệu một số bài thuốc đơn giản, dễ tìm có thể chữa được bệnh đau lưng mãn tính.
Bài 1: Lá ngải cứu tươi xào nóng với dấm, bọc trong túi vải đắp, chườm vào thắt lưng hay chỗ đau.
Bài 2: Bã dấm 250g, xào nóng, bọc trong túi vải, đắp vào chỗ đau trước khi đi ngủ 1-2 giờ.
Bài 3: Dây mướp tươi 2m, thái lát mỏng. Sắc uống 2-3 lần trong ngày.
Bài 4: Rễ cây mướp và dây mướp già ở gần gốc đem đốt thành tro hoặc sao, đến khi có màu vàng già thì xay nhỏ thành bột. Ngâm uống 2 lần, mỗi lần 6g, chiêu thuốc bằng rượu.
Bài 5: Cẩu tích (rễ cây lông cu-li) 30g, sắc uống ngày 1 thang. Bài thuốc này chủ trị đau lưng do hàn thấp.
Bài 6: Hạt mướp tươi 60g, giã nát, đắp vào huyệt mệnh môn (nằm ở giữa 2 gai đốt sống thắt lưng 3 và 4). Mỗi ngày thay thuốc 1 lần.
Bài 7: Hạt cam sao vàng, xay nhỏ thành bột mịn. Ngày uống 10g, chia 2 lần, chiêu thuốc bằng rượu nhẹ. Bài thuốc này chủ trị đau lưng do chấn thương gây ứ huyết bên trong.
Bài 8: Hạt hẹ 12g, vỏ vừng 15g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần trong ngày.
Bài 9: Rễ cà 20g, gừng khô 6g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần trong ngày.
Bài 10: Vỏ quả bí ngô già 60g, rễ cây bông 60g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần uống trong ngày.
Bài 11: Vỏ quả bí ngô già 60g, hương nhu 15g, đường đỏ 30g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần uống trong ngày.
Bài 12: Ðậu đỏ nhỏ 30g, xơ mướp 12g, củ hành ta 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần uống trong ngày.
Bài 13: Hạt bí ngô 40g, đậu đỏ nhỏ 30g, lá cây lạc 20g, gừng khô 3g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.
Bài 14: Hạt bông 40g, hành củ 20g, lá tía tô 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.
Bài 15: Lá ớt cay 50g, rượu vừa đủ. Lá ớt rửa sạch, giã nát, xào nóng rồi cho thêm chút rượu, bọc trong túi vải đắp vào chỗ đau khi thuốc còn nóng. Mỗi ngày thay thuốc 1 lần. Khi thuốc nguội có thể xào lại 1-2 lần.
Bài 16: Trà xanh 1g, bột vừng chín 5g, đổ vào nửa lít nước sôi, khuấy đều, chia 3 lần uống trong ngày. Mỗi ngày uống 1 thang.
Bài 17: Rễ cây lau 30g, vỏ quả bí ngô già 30g, nhân trần 15g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.
Bài 18: Bổ cốt toái 30g, đem sấy khô rồi xay thành bột. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 3g. Chiêu thuốc bằng rượu hoặc sắc nước uống.
Bài 19: Rễ hẹ 100g, dấm chua 50ml. Rễ hẹ rửa sạch, giã nát, thêm dấm rồi bọc trong túi vải đắp vào chỗ đau, mỗi ngày thay thuốc 1 lần.
Bài 20: Gừng sống 20g, hành củ 15g, bột mì 30g. Ðem gừng và hành giã nát rồi cho bột mì vào. Xào nóng, sau đó đắp vào chỗ đau, dùng băng vải cố định lại. Mỗi ngày thay thuốc 1 lần.
Hãy chia sẻ cho mọi người cùng biết để cùng chăm sóc sức khoẻ thật tốt nhé.
Mình biết vui là vui, biết đủ là đủ...
Chỉ cần mình biết, không cần đứa khác biết 
Thíchpost 5/7/14

3 thg 7, 2014

Những mốc son trên quê hương núi Ấn, sông Trà

Đăng ngày: 30/06/2014; 106 lần đọc
​(Nhandan.com.vn)-Sau 25 năm tái lập tỉnh, Quảng Ngãi đã trải qua nhiều khó khăn và không ngừng vươn lên xây dựng quê hương núi Ấn, sông Trà ngày càng phát triển toàn diện, bền vững, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Tỉnh Quảng Ngãi đã được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh.
Quê hương tỏa sáng

25 năm sau ngày tái lập tỉnh (1-7-1989) từ nền kinh tế có điểm xuất phát thấp, kết cấu hạ tầng yếu kém, Quảng Ngãi đã có bước đột phá nhanh trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo đảm phát triển kinh tế -xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Nhờ đó, tăng trưởng kinh tế liên tục giữ mức cao. So với năm 1989, GDP gấp 10,48 lần (trong đó nông, lâm nghiệp và thủy sản gấp 3,17 lần, công nghiệp -xây dựng gấp 40,20 lần, dịch vụ tăng gấp 10,32 lần). Bình quân thời kỳ từ khi tái lập tỉnh, GDP tăng 10,28%/năm. Thu ngân sách trên địa bàn đạt nhiều kết quả vượt bậc, nhất là từ khi Nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động. Từ những năm 1990, nguồn thu của tỉnh với khoảng 22 tỷ đồng, đến năm 2013, thu ngân sách đạt hơn 30.199 tỷ đồng, gấp 1.372 lần, đứng thứ 4 cả nước. Thu nhập bình quân đầu người tăng rõ rệt, từ 388 nghìn đồng năm 1990 tăng lên 24,023 triệu đồng vào năm 2010 và đạt 43,779 triệu đồng năm 2013, gấp 112 lần so với năm 1990.

Có thể nói, Quảng Ngãi đã tạo động lực phát triển ngành công nghiệp vượt bậc từ môi trường đầu tư yếu kém trước đây nay đã vươn lên vị trí thứ 7/63 tỉnh, thành phố trong cả nước năm 2013 về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Đến nay, Quảng Ngãi thu hút 28 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 4.020 triệu USD.Từ một tỉnh chưa có Khu công nghiệp, cụm công nghiệp đến nay đã có Khu kinh tế (KKT) Dung Quất, các khu công nghiệp Tịnh Phong, Quảng Phú, trong đó một số nhà máy quy mô lớn như là Nhà máy lọc dầu Dung Quất, Doosan Vina, giải quyết việc làm cho 12.600 lao động. Đặc biệt, năm 2013 tỉnh đã tổ chức khởi công Khu công nghiệp - đô thị và dịch vụ VSIP, góp phần tạo thế liên kết sản xuất đa dạng hóa sản phẩm... Với giá trị sản xuất công nghiệp năm 2013 gấp 83,65 lần so năm 1989 và gấp 7,86 lần năm 2008 (riêng giai đoạn 2009 -2013 tăng bình quân 51%/năm). Các ngành thương mại, dịch vụ, xuất nhập khẩu phát triển khá với sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế, chất lượng các dịch vụ đã được nâng cao. Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng gấp 12,3 lần so với năm 1989, bình quân hằng năm tăng 11,01%. Hiện nay, tỉnh có khoảng 40 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu các mặt hàng có giá trị cao đến 30 quốc gia và vùng lãnh thổ... Nhờ đó, tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh tăng đột biến, đạt 508,8 triệu USD năm 2013, tăng gấp 610 lần so với những năm đầu tái lập tỉnh.

Kết cấu hạ tầng, khu đô thị, các khu công nghiệp, khu kinh tế ngày càng phát triển. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 1989 - 2013 khoảng 143.000 tỷ đồng. Ngày đầu KKT Dung Quất chỉ có 10.300 ha, đến nay đã được quy hoạch mở rộng lên 45.332 ha. Hiện nay, thương hiệu Dung Quất - Quảng Ngãi đã được mọi người quan tâm -bởi nơi đây có các nhà máy hóa dầu, cảng biển nước sâu Dung Quất, Nhà máy lọc dầu Dung Quất và Công ty công nghiệp nặng Doosan... TP Quảng Ngãi là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh, đến nay đã điều chỉnh, mở rộng địa giới hành chính về phía bắc và phía đông bao gồm chín xã và một thị trấn của huyện Sơn Tịnh và ba xã của huyện Tư Nghĩa, nâng diện tích tự nhiên và dân số của thành phố Quảng Ngãi lên 16.015,34 ha và 260.252 người. Tại các huyện cũng đã hình thành và phát triển các đô thị như ở phía nam có Đức Phổ, phía bắc có Châu Ổ, phía tây có Di Lăng...

Hạ tầng giao thông được quan tâm đầu tư một cách mạnh mẽ, góp phần vào những thành tựu đổi mới của tỉnh. Ngay thời điểm 1989, toàn tỉnh chỉ có hai tuyến quốc lộ, tỷ lệ nhựa hóa, cứng hóa còn thấp. Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã có bốn tuyến quốc lộ, 11 tuyến đường tỉnh, đường đô thị tăng 2,5 lần, đường huyện tăng 1,4 lần, đường xã tăng tám lần. Đặc biệt, Cảng Dung Quất, Cảng Sa Kỳ và Cảng rót dầu không bến đã được đầu tư xây dựng và khai thác rất hiệu quả. Khối lượng vận tải hành khách giai đoạn từ năm 1989 - 2014 tăng trưởng bình quân đạt 11,2%/năm và khối lượng vận tải hàng hóa tăng trưởng 14,43%/năm. Hệ thống mạng lưới điện trước đây chỉ cung cấp cho thị xã Quảng Ngãi, đến nay đã cung cấp cho 92% dân số toàn tỉnh.

Đời sống đổi thay

Sự chuyển dịch kinh tế nông nghiệp nhanh chóng, bền vững đã đem lại giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản của tỉnh năm 2013 tăng gấp 3,58 lần so với năm 1989, bình quân hằng năm tăng 5,46%. Sản lượng lương thực có hạt từ 238 nghìn tấn lên 468,55 nghìn tấn (tăng gấp 2 lần) và sản lượng lương thực bình quân đầu người từ 226,5 kg/người lên 379 kg/người (tăng 1,67 lần). Với nhiều lợi thế về ngư trường đánh bắt, nuôi trồng và chế biến, sản lượng thủy sản đánh bắt từ 16.917 tấn năm đầu tái lập tỉnh đã tăng lên 140.043 tấn năm 2013, gấp 8,27 lần; số lượng tàu cá không ngừng tăng lên, nhất là tàu có công suất lớn phục vụ đánh bắt xa bờ, đến nay toàn tỉnh có khoảng 5.418 tàu thuyền, với tổng công suất 870.178 CV.Sản xuất thủy sản đã và đang góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất cho nông dân ở các vùng ven biển và nông thôn, cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu, đồng thời góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Chương trình nông thôn mới từ khi được triển khai trên địa bàn tỉnh đã đạt nhiều thành tựu đáng khích lệ. Nhiều vùng nông thôn, miền núi và hải đảo đã thay da đổi thịt rõ nét, tạo được ổn định cuộc sống cho người dân...

Trên quê hương Quảng Ngãi hôm nay không những phát triển nhanh chóng, hiệu quả trên các lĩnh vực văn hóa - xã hội, thể thao, du lịch, báo chí, các cơ quan truyền thông, an sinh xã hội, mà đặc biệt ngành Giáo dục và Đào tạo được đổi mới căn bản ở các cấp học, bậc học, chất lượng giáo dục, trình độ đội ngũ giáo viên được nâng lên đúng tầm. Là một tỉnh có sáu huyện miền núi nằm trong 69 huyện nghèo của cả nước, nhưng đến nay 100% các huyện, thành phố hoàn thành phổ cập tiểu học và trung học cơ sở. Tổng số trường đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn tỉnh là 266/633 trường. Tỷ lệ học sinh trúng tuyển vào các trường cao đẳng, đại học tương đối cao, từ khi tái lập tỉnh đến nay đã có 103.005 lượt trúng tuyển nguyện vọng 1 vào các trường đại học và 2.604 lượt học sinh các con em đồng bào dân tộc trúng cử tuyển, tạo thành nguồn nhân lực quan trọng cho tỉnh nhà.

Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, mạng lưới y tế cơ sở từng bước được củng cố về số lượng và chất lượng. Nếu như năm 1990 có 9,99 giường bệnh/vạn dân, 91,5% xã, phường có trạm y tế, 1,81 bác sĩ/vạn dân, 1.080 giường bệnh thì đến năm 2013 có 19,99 giường bệnh/vạn dân, 99% xã, phường có trạm y tế, 5 bác sĩ/vạn dân, 2.485 giường bệnh.

Giải quyết việc làm đạt kết quả khá, cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng dần lao động công nghiệp, dịch vụ, từ một tỉnh có tỷ lệ lao động nông-lâm nghiệp và thủy sản là chủ yếu, chiếm hơn 76,15% năm 1996 nay giảm xuống dưới 50% vào năm 2013. Từ một tỉnh không có phong trào về xuất khẩu lao động, đến nay hoạt động xuất khẩu lao động đã thu hút sự quan tâm của nhiều hộ gia đình, góp phần giải quyết việc làm và xóa đói, giảm nghèo cho nhân dân, nhất là lao động ở nông thôn, miền núi.

Công tác giảm nghèo có nhiều tiến bộ và đạt kết quả tích cực, đặc biệt là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2006 trên địa bàn tỉnh là 31,94%, đến cuối năm 2010, còn 15,4% (trong đó, sáu huyện miền núi chiếm 35,23%). Theo chuẩn hiện nay giai đoạn 2011 - 2015, đến cuối năm 2013, số hộ nghèo trên địa bàn tỉnh còn 14,93%. Chính sách hỗ trợ hộ nghèo, hộ gia đình có công với cách mạng về nhà ở đã mang lại hiệu quả rõ rệt trong đời sống nhân dân...

Hệ thống thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, trên 30% số xã, phường, thị trấn có Nhà văn hóa; có 72,7% khối phố, 79,4% gia đình, 90,5% cơ quan, đơn vị đạt chuẩn văn hóa. Phong trào sinh hoạt văn hóa văn nghệ ở cơ sở diễn ra sôi nổi, nhiều hội thi hội diễn nghệ thuật được các huyện, thành phố tổ chức phục vụ nhân dân và góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống ở địa phương.

Quốc phòng an ninh được tăng cường, giữ vững ổn định chính trị - xã hội; công tác đối ngoại được đẩy mạnh, góp phần tích cực vào các thành tựu chung của tỉnh. Thường xuyên duy trì mối quan hệ giữa Quảng Ngãi và các tỉnh phía nam của nước bạn Lào; chủ động phối hợp với các lực lượng liên quan thực hiện hiệu quả các chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, ngăn chặn kịp thời các hoạt động tình báo, phá hoại, hoạt động các loại tội phạm, phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai; bảo đảm các vấn đề an ninh và trật tự an toàn xã hội. Những kết quả đó góp phần xứng đáng vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới đất nước. Ghi nhận, đánh giá cao những thành tựu, đóng góp to lớn đó, Đảng và Nhà nước đã trao tặng Đảng bộ và nhân dân Quảng Ngãi nhiều Huân chương và danh hiệu cao quý cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

25 năm qua, trên quê hương núi Ấn, sông Trà có những mốc son tỏa sáng là do sự phấn đấu của toàn Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh, trong đó có vai trò quan trọng của các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp từ tỉnh đến cơ sở. Đặc biệt, gần đây Tỉnh ủy đã triển khai quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết T.Ư 4 (khóa XI) "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" gắn với thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã tạo ra những chuyển biến rộng rãi, tích cực và thật sự đã mang lại hạnh phúc, ấm no cho người dân.

Phấn đấu trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2020

Với chương trình, mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế -xã hội của tỉnh đã đề ra khá cụ thể, trước mắt, giai đoạn 2011 - 2015, Quảng Ngãi phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 6,9%; cơ cấu kinh tế ngành Nông -lâm nghiệp và thủy sản trong GDP chiếm dưới 15%; lao động phi nông nghiệp trên 53%. Trong bối cảnh khó khăn, thách thức to lớn đan xen, Đảng bộ và nhân dân Quảng Ngãi cần phát huy truyền thống của địa phương có bề dày lịch sử và đoàn kết phấn đấu, đi đầu thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, góp phần đổi mới mô hình tăng trưởng, thực hiện thắng lợi ba nhiệm vụ đột phá chiến lược và hai nhiệm vụ trọng tâm, đó là: phát triển công nghiệp; phát triển đô thị; phát triển nguồn nhân lực; phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới; đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, phấn đấu giảm nghèo nhanh và bền vững ở sáu huyện miền núi. Bên cạnh đó, cần quan tâm phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa-xã hội, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo đảm tốt các vấn đề an sinh xã hội, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát huy dân chủ và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân. Xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị từ tỉnh tới cơ sở trong sạch, vững mạnh, có năng lực và sức chiến đấu cao. Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên.

Là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền trung, nằm trong hành lang kinh tế Đông -Tây có nhiều tiềm năng và lợi thế, Quảng Ngãi tiếp tục đẩy mạnh đồng bộ các giải pháp lớn, tạo ra những mốc son mới trên quê hương và phấn đấu cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 mà Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII đã đề ra.

LÊ QUANG THÍCH
Quyền Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi

2 thg 7, 2014



25 năm ngày tái lập tỉnh Quảng Ngãi ( 1/7/1989- 1/7/2014 )· 
 TRỒNG HOA HỒNG BẰNG NHÁNH

http://www.webtretho.com/forum/f112/trong-hoa-hong-tai-nha-tu-khoai-tay-1898021/
 
Tuy khó tin nhưng sau một thời gian, chỉ từ một cành hồng, nụ hồng nhú lên và nở bung tuyệt đẹp trong vườn nhà.
Đã bao giờ bạn nghe nói đến phương pháp trồng (nhân giống) cây hoa hồng tại nhà bằng cách giâm cành từ củ khoai tây, rồi trồng xuống đất hay chưa? Nếu chưa, bạn sẽ không thể bỏ qua việc tìm hiểu phương pháp nghe có vẻ có hơi... điên rồ, kỳ lạ nhưng rất hiệu quả này đấy.
Khoai tây kích thích quá trình hình thành bộ rễ sau khi trồng trong đất,đảm bảo việc giâm cành thành công và phát triển thành cây con khỏe mạnh

Để bắt đầu trồng cây hoa hồng tại nhà, bạn cần chuẩn bị:
- 1 củ khoai tây cỡ lớn (càng to càng tốt)
- 2 cành hoa hồng tươi
- Dụng cụ trồng: Bay nhỏ
- Kéo, nước tưới
Thực hiện:

Đầu tiên, cắt đôi củ khoai tây, và tạo một lỗ nhỏ ở trên đỉnh của hai nửa củ khoai. Kích thước của lỗ to hay nhỏ không quan trọng, miễn sao nó vừa vặn với cành hoa hồng.

Chuẩn bị 2 cành hoa hồng dài từ 18 – 20 cm, cắt bỏ phần nụ hoặc bông nếu có, phần gốc cành cắt chéo một góc 45 độ. Sau đó, cắm trực tiếp cành hoa hồng vào lỗ nhỏ đã tạo sẵn trên củ khoai tây.

Nên sử dụng cành vừa mới cắt từ cây mẹ xanh tốt.

Cuối cùng, trồng chúng xuống đất và tưới nước ngay lập tức.


Đa số các giống hoa hồng không ưa thời tiết lạnh giá, vì vậy, thời điểm giữa mùa xuân sang mùa hè rất thích hợp để trồng hoa hồng. Những bông hoa của bạn sẽ đượm sắc hơn khi hấp thụ được đầy đủ ánh nắng mặt trời.

Góc sân vườn hay phòng khách của gia đình bạn sẽ trở nên sinh động hơn nếu có thêm vài chậu hoa.


Hiện nay, bạn có thể trồng một số giống hoa hồng phổ biến ở Việt Nam như hồng lửa (hồng Sa-đéc), hồng tỉ muội, hồng Đà Lạt...

Hoa hồng lửa (Hồng Sa-đéc)

Hoa hồng Đà Lạt.
Hoa hồng thuộc cây lâu năm, có thể trồng quanh năm và cho hoa thường xuyên nếu người trồng biết cách trồng và chăm sóc đúng yêu cầu sinh trưởng của cây.
 anh Lê Nhứt mail cho ngày 2/7/14
 

1 thg 7, 2014

Cái chết của một viên chức

Published on July 1, 2014   ·   No Comments
Truyện ngắn “Cái chết của một viên chức” (Смерть чиновника) được văn hào Anton P.Chekhov (1860 – 1904) công bố lần đầu trên tạp chí trào phúng “Những mảnh vỡ”số 27, ngày 2 tháng 7 năm 1883, với nhan đề “Một trường hợp” (Случай). Đến năm 1886, tác phẩm này được đưa vào tuyển tập “Những câu chuyện sặc sỡ” (Пёстрые рассказы) với nhan đề như chúng ta thấy hiện nay. Câu chuyện giản đơn về nỗi sợ hãi có phần kỳ quặc của gã Ivan Dmitryevich Chervyakov – một nhân viên hành chính mạt hạng – hẳn sẽ gợi cho quý độc giả không ít băn khoăn.
Cái chết của một viên chức
Vào một buổi tối thú vị, Ivan Dmitryevich Chervyakov, một viên chức quản trị hành chính không kém phần thú vị hơn, đã ngồi ở hàng ghế bành thứ hai, giương ống nhòm lên sân khấu mà xem vở “Chuông Kornevin”. Y vừa xem vừa cảm thấy trong lòng khoan khoái vô cùng. Bỗng dưng…Trong các truyện thường gặp chữ “bỗng dưng” này. Các tác giả đã có lý : cuộc đời quả là đầy rẫy những chuyện bất ngờ. Bỗng dưng mặt y nhăn nhó, mắt hoa lên, hơi thở nghẹn lại… y rời mắt khỏi chiếc ống nhòm, hơi cúi xuống và… hắt xì !!! Các bạn thấy đấy, y đã hắt hơi. Không ở đâu lại có lệ cấm người này người nọ hắt hơi cả. Người nhà quê hắt hơi, cảnh sát trưởng hắt hơi, và đôi khi cả các viên chức bậc ba cũng hắt hơi. Ai mà chẳng hắt hơi. Chervyakov không hề cảm thấy ngượng ngùng chút nào, y lấy khăn mùi soa ra lau, và như một người lịch sự, y nhìn quanh xem thử cái hắt hơi của mình có trót làm phiền ai không ? Liền đấy y cảm thấy bối rối. Y nhìn thấy một người đã có tuổi ngồi trên hàng ghế đầu ngay phía trước y đang lấy găng tay cẩn thận lau cổ và cái đầu hói của mình, mồm càu nhàu câu gì không rõ. Chervyakov nhận ra vị có tuổi là tướng Brizzhalov đương nhiệm tại tổng cục đường sắt.
“Mình làm bắn nước bọt vào ngài rồi! – Chervyakov nghĩ – Không phải thượng cấp của mình, ở nơi khác, nhưng dù sao thì vẫn không hay ho gì. Phải tạ lỗi mới được”.
Chervyakov dặng hắng, nghển cổ ra trước, thì thào vào tai vị tướng :
- Thưa ngài, ngài thứ lỗi cho, tôi trót hắt hơi… tôi vô ý…
- Không hề gì, không hề gì…
- Ngài làm ơn làm phúc tha lỗi cho. Tôi… tôi… không muốn thế đâu ạ!
- Thôi! Anh làm ơn ngồi yên cho! Để tôi xem nốt!
Chervyakov ngượng ngùng, bối rối cười ngây ngô và lại nhìn tiếp lên sân khấu. Xem thì vẫn xem nhưng không còn cảm thấy khoan khoái nữa, trong lòng đầy thắc thỏm lo âu. Đến giờ giải lao, y mon men đến chỗ Brizzhalov, loanh quanh một lúc rồi đánh bạo lắp bắp nói:
- Tôi… tôi trót hắt hơi vào ngài… Xin ngài… thứ lỗi cho…Tôi không… không cố ý… thế.
- Ôi dào, đủ rồi… Tôi đã quên rồi mà anh còn cứ nói mãi! – viên trưởng nói, môi dưới dề ra, tỏ vẻ sốt ruột khó chịu.
“Ngài nói ngài quên mà mắt ngài trông giận dữ thế, – Chervyakov nghĩ, hồ nghi liếc nhìn viên tướng – Ngài cũng không muốn nói nữa. Cần phải thanh minh với ngài rằng quả thật là mình không hề cố ý… rằng đó là quy luật của tự nhiên, không thì ngài lại nghĩ rằng mình muốn làm bắn nước bọt vào ngài. Bây giờ chưa nghĩ thế nhưng sau này có thể nghĩ…”
Khi về nhà, Chervyakov kể lại chuyện xảy ra cho vợ nghe. Nhưng y cảm thấy vợ mình quá xem thường chuyện đó, bà ta chỉ hoảng sợ một chút thôi nhưng sau khi biết ngài là thủ trưởng ở nơi khác thì yên tâm trở lại.
- Nhưng mà thôi, ông cứ đến gặp ngài mà xin lỗi đi, – bà ta nói – Không thì ngài có thể nghĩ rằng ông không biết xử sự cho phải nhẽ ở nơi công cộng!
- Đúng là phải thế! Tôi đã xin lỗi rồi nhưng thái độ của ngài có vẻ khác thường làm sao ấy… Ngài không nói một lời nào đứng đắn cả. Ừ mà cũng chẳng có lúc nào để nói cho ra đầu ra đũa…
Cái chết của một viên chức 1
Ngày hôm sau, Chervyakov mặc bộ lễ phục mới, húi đầu tử tế rồi đi đến chỗ Brizzhalov để thanh minh. Bước vào phòng khách của tướng Brizzhalov, y trông thấy nhiều người đang đợi xin gặp và cạnh họ là chính ngài Brizzhalov lúc này đã bắt đầu nghe các lời thỉnh cầu. Hỏi một vài người xong, vị tướng đưa mắt nhìn Chervyakov.
- Dạ thưa ngài… hôm qua ở rạp Arkady ngài còn nhớ không ạ, – viên quản trị bắt đầu bẩm báo, – tôi… tôi hắt hơi… trót bắn dãi rớt vào… Xin… xin ngài…
- Rõ thật vớ vẩn… Có trời biết là thế nào nữa! Anh muốn gì nào? – vị tướng quay sang hỏi người tiếp theo.
“Ngài không muốn nói chuyện với mình! – Chervyakov tái mặt nghĩ – Thế là ngài giận đấy… Không, không thể để thế được. Mình phải thanh minh với ngài….”
Khi viên tướng đã nói chuyện xong với người thỉnh cầu cuối cùng và đi vào làm việc ở nhà trong, Chervyakov bèn bước theo và lắp bắp nói:
- Thưa ngài, nếu tôi có cả gan dám làm phiền ngài thì cũng chỉ vì, thưa ngài, tôi hối hận lắm ạ!… Tôi không cố ý đâu ạ, chắc ngài đã rõ!
Viên tướng cau mặt khoát tay:
- Này anh kia, có phải anh định giễu tôi không thì bảo! – viên tướng nói và đi vào trong phòng, đóng cửa lại.
“Mình giễu cợt gì mới được chứ? – Chervyakov nghĩ – Ở đây hoàn toàn không có chuyện gì đáng cười cợt cả! Ngài làm tướng mà ngài không hiểu. Nếu vậy thì mình sẽ không đến gặp ngài để xin lỗi nữa. Thôi mặc ngài! Mình sẽ viết cho ngài một bức thư, còn đến đây gặp thì thôi! Ôi dào, thôi không đến nữa!”
Chervyakov đã nghĩ ra thế khi trở về nhà. Thư gửi cho viên tướng y không viết. Y nghĩ hoài, nghĩ mãi cũng không biết phải viết như thế nào. Hôm sau, y lại đến đấy thanh minh lần nữa.
Cái chết của một viên chức 2
- Hôm qua tôi có đến làm phiền ngài. – Y lắp bắp nói, khi viên tướng đưa mắt về y với ý hỏi – Dạ, không phải là để cười cợt như ngài đã có lời phán đâu ạ. Xin ngài thứ lỗi vì khi hắt hơi đã làm bắn nước bọt ạ… chứ tôi không có ý giễu cợt gì đâu ạ. Tôi đâu dám cười cợt ạ? Nếu như tôi mà giễu cợt thì còn đâu là sự kính trọng… các bậc bề trên nữa ạ…
- Cút ngay!! Viên tướng quát to, người run lên, mặt tái xanh vì giận dữ.
- Sao… kia ạ? – Chervyakov khẽ hỏi lại, lặng người đi vì sợ hãi.
- Xéo ngay!! – Viên tướng giậm chân quát.
Trong bụng Chervyakov như có cái gì vừa bị dứt ra. Không nhìn thấy gì, không nghe thấy gì, y đi giật lùi ra cửa, bước ra ngoài phố và lê bước quay về. Đi về nhà như cái xác không hồn, y mặc nguyên bộ lễ phục, nằm xuống đi văng và tắt thở…