19 thg 11, 2013

nguyen trong tao


Giao lưu Thơ Nhạc tại Nhà văn hóa Thăng Long (Ba Lan)
Giao lưu Thơ Nhạc tại Nhà văn hóa Thăng Long (Ba Lan)
NTT: Tháng Tư năm 2006 Nhà Văn Hóa Thăng Long – Warszawa, Ba Lan mời tôi sang thăm, làm việc và giao lưu với cộng đồng người Việt ở đây. Tôi khá bất ngờ về tình yêu văn học nghệ thuật của người Việt xa quê. Hội trường đêm giao lưu đông chật, nhiều hoa và các máy ảnh, máy ghi âm ghi hình. Một cuộc giao lưu văn nghệ thoải mái và hào hứng, có sự tham gia trình diễn của các bạn trong CLB của Nhà Văn Hoá. Kết thúc đêm giao lưu, nhiều bạn bè nán lại uống rượu qua đêm, có người say nằm ngủ trên cả sô-pa. Và sau đó trên trang Website của NVHTL đã tường thuật lại cuộc giao lưu (chắc là bóc băng ghi âm). Tôi đưa lại đây để lưu giữ một kỷ niệm đẹp của mình với công chúng hải ngoại… 

NGUYỄN TRỌNG TẠO: DÀNH TÌNH YÊU CHO THƠ 

(Giao lưu tại Nhà Văn Hóa Thăng Long – Warszawa, 22.4.2006)
Trưởng ban tổ chức: BÙI ANH THÁI
Khách mời: Nhà thơ – Nhạc sĩ NGUYỄN TRỌNG TẠO
Dẫn chương trình (MC): BÙI HÙNG
Với sự tham gia của: Ns. NGUYỄN VĂN TOÀN, KIM KHUÊ, THANH TÙNG, ĐỨC HẠNH, NGUYỄN CHƯƠNG THIẾP,…
VHTL: Nhà thơ – Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo là một tên tuổi nổi tiếng như một nghệ sĩ đa tài Cầm Kỳ Thi Họa trong làng văn học nghệ thuật VN. Ông là Ủy viên Hội đồng Thơ Hội Nhà Văn Việt Nam, người đồng sáng lập và phụ trách biên tập tờ báo Thơ, nay là tạp chí Thơ; ông cũng là một trong những ngưới sáng lập ra Ngày Thơ VN. Như chúng ta đều biết, với tư cách là một nhà thơ, ông từng giật giải “Tam nguyên” thơ ca năm 1979 của 3 tờ báo lớn là báo Văn Nghệ, báo Nhân Dân và tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, và đặc biệt với tập thơ Đồng dao cho người lớn dành 2 giải thưởng trong nước. Thơ Nguyễn Trọng Tạo được dịch ra tiếng nước ngoài, trong đó có tiếng Ba Lan, và đã được Hội Nhà Văn Ba Lan mời sang thăm và làm việc năm 2004. Ông cũng là tác giả của 4 tập văn xuôi, và cuốn tiểu luận phê bình  Văn chương Cảm & Luận có số lượng bản in rất lớn. Với tư cách là nhạc sĩ, ông là tác giả của nhiều bài hát rất nổi tiếng như Làng Quan Họ quê tôi, Khúc hát sông quê, Đôi mắt đò ngang, v.v… Nguyễn Trọng Tạo đã 5 lần đoạt giải thưởng Hội Nhạc sĩ VN, và hiện nay ông làm việc tại Tạp chí Âm Nhạc và Thời Đại của Hội Nhạc sĩ. Ông cũng là Họa sĩ vẽ bìa sách và trình bày báo, với 500 mẫu bìa sách và 2 giải thưởng về bìa sách… Nhân chuyến đi thăm và làm việc tại Ba Lan, ông đã có cuộc giao lưu với cộng đồng người Việt tại Nhà Văn hoá Thăng Long – Warszwa vào đêm 22.4.2006. Dưới đây là nội dung cuộc Giao lưu đó.
Quan khách đêm giao lưu
Quan khách đêm giao lưu
MC: Thưa Nhà thơ – Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo (ntns NTT), Ở nước ta có một số nghệ sĩ nổi tiếng đa tài như Văn Cao, Nguyễn Đình Thi, Trịnh Công Sơn…người ta cũng gọi anh là một nghệ sĩ đa tài. Anh có nghĩ như vậy không? 
NGUYỄN TRỌNG TẠO: Tôi nghĩ tôi là một người bình thường như mọi người, và tôi làm tất cả những gì phù hợp với khả năng của mình. Nghĩa là thích làm thơ thì làm thơ, thích viết văn xuôi thì viết văn xuôi, thích làm nhạc thì làm nhạc, thích vẽ thì vẽ, thích viết phê bình tiểu luận thì viết phê bình tiểu luận. Hồi mới vào quân đội, tôi còn viết cả kịch nói và đã có vở kịch Tiếng súng do đội văn công xung kích biểu diễn cho nhiều đơn vị bộ đội và tham gia Hội diễn văn nghệ Quân khu. Có lẽ vì thế mà người ta cho tôi là “Người không bình thường”. Nhưng tôi vẫn nghĩ tôi là người bình thường. Thực ra làm một người bình thường “tự nhiên nhi nhiên” cũng không dễ. Tôi có quen biết và chơi thân với những người đa tài như Văn Cao, Trịnh Công Sơn… như là bạn vong niên, và tôi thấy họ cũng dễ thương, dễ gần như người bạn cùng lứa với tôi, nghĩa là không bao giờ họ tỏ ra mình là một “người đặc biệt” hay lập dị. Chính những người như thế đã dạy cho tôi phải làm một người bình thường như thế nào. Điều quan trọng là phải vượt qua sự ngộ nhận về bản thân mình.
MC: Thưa anh, anh đeo đuổi cả thơ ca nhạc họa, vậy anh có dành “tình cảm riêng” cho bộ môn nào không, hay là anh có một tình yêu chung cho tất cả? Và anh đã sáng tác tác phẩm đầu tiên như thế nào? 
NGUYỄN TRỌNG TẠO: Người ta thường yêu thương tất cả những đứa con do mình sinh ra, nhưng chắc tình yêu với từng đứa có khác. Tôi cũng vậy thôi. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, tôi dành tình yêu cho thơ nhiều nhất. Từ nhỏ tôi đã thích đọc sách, nhưng lại dị ứng với thơ trong sách giáo khoa, bởi khi thì nó quá đơn giản như “Hà Nội có cầu Long Biên/ Vừa dài vừa rộng bắc trên sông Hồng”, khi thì nó quá cầu kỳ đến kỳ quặc như “Đảng ta đó trăm tay nghìn mắt/ Đảng ta đây xương sắt da đồng”… Phải đến năm tôi 14 tuổi, tình cờ đọc được cuốn sách rất hay của Trần Thanh Mại viết về thi sĩ Hàn Mặc Tử trong tủ sách còn sót lại sau Cải cách ruộng đất của cậu tôi (tôi gọi bố là cậu), tôi mới thực sự yêu thơ. Những câu thơ, bài thơ Hàn Mặc Tử được trích dẫn trong cuốn sách đó đã cuốn hút tôi như một ma lực kỳ diệu. Thơ và cuộc đời thi sĩ Hàn Mặc Tử đã ám ảnh tôi đến rơi lệ. Tôi chép những câu thơ của ông vào sổ tay: “Người đi một nửa hồn tôi mất/ Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ”, “Bây giờ tôi dại tôi điên? Chắp tay tôi lạy cả miền không gian”… Và tôi bị nhiễm bệnh thi sĩ từ đó. Ngay đêm hôm đó, tôi bắt chước Hàn Mặc Tử như bắt chước một người thầy tự chọn, làm ra một bài thơ lục bát không đề. “Tôi nằm nhoài giữa ánh trăng/ Lưng tôi thảm cỏ rối hăng hương nồng/ Bạn ơi, trăng hoá dòng sông/ Tôi như thuyền nhỏ trôi trong nỗi niềm/ Bây giờ tôi dịu tôi hiền/ Biết đâu tôi dại tôi điên bao giờ/ Mai sau tôi chết trong thơ/ Hay là thơ chết bên bờ hồn tôi/ Trăng trên ngọn liễu trăng ngồi/ Tôi trên ngọn liễu tôi rơi bây giờ/ Bạn ơi, trăng quá ngây thơ/ Còn tôi cằn cỗi già nua thế này/ Bao giờ tôi hoá làn mây/ Hẳn tôi muôn thuở sum vầy cùng trăng…”. Mấy hôm sau tôi đưa bài thơ cho cậu tôi đọc. Cậu tưởng là tôi chép lại của ai đó, vì bài thơ lục bát rất chuẩn, lại có vẻ người lớn quá. Nhưng sau khi tôi nói là tôi đọc thơ Hàn Mặc Tử rồi bắt chước, thì ông đọc lại bài thơ, rồi nói: “Con làm thơ lục bát được đấy. Học Hàn Mặc Tử nên có ý lạ. Nhưng thời nay người ta không thích loại thơ này đâu. Cất đi. Còn con thích làm thơ thì cứ làm cho vui, chứ thành nhà thơ thì khổ lắm. Cổ kim có nhà thơ nào sung sướng gì đâu. Hàn Mặc Tử tài là thế mà đâm bệnh chết trẻ. Cụ Nguyễn Du nói rồi: Đã mang lấy nghiệp vào thân/ Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa”.
Tôi nghe lời cậu tôi, cất kín bài thơ không đọc cho ai nghe nữa. Đến khi trở thành nhà thơ, tôi đưa bài thơ đó vào tập thơ để in, nhưng bị nhà xuất bản Quân Đội loại ra. Mãi đến những năm “Đổi Mới”, bài thơ đầu tiên của tôi mới được in trong tập thơ Gửi người không quen. Cậu tôi không bao giờ được đọc bản in bài thơ đó. Ông đã mất trước khi bài thơ được in ra đúng 12 năm.
Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo trong đêm giao lưu.
Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo trong đêm giao lưu.
MC: Vâng, từ nhỏ, từ năm 14 tuổi anh đã làm thơ lục bát rất hay. Chúng tôi đọc thơ anh, và thấy thơ anh rất giàu nhạc điệu, nó rất khác với thơ của các bạn trẻ hôm nay, hình như họ không cần chú ý đến nhạc điệu nên rất khó thuộc. Anh có thể nói gì về nhận xét đó của bạn đọc? 
NGUYỄN  TRỌNG  TẠO: Người xưa nói: Thi trung hữu hoạ, nghĩa là trong thơ có nghệ thuật hội hoạ bằng ngôn ngữ hình ảnh. Người ta rất chú trọng hình ảnh trong thơ. Bây giờ tôi có thể nói thêm: Thi trung hữu nhạc. Không có nhạc điệu thì thật khó thành thơ. Mỗi nhà thơ có điệu nhạc riêng của mình. Đấy là điệu nhạc tâm hồn. Ngay cả làm thơ lục bát cũng vậy, cứ tưởng thơ lục bát chỉ có một điệu nhạc duy nhất. Không phải. Lục bát Nguyễn Du khác lục bát Nguyễn Bính. Lục bát Bùi Giáng khác lục bát Bút Tre. Lục bát Nguyễn Duy khác lục bát của tôi… Khi ý thức trở thành nhà thơ, tôi đã có ý thức “làm mới” thơ lục bát bằng cách ngắt câu và bằng hình ảnh của thời đại mới. Trước Nguyễn Bính, chưa ai đưa hình ảnh “khuy bấm” vào thơ lục bát cả. Vì thế mà câu thơ “Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi” xuất hiện rất mới, rất ấn tượng. Trong cuốn “Ngôn ngữ thơ” của nhà nghiên cứu Nguyễn Phan Cảnh xuất bản năm 1987 có nói tới cấu trúc hiện đại của thơ lục bát, và đã dẫn khá nhiều thơ lục bát của tôi viết những năm 70 với lối ngắt câu bậc thang. Sau này, trong bài thơ Chia, tôi vẫn dùng lối ngắt câu bậc thang ấy, và gây được hiệu quả rất tốt:
…Chia cho em một đời say 
một cây si 
               với 
                   một cây bồ đề 
tôi còn đâu nữa đam mê 
trời chang chang nắng tôi về héo khô… 
Ngay cả trong thơ tự do, thơ không vần người ta vẫn phải chú trọng đến nhạc điệu. Đọc văn xuôi cũng thấy phải lên bổng xuống trầm mới có sức truyền cảm, huống hồ là thơ. Nhạc điệu trong thơ là thứ nhạc điệu nội tại, khi du dương khi réo rắt, khi mông lung khi gấp gáp, khi ngập ngừng ý nhị, khi trần trụi thét gào… Nghĩa là nó tuỳ theo cung bậc của tình cảm mà điều khiển ý, lời. Tôi thích nhịp chẵn của lục bát, đồng dao Viêt, có lẽ vì thế mà thơ tôi nặng về nhịp chẵn. Tập thơ Đồng Dao Cho Người Lớn và sau đó là tập Nương Thân của tôi đều mang nhạc điệu chủ đạo là nhịp chẵn: “Có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi/ có con người sống mà như qua đời/ có câu trả lời biến thành câu hỏi/ có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới…”.
Thơ của bạn trẻ hôm nay có nhạc điệu không? Theo tôi là có. Nếu họ có hồn thơ thì ắt họ sẽ có nhạc điệu. Chúng tôi cũng đã có một thời tuổi trẻ, và biết rằng, chúng tôi phải thoát khỏi nhạc điệu thơ của người trước, vì thế chúng tôi mới quyết cách tân bằng phá cách, phá luật, phá nhạc, phá nếp nghĩ quen thuộc. Nhưng khi “phá cái cũ” mà chưa xây được cái mới hoàn chỉnh thì anh chưa là gì cả. Anh chỉ là thằng phá bĩnh mà thôi. Anh bóp méo cái cũ cho có vẻ lạ. Anh sơn phết bên ngoài cho có vẻ mới. Thực ra là cái mới phải khởi ra từ nội tại cảm xúc mới và tư tưởng mới của thi sĩ. Cũng nghĩa là anh phải có một nhạc điệu mới. Từ Rock đến Rap (hát nói) là một biểu hiện của bước đi hiện đại trong âm nhạc, nhưng nên nhớ rằng trong chèo cổ đã có hát nói, và trong Opera cũng đã có hát nói từ lâu. Thơ không vần không phải bây giờ mới có trong thơ trẻ, nhưng tại sao không nhập vào người đọc? Bởi nó chưa là thơ thứ thiệt, chưa phải thơ hay. Thơ mới lạ chưa hẳn đã là thơ hay, nhưng thơ hay tất nhiên phải chứa đủ cả yếu tố mới lạ. Thế mới gọi là sáng tạo. Ở trong nước có người cho rằng tôi ủng hộ lăng xê thơ trẻ có khi thái quá, nhưng thực ra tôi biết sự nhạy cảm của tôi, và tôi đã lăng xê những Vi Thuỳ Linh, Văn Cầm Hải, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly… từ rất sớm, cách đây hơn chục năm. Và giờ đây họ đã trở thành những tên tuổi nổi tiếng trong làng thơ. Hai năm làm trưởng ban biên tập báo THƠ (2003-2004), tôi luôn tìm cách giới thiệu thơ của những cây bút trẻ dù bị áp lực khá nặng nề của ban lãnh đạo. Những cái tên như Lê Vĩnh Tài, Khương Hà Bùi, Trương Quế Chi, v.v… lần đầu tiên xuất hiện đĩnh đạc trên báo của Hội Nhà Văn với ảnh chân dung và lời nhận định… Và còn nhiều nhà thơ trẻ khác nữa. Tôi không tiếc lời khen tụng những giá trị tươi non của thơ trẻ. Bởi tôi nghĩ rằng, thời trẻ của chúng tôi xuất hiện quá khó khăn trước quá nhiều những cây đa cây đề, và đến thời không nên để cho thế hệ trẻ có mặc cảm ấy nữa, mặc cảm “ngày xưa ai cấm duyên bà/ Bây giờ bà già bà cấm duyên tôi…”, mà cần làm cho họ và cả xã hội  thấy phải mở ra dân chủ thực sự trong văn chương. Công kênh trẻ là hành động của người lớn. Cưỡi lưng trẻ là hành động của trẻ con. Tuy nhiên, các nhà thơ trẻ muốn trưởng thành, cũng phải tự ý thức mình là ai. Hơn nữa, người thưởng thức thơ cũng phải tự nâng cao mình để cảm thụ thơ hiện đại.
Còn bây giờ, để không khí thơ hơn, tôi xin mời quý vị nghe chị Kim Khuê ngâm hai bài thơ lục bát của tôi mà chị đã lựa chọn.
(Kim Khuê ngâm bài thơ Cỏ may trên sân thượng, và bài Mẹ tôi. MC Bùi Hùng ngẫu hứng trình bày thêm bài thơ Chia mà anh đã thuộc từ lâu).
MC: Chúng tôi vừa nhận được một số câu hỏi của khán giả hỏi ntns NTT. Đây là câu hỏi của anh Thịnh,  một người yêu thơ Nguyễn Trọng Tạo, đang bán hàng ở Trung tâm Tàu: “ – Thưa ntns NTT, tôi nhớ cuối năm 1981, hồi tôi còn là sinh viên Tổng hợp văn Hà Nội, sinh viên chúng tôi đã rất thích bài thơ Tản mạn thời tôi sống, và đã chuyền tay nhau chép vào sổ tay bài thơ ấy. Bây giờ tôi vẫn còn nhớ mấy câu: Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi/ Câu trả lời thật không dễ dàng chi! Nghe nói bài thơ đầy ấn tượng đó đã gây nên một sự cố lớn đối với tác giả bài thơ. Người ta đã đối xử với tác giả lúc đó như thế nào? Và bây giờ nhà thơ có thể đọc lại bài thơ đó được không?   
NGUYỄN TRỌNG TẠO: Đúng là vào một đêm hè tại Vân Hồ (Hà Nội), tôi đã viết xong bài thơ Tản mạn thời tôi sống vào lúc 1 giờ sáng. Viết xong, đọc lại thấy mình bị ớn lạnh. Tôi gọi nhà thơ Nguyễn Hoa ở cùng phòng dậy pha trà và đọc cho anh ta nghe để xem bạn nói gì. Nguyễn Hoa nghe xong, im lặng đến nổi da gà. Một lát sau mới nhận xét là bài thơ gây chấn động mạnh cho anh, một bài thơ mà anh chưa từng thấy trong thơ hiện tại, nhưng anh sợ khó được đăng lên báo. Một tuần sau, trong cuộc họp các nhà văn quân đội tại Vân Hồ do nhà văn Nguyễn Trọng Oánh tổng biên tập tạp chí Văn Nghệ Quân Đội chủ trì, tôi đã đọc bài thơ này, và ông Oánh cũng khẳng định là không thể in trên tạp chí của ông. Mấy tháng sau, trong một cuộc gặp gỡ 3 nhà báo nước ngoài (Việt kiều) tại báo Văn Nghệ, tôi đã đọc bài thơ này thay cho câu trả lời mà họ đặt ra: Các nhà văn Việt Nam có né tránh sự thật hay không? Bài thơ đã được mọi người vỗ tay tán thưởng nhiệt liệt, và nhà văn Nguyễn Tuân đã tự tay rót cho tôi một chén rượu. Ba nhà báo nước ngoài xin tôi bài thơ để đăng báo. Tôi tặng họ, nhưng cẩn thận đề nghị họ để báo trong nước in trước. Quả thực sau đó một tuần, bài thơ được in trang trọng trên báo Văn Nghệ số 38 ra ngày 19.9.1981. Nhà thơ Hoàng Minh Châu trực Ban biên tập lúc đó hào hứng nói với tôi là bài thơ rất được bạn đọc thích, báo vừa ra đã bán hết, nhiều người đến toà soạn hỏi mua báo nhưng không còn báo để bán. Quả là đúng như vậy, bài thơ được truyền đi nhanh chóng vào cả các trường đại học, nhiều người chép tay lưu giữ, học thuộc dù nó khá dài – gần 80 câu. Bỗng tôi rất bất ngờ khi ghé toà soạn báo Quân Đội Nhân Dân thấy bài thơ của tôi trên tờ báo Văn Nghệ đó bị gạch mực đỏ nhiều câu với những dấu chấm hỏi, chấm than bên cạnh. Vậy là bài thơ “có vấn đề”. Tôi ghé tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, nhà văn Nguyễn Trọng Oánh lạnh lùng trách tôi: “Đã bảo đừng in, ông lại cứ in; bây giờ biết làm sao?”. Tôi ngơ ngác trở về Vân Hồ. Nhà thơ Hữu Thỉnh lúc đó là Lớp trưởng kiêm Bí thư chi bộ lớp nhà văn chúng tôi ở trường Viết Văn Nguyễn Du nói với tôi là bài Tản mạn thời tôi sống “có vấn đề nghiêm trọng”. Tôi cãi lại. Hữu Thỉnh khẳng định: “Ông viết: Như con chiên sùng đạo chợt bàng hoàng/ Nhận ra Chúa chỉ ghép bằng đất đá, là ông đã phủ nhận thần tượng, phủ nhận Đảng, còn nói gì nữa”. Và trong một cuộc họp nội bộ, người ta đã chỉ trích bài thơ tôi để qui tội chống chế độ, đến nỗi người trung thực như Nguyễn Hoa bạn tôi không thể chịu nổi, đã phát biểu trong cuộc họp: “Nếu đồng chí Tạo có tội phải vào tù, tôi là bạn, tôi sẽ đưa cơm đến nhà tù cho đồng chí ấy. Nhưng đồng chí Tạo không có tội. Đồng chí ấy chỉ nói lên một sự thật đau đớn mà thôi”. Trong khi đó, báo Văn Nghệ bỗng đăng một bài nhìn lại thơ trên báo nhà, và tự phê là đã cho đăng bài thơ của tôi, “một tác giả đang được bạn đọc yêu thích mà lại có biểu hiện lệch lạc, non tay”. Cách tự phê bình như vậy trái với thái độ hào hứng ban đầu, như là để chuẩn bị chạy tội với sự phê bình của trên sắp tới. Tôi nghe nhiều thông tin là sẽ “đánh” bài thơ Tản mạn thời tôi sống. Để tự vệ, tôi ngồi viết vào sổ tay “Bức thư gửi Bộ chính trị và ông Lê Đức Thọ” dài 10 trang, chứng minh tôi là một nhà thơ Quân đội yêu nước và chỉ nói lên sự thật dù là sự thật đau đớn, nhưng cả dân tộc phải vượt qua như một qui luật tất yếu. Nhưng bức thư đã không phải gửi đi. Nghe đồn là Liên Xô đã dịch và in bài thơ Tản mạn thời tôi sống, nên trong nước đã dừng lại việc định “đánh” bài thơ này. Chả là hồi đó, hai nước vừa ký hiệp định Việt – Xô, và tất nhiên, Liên Xô là anh cả trong phe XHCN. Em phải nghe anh. Nhưng rồi Quân đội vẫn không để tôi yên ở Hà Nội. Có ý kiến cho rằng, nếu để Nguyễn Trọng Tạo ở Tổng Cục Chính Trị, nhỡ nó lại làm một bài Tản mạn nữa thì sao? Thế là tôi “được” điều động đi nhận nhiệm vụ mới: Trở lại Cục Chính trị Quân khu Bốn.
5 năm sau, đến thời kỳ “Đổi mới”, bài thơ của tôi được in lại, được phát trên Đài, và năm 1987 chính báo Văn Nghệ đã đăng bài của Phạm Quang Long nhận định rằng: “Dòng văn học Đổi mới đã được khơi nguồn từ nhiều năm trước Đổi mới, với bài thơ Tản mạn thời tôi sống của Nguyễn Trọng Tạo”. Có thể nói, bài thơ đó là một sự kiện “nguy hiểm suýt chết người” đối với tôi. Và quả thật, tôi đã phải xa Hà Nội trọn 15 năm mới quay lại được. Thời gian ấy bằng thời gian lưu lạc của Thuý Kiều trong kiệt tác của Nguyễn Du. Bây giờ nhắc lại chuyện này, tôi vẫn còn thấy ớn lạnh. Nhưng đọc lại bài thơ, tôi càng thấy tin ở sự anh minh của công chúng, và tin ở mình hơn: “Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa/ Như thời đã đi qua, như thời rồi sẽ đến…”. (ntns NTT đọc bài Tản mạn thời tôi sống).
MC: Quả đúng là một bài thơ giám nhìn thẳng vào sự thật, làm chấn động tâm hồn của nhiều độc giả trước cả thời kỳ đổi mới đến 5 năm. Bây giờ sau 25 năm nghe tác giả đọc lại, chúng ta thấy bài thơ vẫn còn nóng hổi tính thời sự của ngày hôm nay. Theo tôi biết thì anh Tạo vẫn tiếp tục dòng chảy đó trong bài thơ rất hay là bài Đồng dao cho người lớn. Tôi còn nhớ một câu thơ của anh trong bài thơ này, đó là câu: Có câu trả lời biến thành câu hỏi. Anh có thể đọc bài thơ này tại đây được không ạ? 
NGUYỄN TRỌNG TẠO: Vâng, bài Đồng dao cho người lớn và một loạt bài thơ khác của tôi vẫn tiếp tục dòng chảy Tản mạn thời tôi sống mà người ta vẫn thường gọi là “trữ tình công dân”. Thực ra thì sau chiến tranh (1975), tôi chủ trương “Thơ đời thường”, nghĩa là tôi muốn thơ len lỏi vào mọi ngóc ngách đời sống thường nhật lam lũ của con người, thơ đứng về phía những con người bất hạnh, những vẻ đẹp bị trù dập. Tôi có cả một tập thơ nói về quan điểm nghệ thuật này có tựa đề là Thư trên máy chữ và Tản mạn thời tôi sống (viết xong năm 1983, xuất bản năm 1995). Từ đó, thơ tôi phát hiện ra những nghịch lý mà bây giờ người ta vẫn gọi là “nghịch lý Việt Nam”. Sau Đồng dao cho người lớn là một loạt bài thơ viết về những nghịch lý xã hội như Tin thì tin không tin thì thôi, Mộng du, Bóng, Độc thoại, Tái diễn, Thế giới không còn trăng, v.v… Qua dòng thơ này, tôi muốn cảnh báo và đánh thức lương tri trước cái xấu, cái ác đang hoành hành xã hội. (NTT đọc bài Thơ Đồng dao cho người lớn, và giới thiệu Bùi Hùng đọc bài Thế giới không còn trăng).
MỘT KHÁN GIẢ: Chú Tạo ơi, cháu rất thích thơ tình của chú. Đọc tập thơ tình của chú xuất bản ở trong nước, cháu chép lại rất nhiều bài. Cháu thấy thơ tình của chú rất hợp với cháu, vì nó thường rất buồn. Chắc nhà thơ phải thất tình mới làm được thơ hay, phải không ạ? Chú có thể kể ra một vài bí mật tình yêu và đọc cho cháu nghe mấy bài thơ thất tình được không?
NGUYỄN TRỌNG TẠO: Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường có một quan niệm rất độc đáo: “Nỗi buồn là căn nhà ở đời của Thơ”. Tôi rất thích quan niệm của anh Tường. Nhưng với tôi, nỗi buồn cũng là lửa. “Buồn đừng đi! Buồn đừng tan!/ Mất Buồn còn lại tro tàn mà thôi!”. Nếu con người mất hết khả năng buồn, có nghĩa là con người sẽ trở nên độc ác hơn cả thú dữ. Chính vì thế mà trong thơ tôi ngay cả khi viết về niềm vui cũng ẩn chứa một nỗi buồn truyền kiếp. Riêng về đề tài tình yêu thì nỗi buồn càng đậm đặc. Xuân Diệu từng bộc lộ: Yêu thì nhiều mà nhận chẳng bao nhiêu. Tình yêu không phải lúc nào cũng song phương mà phần lớn là đơn phương. Nhất là khi đang song phương bỗng quay ngoắt thành đơn phương, thì nỗi buồn cứ phải gọi là đen tối. Nhiều người tự tử vì tuyệt vọng trong tình yêu. Nhưng nếu anh đã làm được thơ về nỗi buồn tuyệt vọng, thì có nghĩa là anh đã giải toả được nỗi buồn ấy. Người ta quan niệm “làm thơ là tự giải thoát” cũng có lý của nó. Nếu đọc thơ của tôi mà bạn cảm thấy buồn thì nỗi buồn của tôi đã được chia sẻ. Chia vui là một phép nhân, còn chia buồn mới đúng nghĩa là một phép chia. “Chia cho em một đời tôi/ Một cay đắng/ một niềm vui/ một buồn…” là với ý nghĩa của phép chia ấy.
Tôi có trên 100 bài thơ tình, và nhiều bài được bạn trẻ chép vào sổ tay hoặc thuộc lòng. Trên 100 bài thơ ấy có phải để dành cho trên 100 đối tượng tình yêu hay không thì chính tôi cũng không giải thích được. Nhà thơ Neruda viết 100 bài thơ tình chỉ để dành tặng riêng cho một người phụ nữ ông yêu. Còn tôi thì không phải như vậy. Có bài thơ sinh ra chỉ vì một đối tượng tình yêu duy nhất, nhưng cũng có khi đối tượng chỉ là cái cớ của bài thơ tình tôi viết, bởi nó khơi dậy toàn bộ ký ức tình yêu của tôi. Có một bài thơ tình rất nhiều thế hệ sinh viên thuộc, đó là bài Không đề, mở đầu bằng câu “Anh trót để tình yêu tuột mất…” lại là bài thơ tôi viết tặng cho mối tình đầu của một anh bạn nhà thơ có thời sống ở Qui Nhơn. Đó là nhà thơ Ngô Thế Oanh. Sau cuộc chia tay với mối tình đầu, Oanh chỉ còn yêu những cô gái có đôi mắt giống đôi mắt của người yêu đầu tiên. Điều đó ám ảnh tôi rất ghê. Cái đôi mắt đó cũng đẹp như đôi mắt người yêu đầu tiên của tôi, nó luôn ám ảnh tôi.  Và nó ám ảnh vào đoạn kết bài thơ: “Anh trót để ngôi sao bay khỏi cát/ Biếc xanh em mãi chớp sáng vòm trời/ Điều CÓ THỂ đã hóa thành KHÔNG THỂ/ Biển bạc đầu nông nổi tuổi hai mươi”. Nhưng cũng có bài thơ sau khi công bố, tôi nhận được điện thoại của “đối tượng thứ thiệt” nói rằng: “Có nhiều người tặng thơ cho em nhưng em nghĩ họ tặng ai cũng được; chỉ bài thơ của anh là tặng riêng em”. Khi ấy, tôi thấy mình thật hạnh phúc. Đấy là trường hợp bài thơ Nỗi nhớ không tên.
Lang thang đường phố Huế 
nhớ chiều nào xa Vinh 
trời thắp vì sao xanh 
thương nhớ về mắt biếc 
Đường xưa toàn người đẹp 
Nay đỏ trời phượng bay 
Huế dầm mưa Nguyễn Bính 
Vinh nắng hừng phương ai 
Còn chi là rượu nữa 
uống hoài mà không say 
bia biệt ly quán lạ 
ngả nghiêng bao tháng ngày 
Ngỡ sông là cánh tay 
Mát mềm như ngà ngọc 
ngỡ chiều như chiều nay 
gió thổi mùa xanh tóc 
Có một chàng Đơn Độc 
bước trên đường Không Tên 
có một nàng Hạnh Phúc 
ở số nhà Lãng Quên…
Nói về thơ thất tình thì thiên hạ nhiều vô kể. Thất tình cũng sinh ra nhiều thơ hay (và cả thơ dở nữa). Tôi cũng có thơ thất tình, nhưng là viết sau khi đã “biển lặng sóng yên” rồi. Ví dụ như bài thơ Tình rơi chẳng hạn, nỗi buồn đã lắng lại: “Em giờ sợ cả hình anh/ Lệ rơi ngày trước đã thành cơn mưa/ Si mê cũng thể trò đùa/ Muốn tu lại sợ gặp chùa vắng sư…”. Tôi xin gửi tặng các bạn bài thơ thất tình này qua giọng ngâm thơ rất tâm trạng của chị Kim Khuê. (Kim Khuê ngâm bài thơ Tình rơi). 
MC: Thưa ntns NTT, có ba câu hỏi cùng quan tâm đến những chuyến đi nước ngoài của anh. Bạn NTMH ở quầy hàng nữ trang chợ Sân Vận Động hỏi:  Chú đến Ba Lan mấy lần rồi, và chú đã làm được bài thơ, bài hát nào về Ba Lan chưa? -Một bạn không ghi tên, đang học ở trường Pháp hỏi: Chú Tạo ơi, chú đi nhiều nước chưa? Nước nào khiến chú nhiều cảm xúc thơ ca nhất? Chú đọc 1 bài thơ làm ở nước ngoài được không? -Một bạn khác hỏi: Khi đến với Ba Lan, ntns NTT nghĩ gì về đời sống cộng đồng người Việt ở Ba Lan? 
NGUYỄN TRỌNG TẠO: Tôi đi nước ngoài không nhiều. Hồi chiến tranh tôi có thời gian đi Lào với những người lính tình nguyện, viết được cả nhạc lẫn thơ. Tôi còn nhớ mấy câu thơ trong bài Câu chuyện tình yêu nghe gió trời kể lại: “Chăm Pa ơi, thôi em đừng nhắc lại/ Những năm nằm ngủ mơ thấy anh/ Tỉnh dậy lại thấy toàn người khác”. Tôi cũng đã cùng những người lính vào Ăngko Thom, Ăngko Vát, và may mắn hơn nhiều người là được chiêm ngưỡng Ăngko từ trên máy bay trực thăng lượn đúng 5 vòng trên ngôi tháp 5 ngọn. Chính vì thế mà tôi đã làm thơ về Ăngko: “tôi đi từ Địa ngục tới Thiên đường/ từ Xác đá tới Linh hồn của đá/  ôi Ăng-ko! thăng trầm bao thế kỷ/ đỉnh máu xương hóa đá dựng lâu đài”. Tôi cũng đã “đáo Trường Thành”, lên tháp Eiffen, tháp truyền hình Berlin, ghé phố đỏ Hà Lan, xem tượng thằng Cu Đái ở Brucxen, và đặc biệt là Ba Lan với hai chuyến đi khá dài ngày. Người Việt ở Ba Lan không nhiều mà tôi có cảm giác là nhiều vô kể. Đấy chính là tình người, tình quê vô cùng sâu đậm và ấm áp. Chúng tôi đã có đêm giao lưu văn nghệ với cộng đồng người Việt tai nhà hàng Quê Hương của anh Nguyễn Khắc Sinh gần như trắng đêm. Tôi cũng đã gặp nhiều người Việt trên chợ Sân Vận Động và các trung tâm thương mại của Ta, của Tàu, của Thổ, hay ở Nhà Văn hoá Thăng Long, v. v… và đã đến thăm nhà nhiều người bạn. Dù là dân “soái” hay dân “bộ đội” họ đều thương nhớ quê nhà, và chia sẻ với câu hát của tôi: “Ơi con sông quê, con sông quê/ Sông còn nhớ chăng nơi ta ngồi ngóng mẹ/ Vời vợi tuổi thơ một xu bánh đa vừng”. Người Việt đã góp phần làm cho thị trường thương mại Ba Lan thêm sôi động, nhưng cũng làm cho văn hoá Ba Lan thêm phong phú. Tôi rất tự hào về hai chị em gái Thanh Thảo và Thu Quỳnh (cháu ngoại của nhạc sĩ lớn Văn Cao), hai cháu đã nhiều lần đoạt giải Chopin tuổi nhỏ. Tôi tự hào về nhà thơ Lâm Quang Mỹ bạn tôi được trao giải thưởng về những cống hiến trong lĩnh vực văn học của UNESCO cùng với các nhà thơ Ba Lan và nhiều nước khác. Hôm qua tôi có hân hạnh được dự lễ trao giải thưởng đó, và anh Lâm Quang Mỹ là người gây được ấn tượng mạnh nhất khi anh tự hát những bài thơ của mình bằnh tiếng Việt Nam. Tôi cũng tự hào về anh Bùi Anh Thái, người đã có sáng kiến và có công lớn trong việc xây dựng Nhà Văn hoá Thăng Long, và đặc biệt là xây dựng lên ngôi chùa Một Cột, một biểu tượng văn hoá của Việt Nam trên đất bạn. Trong chuyến trước, tôi đã viết được một số bài về Ba Lan, và sau chuyến này chắc tôi còn viết nữa. Còn bây giờ, tôi xin đọc tặng các bạn bài thơ Tượng thằng Cu Đái, một bài thơ mà tôi cho là rất ấn tượng trong những chuyến đi nước ngoài của tôi.
Đến Bỉ thăm thằng Cu Đái 
nhỏ con mà nghịch quá trời 
nó đứng trên cao cười tít 
đái qua đầu bạn đầu tôi 
hoa hậu ngước nhìn vẫy vẫy 
chính khách khoanh tay mỉm cười 
người già thấy mình trẻ lại 
trẻ con gọi “Bạn Đái ơi !”… 
Cu Đái cứ cười không nói 
vòi nước cứ tuôn không ngừng 
những bàn tay tranh nhau hứng 
nuớc trời nuớc thánh rưng rưng 
ở đâu con người thiếu nước 
đến đây cầu ước phúc lành 
ở đâu con người bất hạnh 
đến đây cầu lộc cầu vinh… 
Mỗi năm một ngày cu Đái 
đái toàn bia Bỉ đắt tiền 
mùi bia làm say thế giới 
sâu bia sâu rượu ngả nghiêng 
cu Đái đứng cười ngặt nghẽo 
cu Đái đứng cười triền miên 
chụp ảnh với thằng cu Đái 
thật vui, không phải trả tiền. 
Chia tay với thằng cu Đái 
dạo quanh phố cổ một vòng 
thấy trong cửa hàng cửa hiệu 
ắp đầy cu Đái bằng đồng 
cu Đái to cu Đái nhỏ 
nghìn năm chẳng chịu mặc quần 
cu Đái đã thành biểu tượng 
vĩnh hằng sự sống trần gian… 
MC: Vâng, đúng là một bài thơ giàu chất humorous vô cùng ấn tượng và độc đáo theo kiểu Nguyễn Trọng Tạo. Nhưng anh Nguyễn Trọng Tạo còn có một bài thơ rất giàu tình cảm viết tặng nhà thơ Lâm Quang Mỹ và bạn bè ở Ba Lan sau chuyến đi trước đây, đó là bài Một người già thông báo mùa xuân. Nhà thơ Lâm Quang Mỹ có thể trình bày bài thơ này được không ạ? 
NHÀ THƠ LÂM QUANG MỸ: Tôi hơn anh Nguyễn Trọng Tạo mấy tuổi, nhưng về thơ thì anh là bậc thầy của tôi. Tôi nói thật lòng như vậy, vì trước đây khi chưa quen anh, tôi đã tìm mua được mấy tập thơ của anh. Tôi cũng đã cùng những nhà thơ Ba Lan dịch thơ anh sang tiếng của bạn, và họ rất thích thơ anh Tạo. Tết vừa qua tôi về bên nhà, anh Tạo nói là anh rất nhớ bạn bè ở Ba Lan, và anh đưa tặng tôi bài thơ mới làm xong. Tôi đọc bài thơ, và lặng người vì cảm động. Tôi nhớ ngay những câu: “Tuyết vẫn rơi và tuyết tan ra trên chồi non vừa nhú/ Gió nguyện làm chổi quét lá vàng xưa/ Gió không quét nổi thời gian chết/ Ta mấy tuổi rồi em nhớ chưa… Đừng thông báo vé tàu xe đã hết/ Cho tôi về kịp Tết với trẻ thơ/ Cho tôi về úp mặt vào dâu bể/ Úp mặt vào Tin Yêu không trở lại bao giờ”. Tôi thấy tôi có thể hát lên bài thơ của anh được. Và bây giờ tôi xin được hát tặng anh Tạo và quí vị. (Nhà thơ LQM hát bài thơ theo ngẫu hứng).
ÔNG BÙI ANH THÁI: Nghe anh Lâm Quang Mỹ hát thơ, máu nghe hát của tôi nóng lên. Tôi rất muốn nghe anh Tạo hát những ca khúc của anh. Nhưng trước khi nghe hát, tôi xin hỏi anh Tạo mấy câu: Anh không phải người Quan họ mà sao anh viết bài hát Làng Quan Họ quê tôi hay thế? Hay là anh có một mối tình nào đó với người Quan họ? Nếu có thì “người ấy” của anh bây giờ đang ở đâu? 
NGUYỄN TRỌNG TẠO: Thú thực là tôi đã viết bài hát đó khi tôi chưa hề đặt chân đến đất Quan họ Bắc Ninh lần nào, và cũng chưa có một “mảnh tình” nào cả. Ấy là vào năm 1978 ở Hà Nội, nhà thơ Nguyễn Phan Hách (quê Hà Bắc cũ) đưa cho tôi một bài thơ và nhờ tôi phổ nhạc. Bài thơ làm cho tôi nhớ tới những điệu hát Quan họ mà tôi rất thích. Nhưng điều quan trọng là bài thơ ấy cũng làm cho tôi nhớ tới làng quê của tôi bên dòng sông Bùng xứ Nghệ. Làng tôi cũng có những làn điệu dân ca trữ tình, những đêm trăng trai gái hát dặm vè đối đáp thật yêu đời. Và làng tôi cũng bị “bom Mỹ dội” như bao làng quê thân yêu khác. Nhưng làng quê và người quê vẫn vươn lên tồn tại và vui sống, chẳng đạn bom nào xoá nổi. Và tôi đã viết bài hát đó bằng cả tình yêu làng quê của tôi, có thể nói rộng ra là tình yêu làng quê Việt Nam. Chỉ có khác một chút, là tôi đã lấy chất liệu dân ca Quan họ để viết nên bài hát đó mà thôi. Vì thế giai điệu bài hát rất mượt mà bóng bẩy, dễ đi vào lòng người. Bài hát vừa ra đời một tuần đã được Đài Tiếng nói Việt Nam phát trên chương trình ca nhạc theo yêu cầu thính giả, và được dạy hát trên Đài. Bây giờ ở Ba Lan vẫn có nhiều người thuộc bài hát này. Hôm qua tôi đã nghe anh Thanh Tùng hát rất hay Làng Quan Họ quê tôi. Tôi xin giới thiệu giọng hát trẻ Thanh Tùng hát tặng các bạn bài hát này. (Thanh Tùng hát, Nguyễn Văn Toàn đệm đàn Acoocdeon). 
MC: Anh Thanh Tùng có giọng hát rất đẹp, rất truyền cảm. Nhưng khán giả cũng lại rất thích nghe nhạc sĩ hát. Nhạc sĩ tự hát bài của mình, chắc chắn sẽ khác với ca sĩ hát. Anh có thể cho bà con nghe giọng hát của anh được không ạ? 
NGUYỄN TRỌNG TẠO: Nhạc sĩ hát thì chắc là không sai nhạc. Nhưng tôi muốn hát một bài hát khác, đấy là bài Đôi mắt đò ngang. (hát).
MC: “Chìm trong đôi mắt ấy, đò đầy anh cứ sang…”. Câu kết của Đôi mắt đò ngang quả là “lấy liều mạng làm căn bản” như anh vẫn hay đùa. Nó làm cho người nghe cũng chòng chành rạo rực theo tiếng hát của nhạc sĩ. Anh có thể cho biết, “đôi mắt” nào đã làm cho tâm hồn nhạc sĩ chòng chành đến phải sáng tác ra bản nhạc rất hay mà nhạc sĩ vừa hát? 
NGUYỄN TRỌNG TẠO: Có rất nhiều đôi mắt phái đẹp đi qua cuộc đời tôi, nhưng phải đến những đôi mắt của các cô gái Nam Đàn trên đò sông Lam hôm ấy mới giúp tôi viết ra bài hát này. Hôm ấy huyện Nam Đàn mời 10 nhạc sĩ đến sáng tác bài hát về Bác Hồ (Bác Hồ quê ở Nam Đàn), và đoàn nhạc sĩ đã đi đò dọc trên sông Lam nghe các cô gái hát dân ca của quê hương họ. Mắt cô nào cũng đen lay láy như hạt nhãn lồng Hưng Yên, rất ấn tượng, đến nỗi khi lên đê, tôi nhìn xuống sông Lam thấy những con đò lại cứ tưởng là những con mắt. Con đò và con mắt hôm ấy cứ ám ảnh tôi mãi. Và tôi chợt nhớ câu ca dao mẹ ru con thuở nào: “Con ơi mẹ dặn câu này/ Sông sâu chớ lội đò đầy chớ sang”. Mẹ yêu con quá và mẹ cẩn thận quá. Tôi lại cũng nhớ một câu ca dao khác nói về tình yêu: “Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo/ Ngũ lục sông cũng lội, thất bát cửu thập đèo cũng qua”. Thế là thay vì viết một bài hát ngợi ca Bác Hồ, tôi đã viết một bài tình ca ca ngợi tình yêu đôi lứa. Không ngờ cái bài tình ca này lại sống lâu, nó hiện diện trong cả các đám cưới thời hiện đại. Có người còn đổi cả tên bài Đôi mắt đò ngang thành ra Đò đầy cứ sang!
MC: Vâng, đúng là mỗi bài hát ra đời đều có cơ duyên của nó. Thưa ntns NTT, tôi đã được nghe 14 ca khúc của anh qua CD có tên là Tình khúc Bốn Mùa. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy trong CD đó có quá nửa số ca khúc được anh phổ nhạc từ thơ của người khác. Tại sao anh không phổ nhạc thơ của mình, mà lại đi phổ nhạc thơ của người khác? Anh có thể nói cho khán giả rõ về điều đó được không? 
NGUYỄN TRỌNG TẠO: Có những nhạc sĩ tự làm lấy ca từ rất hay, nhưng họ vẫn có những ca khúc phổ thơ của người khác. Nhạc sĩ Phú Quang giải thích là làm như thế đỡ tốn công làm lời ca, để dành cả thời gian sức lực cho sáng tạo âm nhạc. Tôi là nhà thơ, tôi biết rất rõ rằng, khi làm thơ là khi nhà thơ đã dồn hết tâm huyết của mình vào thơ rồi, thật khó có một cảm xúc khác để thổi hồn vào nó nữa. Coi như cảm xúc sáng tạo của anh đã hoàn chỉnh rồi. Chính vì thế mà khi đọc thơ của người khác tôi rất chú ý đến rung cảm âm nhạc. Mỗi khi thấy rung cảm âm nhạc đến khi đọc thơ là tôi không bỏ qua, tôi cố duy trì nó, nuôi nấng nó cho đến khi nó trở thành sáng tạo âm nhạc, nghĩa là biến bài thơ trở thành tác phẩm âm nhạc của mình. Thú thực tôi không phải là người cố tình làm nhạc sĩ, tôi chỉ sáng tác nhạc theo cảm hứng, như lúc đầu tôi đã nói “thích thì làm”, thế thôi. Tất nhiên khi sáng tác phải biết hướng tới cái mới, cái lạ, cái truyền cảm nhất. Phổ nhạc cho thơ phải biết chủ động về âm nhạc, nếu không anh sẽ bị thơ dắt đi, và lúc đó nhạc sĩ chỉ còn là một “người hát thơ” mà thôi. Phổ thơ có nhiều cách: Phổ trọn vẹn bài thơ; phổ một số đoạn thơ; phổ theo ý thơ; thậm chí lấy cảm xúc từ bài thơ để làm thành ca khúc như trường hợp ca khúc Sao em vội lấy chồng của Trần Tiến lấy cảm xúc từ bài thơ Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm. Tôi có lợi thế khi phổ thơ vì tôi là một nhà thơ nên có thể chủ động điều khiển được phần lời khi cần phải sửa chữa cho hợp với sự phát triển của nhạc. Và khi không phổ thơ của người khác, nghĩa là tôi tự làm lấy lời ca, thì ca từ trong ca khúc của tôi chính là những bài thơ song sinh cùng âm nhạc.
MC: Tôi xin nói thêm, thơ của Nguyễn Trọng Tạo cũng đã có nhiều bài được phổ nhạc. Riêng bài thơ Chia đã có đến 5 nhạc sĩ phổ thành ca khúc mà ca khúc phổ biến nhất là của Phú Quang với một tựa đề khác là Một dại khờ một tôi. Thưa ntns NTT, trong những bài hát của anh phổ thơ của bạn bè, tôi rất thích bài Con dế buồn anh phổ thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường. Anh có kỷ niệm gì khi phổ nhạc bài thơ này không ạ? 
NGUYỄN TRỌNG TẠO: Hồi tôi còn ở Huế, anh Tường làm xong bài thơ Con dế buồn liền mang đến nhà tôi đọc cho tôi nghe. Anh Tường nói rằng làm xong bài thơ thấy nó cứ vang lên âm nhạc, nhưng không biết viết nhạc, nên đem cho Tạo đọc xem có phổ nhạc được không. Tôi rất thích bài thơ này vì nó giàu tính ẩn dụ, thân phận con dế cũng là thân phận con người hoài niệm trong đời sống hiện đại. Con dế bò ngược dòng suối tìm về quê hương của văn minh xưa, chỉ còn thấy những dấu chân của nó “trên dấu đá rêu mờ/ của những con suối Hy Lạp đã khô”. Đấy là “con dế buồn sầu của linh hồn ta”. Bỗng một giai điệu thánh ca vang lên trong đầu tôi, tôi bảo anh Tường về để tôi phổ nhạc. Một giờ sau, tôi đến nhà anh Tường và hát cho anh ấy nghe. Nghe xong, anh Tường nói đùa: “Tường có cặp mắt xanh đấy chớ!”. (Bùi Hùng hát bài Con dế buồn).
MC: Có nhiều câu hỏi của khán giả hỏi ntns NTT về bài hát rất nổi tiếng gần đây của anh. Đó là bài hát Khúc hát sông quê phổ thơ Lê Huy Mậu. Vâng, đây là câu hỏi của bạn Trần Nguyễn Phan Cao (cười). Một cái tên mà mang đến 4 họ. “Mấy lần tôi về nước, đều được nghe bài hát Khúc hát sông quê của anh. Khi thì nghe trong đám cưới, khi thì nghe trong nhà hàng. Lần nào nghe bài hát này tôi cũng đều xúc động đến ứa nước mắt. Bài hát làm cho tôi thương mẹ tôi và thương quê tôi lắm. Cảm ơn ntns đã nói giùm tình cảm của tôi với mẹ và quê. Anh có thể nói một chút về bài hát đó được không?”. 
NGUYỄN TRỌNG TẠO: Bài Khúc hát sông quê mới ra đời hơn 3 năm nhưng đã có một đời sống riêng trong lòng công chúng. Tôi không bất ngờ về điều đó vì ngay khi tôi vừa viết xong, tác giả lời ca là nhà thơ Lê Huy Mậu đã bàng hoàng xúc động tuyên bố là bài hát này sẽ “làm cho Lê Huy Mậu nổi tiếng!”. Quả đúng như vậy, sau khi Đài Truyền hình Việt Nam đưa lên chương trình Tác Phẩm Mới với giọng hát Anh Thơ, thì cả thành phố Vũng Tàu nơi anh Mậu ở đã có đĩa VCD bài hát này. Hầu như ngày nào tôi cũng được nghe Khúc hát sông quê qua điện thoại di động, khi thì ca sĩ hát, khi thì trí thức hát, khi thì lãnh đạo hát… Ai cũng có một làng quê, một dòng sông, một người mẹ tần tảo nuôi con khôn lớn. Giờ thì đời sống đã đầy đủ, con cái đã sung sướng thì mẹ không còn nữa. Tình thương mẹ của những đứa con như nghẹn lại và dồn chảy vào âm nhạc, lời ca, như dòng sông quê mãi mãi tuôn chảy tới vô cùng biển cả. Đây là một bài thơ thương quê thương mẹ của anh Lê Huy Mậu, nhưng cũng là bài hát thương quê thương mẹ của tôi, của các anh các chị, của tất cả chúng ta. Bài hát không chỉ phổ biến trong nước, mà nhiều người từ nước ngoài về cũng cố tìm cho được CD để mang đi. Vì thế mà Khúc hát sông quê đã có mặt trong các CD, VCD của hơn chục ca sĩ trong nước như Anh Thơ, Thu Hiền, Phương Thảo, Tố Uyên, Minh Phương, Hồng Năm, Thanh Loan, v.v… Tôi rất xúc động khi được biết anh Đức Hạnh và anh Nguyễn Chương Thiếp từ chợ Sân Vận Động đến dự đêm giao lưu và xin được hát tặng bà con cộng đồng bài Khúc hát sông quê. Để kết thúc cuộc trò chuyện thân thương này, và cũng là để thay lời cảm ơn các bạn, tôi xin mời hai anh cùng hát với tôi bài Khúc hát sông quê.
(Bài Khúc hát sông quê).
Nguyễn Trọng Tạo và người yêu thơ
Nguyễn Trọng Tạo và bạn yêu thơ
ÔNG BÙI ANH THÁI (Giám đốc Nhà Văn hoá Thăng Long, Trưởng ban tổ chức): Ngót 3 tiếng đồng hồ, bà con cộng đồng chúng ta đã sống trong một không gian đầy ắp nghệ thuật của tình người do Nhà thơ – Nhạc sĩ đầy tài hoa và tâm huyết từ nước nhà mang tới. Anh thực sự là một nhà thơ tài năng và dũng cảm, một nhạc sĩ thấm đẫm tâm hồn Việt, một nghệ sĩ đa tài cầm kỳ thi hoạ, một người bạn chân thành của tất cả chúng ta. Thay mặt Nhà Văn hoá Thăng Long và cộng đồng người Việt, tôi xin chân thành cảm ơn Nhà thơ – Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo, cảm ơn các quý khách và bà con cộng đồng; xin chúc Nhà thơ – Nhạc sĩ có thêm nhiều cống hiến cho nghệ thuật nước nhà.
Ba Lan, 4.2006
Nguồn: Văn hoá Thăng Long Online

14 thg 11, 2013

Ba thi hào họ Nguyễn cùng chung một dòng máu: Nguyễn Trãi - Nguyễn Du - Nguyễn Đình Chiểu !


Thái Doãn Hiểu 
Mộ Nguyễn Bặc tại xã Gia Phương, Gia Viễn, Ninh Bình
Năm 1991, sau khi công bố phát hiện Vương Bột tử nạn nơi nào !? ở báo Văn Nghệ, nhà thơ Hữu Thỉnh lúc đó là Tổng biên tập của báo đến nhà chúng tôi ở Sài Gòn chơi, cùng tác giả nhấm nháp thành tích phát hiện ra mộ tổ của nền thơ Đường bất hủ. Đó là sự kiện làm “sửng sốt cả thế giới”
(chữ dùng của tạp chí Liêu Vọng, cơ quan văn hóa đối ngoại của Hội nhà văn Trung Quốc). Nhà thơ Hữu Thỉnh phát giác ra là tôi có bản Ba thi hào họ Nguyễn… và cứ đòi xin nằng nặc. Tôi thưa với Hữu Thỉnh là các luận điểm của tôi còn non, chờ cho một thời gian để nó cứng cáp đã. Nay đã trên 24 năm, vấn đề này đã ổn và chín, tôi xin thông báo với nhà thơ Hữu Thỉnh là tôi công bố đây. Độc Chiêu cuối cùng trong 5 phát hiện quan trọng của tôi đối với văn học Việt Nam và thế giới, mà chúng tôi đang dự định in thành sách:
Nguyễn Trãi 1380-1442
1. Phát hiện nơi tử nạn của Thi hào Trung Quốc Vương Bột đời Đường cách đây 1.300 năm
      trên biển Cửa Hội sông Lam, Nghệ An. Bài công bố trên báo Văn Nghệ số  - !991 của Hội Nhà văn Việt Nam.
2. Truyện Kiều là tự truyện tâm linh của Nguyễn Du.  Đăng trên Tạp chí Sông Hương số 11-2010
3. Làng Vạc - phế đô nước Âu Lạc. Đăng ở VanVN.net của Hội Nhà văn Việt Nam
4. Chu Thần Cao Bá Quát là cha đẻ của Phó vương Bắc Kỳ Hoàng Cao Khải. Đăng Tạp chí Sông Hương số 4-2013
5. Ba thi hào họ Nguyễn cùng mang một dòng máu Nguyễn Trãi - Nguyễn Du - Nguyễn Đình Chiểu. Đăng Tạp chí sông Hương số 11- 2013


Nguyễn Du 1766-1820
Để khỏi vòng vo Tam quốc mất thì giờ quý vị bạn đọc, và mọi người đỡ sốt ruột, tôi xin thưa ngay: Vị thủy tổ của ba thi hào họ Nguyễn : Nguyễn Trãi - Nguyễn Du - Nguyễn Đình Chiểu là  Thái tể triều Đinh, Định Quốc công Nguyễn Bặc.

Vậy, Nguyễn Bặc là ai ?

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Wikiphedia thì Nguyễn Bặc sinh năm 924 –15 tháng 10979 âm lịch là công thần khai quốc nhà Đinh, cùng với Đinh Điền giúp Đinh Tiên Hoàng đánh dẹp, chấm dứt loạn 12 sứ quân vào thế kỷ 10 trong lịch sử Việt Nam. Theo sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Nguyễn Bặc là người động Hoa Lư, châu Đại Hoàng, Ninh Bình. Từ thuở nhỏ, ông đã cùng kết bạn với Đinh Bộ LĩnhĐinh ĐiềnTrịnh Tú và Lưu Cơ.


Nguyễn Đình Chiểu 1882-1888
Khi Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn tử trận (965), các sứ quân nổi dậy. Anh em Nguyễn Bặc theo Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp. Theo thần phả, khi đánh dẹp một sứ quân mạnh là Nguyễn Siêu, Nguyễn Bồ và Nguyễn Phục cùng 2 tướng khác bị tử trận. Vạn Thắng Vương liền sai Nguyễn Bặc, Đinh Điền và Lê Hoàn mang quân đánh báo thù, kết quả diệt được Nguyễn Siêu (967).
Ngoài trận đánh Nguyễn Siêu, Nguyễn Bặc đóng góp nhiều công lao trong việc đánh dẹp các sứ quân, thống nhất toàn quốc dưới tay vua Đinh.
Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, tức là Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Bặc được phong làm Định quốc công, Đinh Điền được phong làm ngoại giáp. Chính sử không nói rõ nhưng các gia phả họ Nguyễn có giải thích thêm rằng: Nguyễn Bặc làm quốc công, coi việc nội giáp, tức là việc nội chính, còn Đinh Điền làm ngoại giáp coi việc bên ngoài.

·          
Theo các gia phổ họ Nguyễn và tài liệu “Lược sử họ Nguyễn tại Việt Nam”, Nguyễn Bặc được coi là bậc tiền thủy tổ họ Nguyễn ở Việt Nam. 


Sau khi vương quyền nhà Đinh mà Thái hậu Dương Vân Nga cùng quần thần chuyển giao sang tay họ Lê, Đinh Điền,  Nguyễn Bặc khởi binh đánh Lê Hoàn và cả hai vị khai quốc công thần này đều tử trận. Nguyễn Bặc có một  người con trai cả là Nguyễn Đê ở lại làm quan cho triều Lê Đại Hành. Cuối đời ông dời cư vào Gia Miêu  Thế thứ các đời họ Nguyễn ở Gia Miêu từ thế kỷ X sắp xếp như sau: Nguyễn Bặc : 1-Nguyễn Đê. 2-Nguyễn Viễn. 3- Nguyễn Phụng. 4- Nguyễn Nộn. 5- Nguyễn Thế Tứ. 6- Nguyễn Hoằng Du. 7- Nguyễn Biện. 8- Nguyễn Sử. 9-Nguyễn Công Duẩn (hay Chuẩn). 10- Nguyễn Đức Trung.


Muốn nghiên cứu nguồn gốc họ Nguyễn ở Việt Nam, chúng ta hãy tìm đến Gia Miêu ngoại trang, là cái nôi, nơi xuất phát điểm của nhiều dòng họ Nguyễn tỏa đi khắp nước.

Gia Miêu ngoại trang là một trang ấp có từ xa xưa. Trang là làng, ấp nhưng ở tiếp giáp với núi, nằm trong thung lũng nhỏ sông Tống Giang, có Long Khê chảy qua ở phía tây bắc huyện Tống sơn tức huyện Hà Trung, Thanh Hóa bây giờ, phía bắc Gia Miêu có rặnng núi Răng Cưa, nằm ở Bắc Thiên Tôn Sơn, ngọn núi thiêng của dòng họ Nguyễn. Gia Miêu là nơi tập kết an nghỉ của tổ tiên bao đời dòng họ Nguyễn sau khi tung hoành khắp bốn phương, tận trung báo quốc xây dựng và bảo vệ đất nước. Rặng núi Rặng Cưa phía bắc Thiên Tôn Sơn là biên giới tỉnh Ninh Bình và tỉnh Thanh Hóa. Phía Tây Gia Miêu cách 5 km là núi Thạch Thành nơi ngày xưa có một đồn binh gọi là Man Bảo (hay Vạn Bảo), nơi tận cùng phía đông mường Thạch Thành mà Nguyễn Biện (đời thứ7) đã xây dựng thành công 12 sơn động cuối đời Trần, làm hậu thuẫn căn cứ địa cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, trở thành rất nhiều khai quốc công thần kháng Minh thời Lê Lợi. ! Làng Mường này đến thời Pháp cai trị trở thành 37 làng Mường trực thuộc dòng lang cun Nguyễn Đình ở Quảng Tế. Vùng thung lũng này cao so với các cánh đồng trũng phía đông và nam, nên không bao giờ ngập lụt. Từ khi ngăn đập Bến Quân làm thủy lợi lấy nước suối Rồng thì vùng này phì nhiêu không thể thiếu nước

Gia Miêu là quê gốc của nhiều dòng họ Nguyễn. Từ xa xưa, nhiều người họ Nguyễn đã từ đây chuyển cư đi khắp mọi miền đất nước và thành lập những dòng họ rất lớn ở Bắc, Trung, Nam. Dòng họ ở đây là con cháu Định quốc công Nguyễn Bặc, nhưng từ đầu đời Lê đã tách ra làm ba họ Nguyễn : Họ Nguyễn Đình thờ vị tổ là Bình Ngô khai quốc công thần  Nguyễn Lý. Họ Nguyễn Hữu thờ vị tổ là bình Ngô khai quốc Công thần Nguyễn Công Duẩn. Dòng họ Nguyễn Văn thờ Thịnh Quận công Nguyễn Chữ. Vì họ to và họ xa phải tách ra làm ba họ Nguyễn để con cháu có điều kiện kết hôn với nhau. Trong làng còn có họ Mai là họ ngoại của họ Nguyễn. Từ xa xưa, đình làng Gia Miêu chỉ có thờ bốn vị tiên hiền là tổ của bốn vị tổ họ Nguyễn Hữu, Tổ họ Nguyễn Lý, Tổ họ Nguyễn Văn và Tổ họ Mai. Từ trước 1945, ở Gia Miêu  chỉ có 4 họ trên. Trong thời Nguyễn, không thể có họ nào khác lọt vào sống ở đây. (1)

Sử sách thường ghi Nguyễn Kim (1468-1545) - cha của chúa Nguyễn đầu tiên Nguyễn Hoàng – là danh tướng Việt Nam thời nhà Lê sơ và là người đặt nền móng cho sự thành lập nhà Lê trung hưng
Theo phả hệ họ Nguyễn Gia Miêu cho rằng Nguyễn Kim và Nguyễn Hoằng Dụ là anh em họ. Người sinh ra Nguyễn Kim là Nguyễn Văn Lưu, anh Nguyễn Văn Lang và bác Nguyễn Hoằng Dụ (đời thứ 6).


Sau khi tướng  Lê - Trịnh là Nguyễn Kim (2) chết do bị đầu độc bởi hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất, bộ tướng của ông lên thay là Trịnh Kiểm. Để diệt trừ hậu hoạ, Trịnh Kiểm giết Nguyễn Uông. Thấy anh trai bị hại, có ngày vạ lây, Nguyễn Hoàng nhờ chị gái là vợ Trịnh Kiểm nói khéo cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa, sinh ra chúa Nguyễn sau này.

Danh sách tổ tiên chúa Nguyễn nối đời là: Nguyễn Đức Trung  · Nguyễn Văn Lang  · Nguyễn Hoằng Dụ  · Nguyễn Kim  · Nguyễn Hoàng · Nguyễn Phúc Nguyên  · Nguyễn Phúc Lan  · Nguyễn Phúc Tần  · Nguyễn Phúc Thái  ·Nguyễn Phúc Chu  · Nguyễn Phúc Trú  · Nguyễn Phúc Khoát  · Nguyễn Phúc Luân.

*

Ở Gia Miêu, ông tổ của dòng Nguyễn Đình là Bình Ngô khai quốc công thần Nguyễn Lý. Cháu của Nguyễn Lý là Nguyễn Đình Thuận theo Chúa Tiên Nguyễn Hoàng di cư vào xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, Thừa Thiên.

Nguyễn Đình Chiểu nhà thơ lớn nhất của miền Nam nửa cuối thế  kỷ XIX xuất thân trong gia đình nhà nho là hậu duệ của 1 trong 3 họ Nguyễn Đình ở Phong Điền.(3) Cha ông là Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên; nay thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Theo gia phả của dòng họ Nguyễn Đình, ông tổ của họ theo chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào lập nghiệp tại nơi này. Lớn lên, ông Nguyễn Đình Huy cưới vợ ở đây và đã có hai con (một trai và một gái).Mùa hạtháng 5 năm Canh Thìn (1820) Tả quân Lê Văn Duyệt được triều đình Huế phái vào làm Tổng trấn Gia Định Thành. Đến đầu mùa thu, Nguyễn Đình Huy đi theo Tả quân, để tiếp tục làm thư lại ở Văn hàn ty thuộc dinh Tổng trấn. Ở Gia Định, ông Huy có thêm người vợ thứ là bà Trương Thị Thiệt, người làng Tân Thới, sinh được 7 con (4 trai, 3 gái), và Nguyễn Đình Chiểu chính là con đầu lòng.

Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 13 tháng 5 năm Nhâm Ngọ (1 tháng 7 năm 1822), tại quê mẹ là làng Tân Thới , phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (thuộc phường Cầu KhoQuận 1Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay). Năm 1854, Nguyễn Đình Chiểu cưới Lê Thị Điền (1835-1886, người làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc, trước thuộc Gia Định; nay thuộc tỉnh Long An) làm vợ. Bà Điền là em gái thứ năm của Lê Tăng Quýnh, học trò ông, vì cảm phục và mến thương thầy, đã xin gia đình tác hợp. Con của Nguyễn Đình Chiểu có tất cả là ba trai ba gái. Trong số ấy có nữ sĩ Sương Nguyệt Anh (con gái thứ tư) và Nguyễn Đình Chiêm (con trai thứ sáu) là người có tiếng trong giới văn chương, nối nghiệp cầm bút của cha.

 

Mộ Nguyễn Đình Chiểu (giữa), mộ vợ Lê  Thị  Điền (phải), mộ
Sương Nguyệt Anh (trái), đằng sau là đền thờ ở Ba Tri, Bến Tre.

*
Sau khi cha là Nguyễn Bặc tử nạn, trừ người anh cả Nguyễn Đê ở lại làm quan cho Lê Hoàn, còn người con thứ hai của Nguyễn Bặc là Nguyễn Thứ bất cộng đái thiên với triều đình mới nên dời cư về  huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang (nay thuộc Chí LinhHải Dương). Sau non bốn thế kỷ thì sinh ra Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi (1380–19/9/1442), quê gốc ở làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang. Ông là con trai của hàn sĩ Nguyễn Phi Khanh và bà Trần Thị Thái, là cháu ngoại của thân vương Trần Nguyên Đán. Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh năm 1400, ông từng làm quan dưới triều Hồ. Sau khi Việt Nam bị rơi vào sự cai trị của nhà Minh, Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống lại ách đô hộ nhà Minh. Ông trở thành mưu sĩ của nghĩa quân Lam Sơn trong việc bày tính mưu kế cũng như soạn thảo các văn thư ngoại giao với quân Minh. Nguyễn Trãi là khai quốc công thần và là văn thần có uy tín ở thời đầu nhà Hậu Lê. Tuy nhiên, năm


Đền thờ Nguyễn Trãi tại Côn Sơn, xã Cộng Hòa –
                                             huyện Chí Linh- Hải Dương



1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho ông. Nòi giống của Nguyễn Trãi còn sót lại từ  Anh Vũ – con bà Phạm Thị Mận
vẫn được duy trì phát triển. Năm 1969, khi khoa Văn Đại học Sư Phạm Vinh sơ tán về xã Quỳnh Thạch, Quỳnh Lưu, Nghệ An, lớp chúng tôi thường mượn nhà thờ họ Nguyễn làm nơi hội thoáng mát. Ông tộc trưởng cho biết chi họ của ông thuộc dòng Nguyễn Trãi, trực tiếp thờ ông tổ Anh Vũ. Trên đường Nguyễn Trãi kéo dài từ quận 1 đến quân 5 tp Hồ Chí Minh hiện có một nhà thờ lớn thờ Nguyễn Phi Khanh khá lâu đời, do con cháu Anh Vũ lập. Tôi có chơi thân với nhà thơ Nguyễn Phi Nguyện. Anh Nguyện thuộc dòng trực hệ Anh Vũ. Như vậy con cháu Nguyễn Trãi vẫn không bị tuyệt chủng.

Nguyễn Trãi là anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới.


*

Có một hậu duệ xuất sắc của Nguyễn Bặc thế kỷ XVI là Tướng quân Nguyễn Quyện. Nguyễn Quyện là người làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, xứ Sơn Nam, Hà Tây, nay thuộc Hà Nội. Ông cùng dòng họ với Nguyễn Trãi. Cha ông là Nguyễn Thiến (có chỗ ghi là Thuyến) đỗ trạng nguyên năm NhâmThìn niên hiệu Đại Chính Nhà Mạc 1532. Dưới triều vua Mạc Phúc Nguyên, Nguyễn Thiến giữ chức Thượng thư bộ Lại, tước Thư Quận công. Tướng Nguyễn Quyện được giao giữ vệ Phù Nam, tước Văn Thái hầu và là con rể Thái tể Lê Bá Ly. Tháng ba năm Tân Hợi, Lê Bá Ly đem 17.000 quân các đạo Tây Nam  sang hàng Lê thì Nguyễn Thiến và Nguyễn Quyện cùng đi theo. Nguyễn Thiến được vua Lê cho giữ nguyên chức tước. Tháng 8 năm Đinh Tỵ, niên hiệu Quang Bảo thứ tư  triều Mạc 1557, Nguyễn Thiến chết,  Nguyễn Quyện cùngg em là Nguyễn Miễn trốn về hàng vua Mạc Phúc Nguyên.

Trong trận chống nhau với vua Lê ở Hồ Trì tháng 9 năm Đinh Tỵ, Nguyễn Quyện đánh tan quân Lê do Vũ Lăng hầu  và Phạm Đức Kỳ chỉ huy, lập chiến công rực rỡ.

Tháng 6 năm Diên Thành thứ 9 năm 1574 vua Mạc Mậu Hợp sai tướng Nguyễn Quyện đánh Nghệ An, huyết chiến với tướng Lê Công Tích và Trịnh Mô (tức Nguyễn Cảnh Mô) vài tháng không phân thắng bại, lại rút quân về.

Ngày 6 tháng giêng năm Diên Thành thứ 10 năm 1575, Nguyễn Quyện lại cất quân tiến đánh Nghệ An giết được Lại Quốc công Phan Công Tích ngay giữa trận tiền ở Lèn Hai Vai, Diễn Châu.

Tháng 7 năm Diên Thành thứ 11 năm 1576, Nguyễn Quyện lại đánh vào Nghệ An, truy bắt sống được Tấn Quốc công Nguyễn Cảnh Mô (Trịnh Mô) ở núi Ngọc Sơn Thanh Hóa, giải về kinh sư.



               Nhà thờ Nguyễn Du ở Tiên Điền, Hà Tĩnh
 
Từ đó uy danh của Nguyễn Quyện.càng lẫy lừng. Đương thời coi ông là một danh tướng. Tháng 4 năm Đan Thái Nguyễn Quyện được vua thăng Thượng Đẳng Quốc công.

Mùa xuân ngày 6-1 năm Hồng Ninh thứ 3 năm 1592, khi kinh thành Thăng Long thất thủ, Nguyễn Quyện bị quân Trịnh bắt, được Trịnh Tùng biệt đãi. Ông than rằng “Ông tướng bại trận không thể nói mạnh được. Trời đất bắt Mạc suy thì dẫu anh hùng cũng khó ra sức”.

Sau khi vua Mạc Hồng Ninh  (Mạc Mậu Hợp) bị giết, Nguyễn Quyện và các con cháu phải khuất theo nhà Lê, nhưng không phục, tìm cách chống lại. Việc bại lộ, cả nhà cùng  bị thảm sát, chỉ có một người con trai của Nguyễn Miễn trốn thoát. Đó là Nam Dương hầu Nguyễn Nghiệm. Ông giong buồn vượt biển chạy trốn vào làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, giấu tên họ, tung tích, chỉ  gọi là ông già Nam Dương. Sau này, con cháu tập hợp lại thành chi phái họ Nguyễn Tiên Điền, tức là dòng họ của Đại Thi hào Nguyễn Du, tác giả Truyện  Kiều bất hủ. Danh nhân văn hóa thế giới.

 Tác giả gửi Quê Choa
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả




(1) Viết theo tài liệu Gia phả dòng họ Thái tể triều Đinh, Định Quốc công Nguyễn Bặc. Bộ thế phả do tiến sĩ Nguyễn Văn Lý (1795-1868) biên soạn.

(2) Nguyễn Kim được các vua nhà Nguyễn sau này truy tôn miếu hiệu là Triệu Tổ, thụy hiệu là Di Mưu Thùy Dụ Khâm Cung Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Khải Vận Nhân Thánh Tĩnh hoàng đế.

(3) Ban tu thư Tuyển tập Nguyễn Đình Chiểu có về xã Bồ Đề điều tra nhưng không ra manh mối gì cả.
tqs post ngày 14/11/2013





12 thg 11, 2013


(Nhà Xuất bản Văn Học. Hà Nội.  2013)
TS PHẠM TRỌNG CHÁNH
logobut2Có gì vui hơn, khi những thành quả nghiên cứu văn học của mình được bè bạn Hội Kiều Học trong nước hưởng ứng viết thành tiểu thuyết.  Nhận được sách anh Hoàng Khôi,  Nguyễn Du trên đường gió bụi với lời đề tặng: «Thân tặng anh Phạm Trọng Chánh. Cám ơn anh vì những bài viết của anh đã gợi ý nhiều và tạo cảm hứng cho tôi hoàn thiện cuốn sách này». Người viết vội vàng viết bài về quyển sách anh gửi tặng, giúp anh «nhặt sạn » những sơ sót trong lúc say sưa viết. Tiếc là không được đọc bản thảo lúc sách chưa ra đời để công trình anh được hoàn hảo hơn, thôi thì góp ý kiến để lần tái bản anh xem xét lại. Bài viết cũng trả lời các thắc mắc nhiều bạn khi thấy dàn bài sách anh Hoàng Khôi trùng hợp với tên tựa các bài tôi đã viết đăng trên nhiều site trong nước và hải ngoại, gửi Email hỏi tôi, mong rằng bài viết này giải toả các nghi ngờ về sách anh Hoàng Khôi.
Người nghiên cứu văn học sau bao năm tìm kiếm giải quyết những thắc mắc của  các học giảđi trước :  Tại sao Nguyễn Du có những bài thơ làm ở Trường An, Hàng Châu không nằm trên đường đi sứ năm 1813 ? Tại sao trong Thanh Hiên thi tập có các địa danh : Liễu Cao Lâm, Trường An, Giang Hán, Giang Bắc, Giang Nam, Nam Đài, Long Thủy, những địa danh ấy ởđâu ?Những người đi trước không nghĩ tới chỉ dịch phớt qua hay bỏ quên !   Nhân vật Nguyễn Đại Lang trong Thanh Hiên thi tập là ai ? Nguyễn Du trong thơ tiễn biệt có nói đã cùng kết nghĩa sinh tử, cùng tồn vong, chia tay tại đâu mà hẹn gặp lại tại Trung Châu ? Trung Châu là Hà Nội hay ở Trung Quốc. Nguyễn Du từ năm 1783 làm Chánh Thủ Hiệu Quân Hùng Hậu hiệu tại Thái Nguyên. Sách sử các tài liệu rãi rác : Nguyễn Khản làm Thượng Thư Bộ Lại kiêm trấn thủ Thái Nguyên, Hưng Hóa, Hoàng Lê Nhất Thống Chí có nói đến Cai Gia, tay giặc già, thuộc hạ của Nguyễn Khản nắm binh quyền tại Thái Nguyên. Lê Quý Kỷ Sự của Nguyễn Thu có nói đến cuộc khởi nghĩa tại Tư Nông của cựu Trấn Thủ Thái Nguyên Nguyễn Đăng Tiến, tước Quản Vũ Hầu, bị tướng Tây Sơn bắt giải về cho Vũ Văn Nhậm, Nhậm trọng khí khái dụ hàng, lại tha bổng cho phép muốn đi đâu thìđi. Gom lại các tài liệu, tôi tìm được một nhân vật, vừa là thầy, là anh kết nghĩa Nguyễn Du và cũng là Từ Hải, mở cách cửa  Nguyễn Duđã vào bước đường đi giang hồ khắp Trung Quốc thời thanh niên..
                Những chi tiết rành rành trong Thanh Hiên thi tập có những bài tả cảnh tuyết, núi non trùng điệp, lá vàng, trưởng giảăn mặc còn theo nhà Hán (không theo nhà Thanh để tóc bính đuôi sam, áo quần Mãn Châu), dân chúng theo lịch nhà Tần, xử dụng nhạc cụ« tù và » ? Nguyễn Du có hư cấu, ở Quỳnh Hải, Hồng Lĩnh theo sách vở mà tưởng tượng làm thơ, hay thơ chữ Hán Nguyễn Du là những trang nhật ký ?
                Tại sao Nguyễn Du có những câu thơ kỳ lạ : Tôi đọc kinh Kim Cương nghìn lượt ?. Muôn dậm mũ vàng chiều nắng xế ?  Giang Bắc, Giang Nam cái túi không ? Nguyễn Du làm gì màđọc kinh Kim Cương trong ba năm, đội mũ vàng nhà sưđi muôn dậm (khoảng 5000km), làm gì không tiền màđi hết các sông phía bắc đến sông phía nam Dương Tử Giang ? Nguyễn Du ởđâu mà cách Trường An ngàn dậm về phía Nam ?
Theo Nguyễn Hành, cháu Nguyễn Du, có viết ông có một cuộc đời giang hồ như cuộc đời làm quan : Giang hồ long miếu hai điều đủ, Thi họa cầm thư bốn nghệ tinh.
                Theo gia phả từ năm 1786 đến 1796 Nguyễn Du về quê vợ tại Quỳnh Hải, Thái Bình hợp cùng Đoàn Nguyễn Tuấn khởi nghĩa chống Tây Sơn.  Nhưng điều này không đúng vì từ năm 1788 Đoàn Nguyễn Tuấn ra làm quan Tây Sơn vàđi sứ trong đoàn 158 người năm 1790. Đoàn Nguyễn Tuấn có hai bài thơ viết tặng một văn nhân họ Nguyễn, gặp tại Hoàng Châu, Trung Quốc  vào mùa thu bàn luận về văn chương sôi nổi chuyện gì ?, Đoàn Nguyễn Tuấn phải lên Nhiệt Hà nơi vua Càn Long đang nghỉ mát ? Văn nhân họNguyễn đi xe song mã về Nam và hẹn gặp lại tại nước nhà vào mùa xuân. Trên đường đi cớ gì màĐoàn lại viết một bài thơ Vô Đề về Hồng nhan đa truân khi gặp một ca nhi hát cho sứđoàn tại bến sông Hán?.
                Mang những thắc  mắc bao nhiêu năm, năm 2009, tôi đi Trung Quốc qua những thành phố Nguyễn Du đi sứ và các địa danh trong thơ, tôi nghiên cứu, tham khảo sách vở từng con sông, từng hồ, từng thắng cảnh Nguyễn Du đãđi qua, tôi dịch lại toàn bộ thơ chữ Hán Nguyễn Du, do không nghĩ đến Nguyễn Du có một thời gian đi giang hồ tại Trung Quốc thời trẻ, những địa danh bị người đi trước không hiểu nên bỏ qua hay dịch sai vàtôi hoàn thành quyển Nguyễn Du mười năm gió bụi và mối tình Hồ Xuân Hương. Khuê Văn Paris Xb 2011. Và gần đây tôi viết thành nhiều bài nhỏđểphổ biến trên các báo điện tử.
                Nghiên cứu không phải là chuyện độc quyền của riêng ai, không phải chuyện người sau đánh đổ người trước để được nổi danh hơn mà  người đi sau nối tiếp người trước , làm giải quyết những nghi vấn còn tồn động, làm cho việc nghiên cứu ngày càng phát triển, sáng tỏ. Điều may mắn trong nghiên cứu về Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương tôi có dịp gặp gỡ bàn bạc với Giáo sư Hoàng Xuân Hãn và Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn.
                Những thắc mắc về Nguyễn Du tôi đã từng bàn với Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, từ những năm 1980 thuở còn thanh niên trong những lần tôi về nghỉ hè hàng tháng trời tại dã thự Cam Tuyền, tại Trouville bờ biển Normandie, Giáo sư khuyến khích, chỉ dẫn tôi những điều giáo sư nghi ngờ và chưa tìm ra câu giải đáp. Tôi mang nặng những lời hướng dẫn của giáo sư suốt mấy mươi năm, nên đọc lại, dịch lại từng câu từng chữ thơ chữ Hán, chữ Nôm Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du. Ở Paris mà nghiên cứu Văn Học Việt Nam quả thật là chuyện gàn, vì ban ngày nói tiếng Pháp, làm ăn sinh sống bằng tiếng Pháp, mà ban đêm cứ thao thức ngồi viết bằng tiếng Việt, dịch thơ tiếng Việt chữ Hán, chữ Nôm. Được tiếp xúc với kho tàng văn hóa Hán Nôm lưu trử tại Trường Viễn Đông Bác Cổ Paris, di sản cha ông mình nhiều quá, mà người nghiên cứu lác đác như lá mùa thu, vì việc làm chẳng ai trả lương, chỉ để tiêu khiển. Ngày xưa, tôi tò mò hỏi giáo sư Hoàng Xuân Hãn : Vì sao Bác tốt nghiệp trường Bách Khoa Paris, tốt nghiệp Kỹ sư Hầm Mỏ, Thạc Sĩ Toán mà lại dành cả đời đi nghiên cứu văn chương Việt Nam ? Bác trả lời :  « Việc ấy các anh em trẻ có nhiều sẽ làm giỏi hơn bác, nhưng kho tàng văn học Việt Nam nếu không ai làm, di sản tổ tiên sẽ mất đi rất nhiều ». Rồi từ lúc, ngồi trên ghế trường Bách Khoa Paris, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã viết tựđiển danh từ Khoa Học bằng tiếng Việt, đặt nền tảng cho việc giảng dạy tiếng Việt, chỉ một năm làm Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục và Mỹ Thuật, giáo sưđã đặt nền tảng cho Chương Trình giảng dạy bằng tiếng Việt còn tồn tại cho đến ngày nay. Trong tiếng súng chiến tranh Pháp Việt, giáo sư Dương Quảng Hàm lao vào cứu thư viện của mình và bị chết cháy. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn vẫn tiếp tục đi mua hàng gánh sách vở các đại gia bị con cháu đem bán làm giấy bổi, rồi mang nó ra xa nơi chiến tranh ngồi tiếp tục nghiên cứu, chẳng màng đến danh lợi.Bác Hãn viết sách cả đời, công sức nhưcả một Viện Văn Học nhưng không hề hưởng được một đồng nào do sách vở mang lại. Với địa vị, bằng cấp tại Pháp, Bác Hãn có thể trở nên giàu có, nhưng Bác biết dừng lại khi đã có đầy đủ và dành thì giờ nghiên cứu di sản tổ tiên.
Tôi vốn nặng nợ với nghiệp văn chương, thuở học trung học đã làm thơ viết báo, nhiều khi tự nhủ lòng : Trang Tích xưa khi bệnh mới rên bằng tiếng Việt, chứ tôi đi du học từ năm 19 tuổi, mà cứ rên bằng tiếng Việt suốt hơn 43 năm. Thôi thì như Tú Xương : Một chè, một rượu, một đàn bà.. mình thì chẳng rượu chè, cờ bạc chỉ mê có cô Hồ Xuân Hương và cô Kiều..
                Công trình Nguyễn Du, mười năm gió bụi và mối tình Hồ Xuân Hương sau khi hoàn thành từ Paris năm 2011, tôi gửi sang Moscou tặng Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn trong những ngày cuối đời, giáo sư cho biết bị phong thấp tê liệt cả nửa người, chỉ còn một tay gỏ chữ, bao ngày tháng trông đợi, thường xuyên viết Email hỏi thăm khuyến khích, không có quyển Hoàng Lê Nhất Thống Chí tại Moscou, Giáo sư nhờ môn sinh từ trong nước gửi qua, cầm quyển sách trong tay, giáo sưđánh Email hỏi gấp : Cai Gia ở trang mấy, anh nói gấp cho tôi biết,  giáo sư rất vui khi đọc được những khám phá mới của tôi về Nguyễn Du, nhất là về Cai Gia Nguyễn Đại Lang sẽ mở ra cánh cửa về cuộc đời giang hồ của Nguyễn Du và Giáo sưvui vẻ nói rằng khám phá này rằng « sẽ làm mưa làm gió »… không ngờđây  là quyển sách cuối cùng Giáo sưđọc trước khi nhắm mắt lìa đời.
                Được Giáo Sư Nguyễn Văn Hoàn, vốn đã quen biết từng sang chơi Paris hơn 30 năm, nay là Chủ Tịch Hội Kiều Học, mời tham gia Hội Kiều Học vừa mới thành lập, nay được anh Vũ Ngọc Khôi, một hội viên Kiều Học viết chuyện Mười năm gió bụi của Nguyễn Du thành tiểu thuyết còn gì vui hơn. Hy vọng có một đạo diễn tài ba, một nhà sản xuất phim, một nhà viết kịch bản phim..sẽ có cảm hứng làm phim truyện nhiều tập về Nguyễn Du – Hồ Xuân Hương chắc chắn sẽ ăn đứt các bộ phim Trung Quốc – Hàn Quốc, sẽ phục hưng văn hóa Việt đánh bạt được các ảnh hưởng văn hóa tình cảm lẩm cẩm, giúp cho giới trẻ Việt Nam biết lịch sử Việt Nam nhiều hơn là sử Trung Quốc,  Hàn Quốc. Hàn Quốc đã làm được bộ phim Xuân Hương, một truyện thơ hàng đầu của Triều Tiên, còn Việt Nam chờ đến bao giờ ?
                Mơ ước nhiều, nhưng trước tiên đề nghị với anh Hoàng Khôi, xây dựng lại quyển tiếu thuyết hoàn hảo hơn,  và mắc các sự kiện trên chiếc đinh lịch sử vững chắc.
                Trước tiên, đểđóng những chiếc đinh sự kiện vào lịch sử, cần tóm lược các sai lầm năm tháng trong  Thanh Hiên thi tập, và mười năm gió bụi. Thời gian các tài liệu cũ dựa theo gia phả cho rằng Nguyễn Du theo vua Lê Chiêu Thống không kịp vềẩn lánh quê vợở Quỳnh Hải, hợp cùng Đoàn Nguyễn Tuấn chống Tây Sơn 1786-1796 và từ 1796-1802 là thời kỳ dưới chân núi Hồng, Vợ chết năm 1796, Nguyễn Du cõng con Nguyễn Tứ về Hà Tĩnh, làm Hồng Sơn Liệp Hộ. Năm 1802 Nguyễn Du đón đường vua Gia Long tại Hà Tĩnh dâng sớ và được đưa ra Bắc phong làm Tri huyện Phù Dung trấn Sơn Nam.
Cách chia này không đúng vì có các mâu thuẩn : Ngược lạiĐoàn Nguyễn Tuấn ra làm quan Tây Sơn. Bài thơ Quỳnh Hải Nguyên tiêu :  Nguyễn Du hạnh phúc bên vợ : Nguyên dạ không đình nguyệt mãn thiên, Trăng sáng đầu xuân tỏa ngập tràn., và mình đã trải qua chân trời góc biển đến 30 tuổi. Các tài liệu cũ không biết vợ Nguyễn Du tên gì, không biết năm sinh, làm sao biết năm mất ? Tại Hồng Lĩnh, Nguyễn Du bị tù, Trấn thủ Nguyễn Văn Thận giữ vững Hà Tĩnh cho đến năm 1802, Nguyễn Du không thể chiêu tập thủ hạ và không thểcó lương thực, bò, ngựa để dâng vua Gia Long. Ngườiđã làm quan được mời ra (cùng Nguyễn Thiếp) năm 1802 và đi theo vua Gia Long từ Phú Xuân ra Bắc là Nguyễn Nể chứ không phải Nguyễn Du. Bài thơ Chí Hiên tặng của Nguyễn Du lưu trong Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương ,  có hai câu : Ra Bắc phen này mong nổi việc, Vào Nam ngẩm trước cũng hoài công . Chứng tỏ Nguyễn Du không tìm được ai ủng hộ mình tại Hà Tỉnh  (Tụđầu nan đắc thường thanh mục – Họp bạn khó tìm người mắt biếc) Hà Tĩnh trải qua cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quýnh, làng Tiên Điền bị làm cỏ, không ai còn muốn phiêu lưu chống Tây Sơn,(Tiếu đề tuẫn tục can qua tế – Khóc cười thời loạn theo trần thế. Tạp thi II). Nguyễn Du không thểở lại dạy học vì người bạn thân là Thực  Đình dạy học cũng không sống nổi, cái tên Thực Đình tự cười mình, nói lên số phận chỉăn no khi cóđám tiệc ởđình làng. Nguyễn Du thất bại, bị tù tại Hà Tĩnh, mới ra trở lại Thăng Long, thì Hồ Xuân Hương đãđi lấy chồng thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm. Nguyễn Du về Quỳnh Hải cưới vợĐoàn Nguyễn Thị Huệ, do hai ông anh Nguyễn Nể – Đoàn Nguyễn Tuấn thu xếp năm ấy Nguyễn Du 30 tuổi. Tại Quỳnh Hải Nguyễn Du dạy học văn võ, chiêu tập thủ hạ, hoàn tất Truyện Kiều, làm ăn khấm khá mới có bò ngựa lương thực dâng vua Gia Long. Từ Quỳnh Hải, Nguyễn Du dẫn thủ hạđi không xa đến Phù Dung cùng trấn Sơn Nam, thì gặp vua Gia Long, vua phong ngay làm Tri huyện tại đây cho nên có danh hiệu là Phi Tử.  Nguyễn Nể cũng được vua Gia Long để lại Bắc Hà  giúp  Tổng Trấn Nguyễn Văn Thành các nghi lễ cho sứđoàn do Binh Bộ Thượng thư Lê Quang Định làm Chánh sứ  xin nhà Thanh phong vương và đổi quốc hiệu là Nam Việt, nhưng không giữ chức vụ gì. Nguyễn Nể không bị Đặng Trần Thường đem ra Văn Miếu đánh đòn như Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích, Nguyễn An Lịch.. nhưng năm 1805 về Hà Tỉnh thì bị tri phủ Trần Văn Chiêu tuy bức, ông uất ức mà chết.  Nguyễn Du vợ mất năm 1804 để lại một con Nguyễn Tứ.
                                                                NIÊN BIỂU NGUYỄN DU
1766. Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu, tính ra dương lịch là ngày 3-1-1766, mới đúng. (Các tài liệu cũ đều lầm lẫn khi viết Nguyễn Du sinh năm 1765).
1771  Cha là Nguyễn Nghiễm xin về hưu trí sĩ, được gia thăng chức Đại Tư Đồ. Chúa Trịnh cấp cho xe bồ, ngựa tứ và thuyền hãi mãđưa về làng. Nguyễn Du theo cha về. Nguyễn Nghiễm lại được gọi ra làm quan Tham Tụng.
1774. Nguyễn Nghiễm được sung chức Tả Tướng cùng Hoàng Ngũ Phúc đánh Chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
1776 Nguyễn Nghiễm bị nhiễm bệnh dịch cùng hàng ngàn quân sĩ, đưa về quê dưỡng bệnh và mất tại Hà Tĩnh 7 tháng 11 Ất Mùi (7-1-1976). Được truy tặng tước Huân dụ Đô hiến đại vương, Thượng đẳng phúc thần.
1778 Bà Trần thị Tần (1740-1778) mẹ Nguyễn Du qua đời ngày 20-7-1978.
1780 Trong vụ án Canh Tý. Anh cả Nguyễn Khản (1734-1786) thầy dạy Trịnh Tông bị khép tội mưu loạn cùng Trịnh Tông, được tha chết nhưng bãi chứcx, giam ở nhà Châu Quận công. Nguyễn Du về Tiên Điền học với chú Nguyễn Trọng.
1782.Chúa Trịnh Sâm mất, Trịnh Tông nối ngôi Chúa, cử Nguyễn Khản làm Thượng Thư bộ Lại, tước Toản Quận công.
1783 Nguyễn Du thi Hương ở trường Sơn Nam, Nam Định đậu tam trường. Nguyễn Khản thăng Thiếu Bảo, cuối năm thăng Tham Tụng kiêm trấn thủ Hưng Hóa, Thái Nguyên. Cử Nguyễn Du làm Chánh Thủ Hiệu quân Hùng Hậu Hiệu cai quản đội quân tinh nhuệ nhất Thái Nguyên. Cai Gia Nguyễn Đăng Tiến tước Quản Vũ Hầu vốn là tay giặc già, phản Thanh phục Minh Trung Quốc, gốc người Việt Đông, là tân khách (thủ hạ) dưới trướng, thầy dạy võ cho Nguyễn Du và các anh em được giao quyền Trấn thủ Thái Nguyên, nơi có nhiều người Trung Quốc sang khai mõ bạc. Nguyễn Nể(1761-1805) đỗ tứtrường trường thi Hương Phụng Thiên, Hà Nội, Nguyễn Khản phong làm Cai quản đội quân Phấn Nhất trong phủ Chúa.
1784 Nhân vụ 7 kiêu binh bị nhà chúa giết vì bữa tiệc  vua Lê đãi kiêu binh có công phò Hoàng Tự Tôn Lê Duy Kỳ từ trong tù ra, kiêu binh nổi loạn đốt phá dinh thự Bích Câu. Nguyễn Khản chạy trốn lên Sơn Tây vớiem Nguyễn Điều (1745-1786), trấn thủ Sơn Tây, Nguyễn Nể phụ tá làm Hiệp tán Nhung vụ,họtoan hợp quân các trấn về đánh kiêu binh, nhưng kiêu binh giữ chặt chúa Trịnh Tông, âm mưu bất thành. Kiêu binh áp lực bãi chức Nguyễn Khản vàgiáng chức Nguyễn Điều, hai người về Hà Tĩnh. Nguyễn Điều về huyện Thanh Chương lập nhà ở đấy, khi nghe nhà Trịnh mất ông uất ức mà chết năm 1786.
1786 Tây Sơn ra Bắc,  Nguyễn Khản từ Hà Tỉnh  theo ghe mành ra Bắc  giúp chúa Trịnh chủ trương đóng quân theo lối vẩy sộp(theo Lê Quý Kỷ sự) , nhưng kiêu binh vu cáo ông rước giặc Tây Sơn  về. Nguyễn Khản phải bỏ chạy, ông mất trong hoàn cảnh đó, thi hài được đưa về an táng tại Hà Tĩnh.
1787 Nguyễn Du, Nguyễn Quýnh cùng Cai Gia Nguyễn Đăng Tiến, quyền trấn thủ Thái Nguyên khởi nghĩa tại Tư Nông thất bại, bị bắt và cùng được Vũ Văn Nhậm tha chết, họ đi sang Vân Nam. Nguyễn Quýnh quay trở về Hồng Lĩnh khởi nghĩa bị bắt và bị giết năm 1791 tròn 30 tuổi,  dinh thự và làng Tiên Điền bị đốt sạch.
1787-. Đến Vân Nam, Nguyễn Du bị bệnh ba tháng mùa xuân. Hết bệnh họđi Liễu Châu và chia tay, Nguyễn Đại Lang về thăm quê nhà vùng Quế Lâm, cao sơn lưu thủy. Nguyễn Du đi giang hồ ba năm ở Trung Quốc trong áo mũ nhà sư mang danh Chí Hiên, từ Quảng Tây theo thuyền đi dọc sông và Hồ Động Đình đến Hán Khẩu, rồi theo sông Hán rồi lên Trường An viết bài Dương Quý Phi, Bùi Tấn Công mộ, Phân Kinh thạch đài, rồi lại theo kinh Đại Vận Hà đến Hàng Châu .
1790 Tại Hàng Châu Nguyễn Du cư ngụ tại chùa Hổ Pháo bên Tây Hồ, nơi Từ Hải tức Minh Sơn Hoà thượng từng tu hành, trước khi đi giang hồ thành cướp biển. Tại đây Nguyễn Du có được bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Gặp lại Nguyễn Đại Lang tại miếu Nhạc Phi cũng bên cạnh Tây Hồ,( nơi đây Nguyễn Du viết 5 bài thơ, một bài Nhạc Phi hai bài Tần Cối và hai bài Vương Thị), sau đó hai người đi Yên Kinh (gặp vua Lê Chiêu Thống), trở về Hoàng Châu thì gặp Đoàn Nguyễn Tuấn sứ đoàn Tây Sơn tại một lữ quán, gặp bạn văn chương, Nguyễn Du bàn chuyện sôi nổi về Hồng nhan đa truân. Đoàn Nguyễn Tuấn viết hai bài thơ tặng văn nhân họ Nguyễn. Nguyễn Du về Long Châu và trở về Thăng Long.
1790-1793. Nguyễn Du về ở với anh Nguyễn Nể, đang làm quan Tây Sơn tại Bắc Thành giữ chức Hàn Lâm thị thư, sung chức Phó sứ tuế công, năm 1791 đi sứ về, đã xây dựng lại một phần dinh thự Bích Câu, tại đây Nguyễn Du nghe cô Cầm, người nhạc nữ cũ cung vua Lê đánh đàn. Nhưng Nguyễn Du thường ở gác tía, nơi câu cá anh Nguyễn Khản cạnh đền Khán Xuân, tại đây Nguyễn Du quen biết Xuân Hương Hồ Phi Mai, mối tình ba năm.
1794. Nguyễn Nể được triệu về Phú Xuân thăng chức Đông Các Đại Học Sĩ, gia tăng Thái Sử Tả Nghị Lang, chức vụ thầy dạy vua Cảnh Thịnh. Nguyễn Nể giao phó cho hai em Nguyễn Du và Nguyễn Ức tiền bạc để về Tiên Điền xây dựng lại từ đường và làng Tiên Điền. Về Phú Xuân, quyền hành nhà Tây Sơn trong tay Thái sư Bùi Đắc Tuyên, cậu vua Cảnh Thịnh, Thái sưđày Quân sư Trần Văn Kỷ ra Hoàng Giang làm lính thú. 1795  Nguyễn Nể xin ra Quy Nhơn vừa mới lấy được từ vua Trung Ương  Nguyễn Nhạc, trấn đóng để tránh xa xung đột triều đình, cuối năm được cử làm Chánh Sứ (Hành Khánh Sứ) lễ bộ mừng lễ truyền ngôi vua Càn Long cho vua Gia Khánh.
1794-1796. Nguyễn Du về Tiên Điền, bị bệnh ba tháng cuối năm. Ở nhà cạnh  Giang Đình bến sông để tiếp nhận  mua gỗđá, vật liệu chỡ bằng thuyền.  Nguyễn Ức vẽ kiểu và chỉ huy thợ xây cất. Nguyễn Du trao đổi thơ với Hồ Xuân Hương. Nguyễn Du đi săn làm Hồng Sơn liệp hộ. Nguyễn Du có vào Phú Xuân thăm anh và nhận một món tiền khác.
1796. Công việc xây dựng tạm xong. Nguyễn Du làm Nam Hải Điếu đồ, người đi câu biển Nam Hải toan theo thuyền về Nam. Lúc này chúa Nguyễn Ánh đãđánh chiếm đến thành Diên Khánh (Nha Trang). Nguyễn Du bị quận công  Nguyễn VănThận trấn thủ Hà Tĩnh bắt giam mười tuần. Nguyễn Du trở ra Thăng Long thì hay tin Hồ Xuân Hương đãđi lấy chồng thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm. Nguyễn Du viết hai bài thơ ký tên Chí Hiên oán trách nàng tệ bạc. Hồ Xuân Hương vẫn trân trọng chép trong Lưu Hương Ký. Nguyễn Du sang nhàĐoàn Nguyễn Tuấn, anh Nguyễn Nể  cũng vừa đi sứ về được thăng chức Hữu Trung Thư, chức vụ quân sư cho vua Cảnh Thịnh, trước biến loạn triều đình Nguyễn Nể xin ra xây dựng Phượng Hoàng Trung Đôở Nghệ An thay Trần Quang Diệu.
1797-1801  Nguyễn Nể cùng Đoàn Nguyễn Tuấn tác thành hôn nhân cho Nguyễn Du cùng Đoàn Nguyễn Thị Huệ và giao cho gia trang ở Quỳnh Hải. Từ đây Nguyễn Du có vợ con sống hạnh phúc chấm dứt cuộc đời gió bụi. Nguyễn Du hoàn tất Truyện Kiều, dạy văn, dạy võ chiêu tập thủ hạ tại Quỳnh Hải.
1801 Nguyễn Nểđược lệnh vua Cảnh Thịnh đưa La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp vào chầu, còn ở Phú Xuân thì kinh đô thất thủ. Nguyễn Nể và La Sơn Phu Tử được vua Gia Long gọi ra. Nguyễn Nể dâng sớ được trọng dụng khen thưởng và cho theo xe vua ra Bắc chỉ dẫn nghi lễ cho sứđoàn ngoại giao Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức đi sứ. Nguyễn Thiếp được cho về quê quán.
1802. Vua Gia Long ra Bắc truy lùng vua Tây Sơn Cảnh Thịnh. Nguyễn Du dẫn học trò, tráng đinh mang lương thực, bò, ngựa từ Quỳnh Hải đón đường đi gặp Vua Gia Long, đến huyện Phù Dung thì gặp vua, vua phong ngay làm tri huyện Phù Dung. Việc này tương tự với Phi Tử đời Chiến Quốc  dâng ngựa cho vua Chu Hiếu Vương được chức Phụ Dung, nên Nguyễn Du có danh hiệu là Phi Tử, Nguyễn Hành bài Đi Săn có nhắc đến danh hiệu này.
1803. Làm Tri huyện được mấy tháng nhờ tài nói lưu loát ngôn ngữ Trung Quốc trong thời gian đi giang hồ và tài năng ứng đối thi ca. Nguyễn Du được thăng Tri phủ Thường Tín lên Lạng Sơn đặc trách tiếp sứ sang phong vương cho vua Gia Long cùng Tri phủ Thượng Hồng Trần Quý Chuyên.Tri phủ Thiên Trường Ngô Nguyên Viễn, Tri phủ Tiên Hưng Trần Lưu. Thơ tống tiễn do Nguyễn Du viết.
1804. Xong việc ngoại giao tiếp sứ, Nguyễn Du trở về Thường Tín, vợ mất để lại một con Nguyễn Tứ. Nguyễn Du cáo bệnh xin nghĩ một tháng về quê. Nguyễn Du tìm về Cổ Nguyệt Đường mong nối lại duyên xưa thì Hồ Xuân Hương đang làm lẽ Cai Tổng Cóc Nguyễn Công Hòa ở Vĩnh Yên, nàng đau ốm tâm sự như nàng Tiểu Thanh. Bên song cửa Nguyễn Du viết bài Độc Tiểu Thanh Ký gửi Hồ Xuân Hương và tự hỏi : Ba trăm năm lẽ nữa ai khóc người phẩm hạnh cao quý như nàng Tiểu Thanh. Đó là lý do bài Độc Tiểu Thanh Ký nằm cuối Thanh Hiên thi tập., và hai chữ tố như chỉ có nghĩa là người phẩm hạnh cao quý như thế (như nàng Tiểu Thanh).
1805 Nguyễn Du được thăng Đông Các học sĩ, hàm ngũ phẩm, tước Du Đức hầu vào nhậm chức ở kinh đô Phú Xuân.Chức vụ dâng sách cho vua Gia Long đọc mỗi ngày. Nguyễn Nể về quê bị Tri phủ Trần Văn Chiêu truy bức ông uất ức mà chết.
1807 Làm giám khảo trường thi Hương, Hải Dương.
1808 Mùa thu, xin về quê nghỉ.
1809 Đầu năm được bổ làm Quan Cai Bạ (Trấn thủ) doanh Quảng Bình, một trong bốn doanh đất kinh kỳ,  hàm tứ phẩm.
1812 Cuối năm Nguyễn Du xin về quê xây mộ cho anh Nguyễn Nể, được hai tháng thì có chiếu chỉ triệu vào kinh.
1813 Thăng Cần Chánh điện học sĩ và được cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc. viết Bắc Hành tạp lục.
1815 Thăng Hữu Tham tri Bộ Lễ hàm Tam phẩm.
1816 Kết thúc vụán Nguyễn Văn Thuyên. Trung Quân thống lĩnh toàn quân đội Nguyễn Văn Thành tự tử. Anh rễ Nguyễn Du, Tiến sĩ Vũ Trinh thầy dạy Nguyễn Thuyên bị giam hậu và đày đi Quảng Nam 12 năm. Vụán Binh bộ Thượng ThưĐặng Trần Thường, vụán Trần Phúc Hiển chồng Hồ Xuân Hương.
1818. Trần Phúc Hiển bị xử tử,  Hiệp trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán, thi tướng Tao Đàn Cổ Nguyệt Đường chết, có lẽ tự tử.
1819 Được cử làm Đề Điệu Trường Thi Quảng Nam, Nguyễn Du dâng biểu cố từ được vua chuẩn y.
1820. Gia Long mất, Minh Mệnh lên ngôi cử Nguyễn Du làm Chánh sứ đi báo tang và xin thụ phong; Chưa kịp đi thì bị bệnh dịch mất ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn tức ngày 16-9-1820. Ngô Thời Vị làm Chánh sứ thay thế.  Thi hài  Nguyễn Du được an táng đồng Bầu Đá, xã An Ninh, huyện Quảng Điền Thừa Thiên. Năm 1924 con là Nguyễn Ngũ cải táng đưa về làng Tiên Điền.
                                ĐÍNH CHÁNH NHỮNG SƠ SÓT
                Đọc sách anh Hoàng Khôi, tôi xin nhặt ra những sơ sót, và bổ túc thêm những chi tiết, mong rằng anh sẽ chữa lại , mài dũa thêm viên ngọc quý để trở thành một tác phẩm hoàn hảo tuyệt tác, nếu có thì giờ viết thành kịch bản truyện phim cũng nên.
                Trang 14, Trấn Sơn Nam thời Lê, đến đời Gia Long được chia làm Sơn Nam Thượng đặt trị sở tại Châu Cầu. Sơn Nam Hạ đặt trị sở tại Nam Định.  Sang năm 1831 đời Minh Mạng  chia Sơn Nam Thượng gồm hai tỉnh Hà Nội và tỉnh Hưng Yên. Sơn Nam Hạ chia làm hai  tỉnh Nam Định và Thái Bình.
Đời Gia Long, Bắc Thành có 11 trấn : gồm 5 nội trấn là Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương, Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ. 6 ngoại trấn là : Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hưng Hóa, Yên Quảng. Ngoài ra có hai đạo Thanh Bình (Ninh Bình) và Hoà Bình và phủ Hoài Đức gồm Thăng Long và vùng phụ cận. Do đó Ninh Bình và Thăng Long đời Gia Long về trước, không thuộc về Sơn Nam.
                Trang 18. Bà Đặng Thị Thuyết (không phải Tuyết) sinh mẫu Nguyễn Điều, em bà chánh thất Đặng thị Dương. Bà Nguyễn Thị Xuân quê Bắc Ninh, sinh mẫu NguyễnTrứ, Nguyễn Nghi  thay vì bà Hồ Thị Ngạn ( là sinh mẫu Nguyễn Nhưng, thay vì Nguyễn Nhung).
                Mẹ Nguyễn Du là Trần Thị Tần, con người thuộc hạ làm chức Câu kế lo việc kế toán, quản gia cho cụ Nguyễn Nghiễm, quê làng Hoa Thiều họ này có hai người đỗ Tiến Sĩ, bà Tần là vợ thứ ba có con đông nhất (Nguyễn Trụ, Nguyễn Nể, Nguyễn Thị Diên, Nguyễn Du, Nguyễn Ức) . Do đó tôi nghĩ mẹ Nguyễn Du là người có thế lực trong gia đình, chứ không phải là mối tình qua đường, số phận người hầu, con mọn như anh Hoàng Khôi viết ? Theo phong tục ngày xưa bà chánh thất thường do cha mẹ hỏi cưới để làm dâu phụng thờ cha mẹ, cai quản gia trang nguyên quán, bà thứ hai do bà cả cưới cho chồng, thường là em hay họ hàng của mình để « làm bạn » cho mình. Bà ba là người được chồng lựa chọn, theo chồng đi khắp các nơi trấn nhậm và được chồng yêu thương nhất, có nhiều quyền hành nhất và có con đông nhất. Cụ Nguyễn Nghiễm có tám bà vợ và 21 người con.  Thường các gia đình quan lớn ngày xưa, bà chánh thất giữ sổ sách kế toán và tiền bạc cho một gia trang khoảng 50 người, vừa các bà, con cái người hầu, người bảo vệ, tân khách, thầy dạy văn, dạy võ…. Trong trường hợp bà cả quê mùa không biết tính toán mới có người làm câu kế.
                Trang 30. Nguyễn Du không thể về  Hải An, Quỳnh Hải học với cha vợ là Đoàn Nguyễn Thục năm 1782, năm Nguyễn Du 16 tuổi vì ông Đoàn Nguyễn Thục sinh năm 1718 và mất năm 1775. Thời gian 1780-1782 Nguyễn Khản bị phải vụ án Trịnh Tông, nên bị giam lỏng, chúa nghĩ tình bạn cũ tha không giết, do đó Nguyễn Khản không thể cưới vợ cho em, người trụ cột trong gia đình như thế, thì còn vui gì mà lấy vợ. Nguyễn Du về Hồng Lĩnh học với chú là Nguyễn Trọng. Trong bài thơ Tặng Thực Đình năm 1794 có câu :La Thành nhất biệt thập niên thâm. Một biệt La Thành đã chục năm. Nguyễn Du có bạn ở thành Nghệ An trước năm 1783, sau đó Nguyễn Du ra thi Hương trường Sơn Nam, Nam Định, đỗ Tam Trường.(đỗ trường  thi, phú, chiếu-biểu và hỏng kỳ tứ trường thi văn sách).Năm 1783 Nguyễn Du không thể vừa trấn đóng Thái Nguyên, vừa ở quê vợ Quỳnh Hải ?
                Trang 98 bài biệt Nguyễn Đại Lang : hai câu : Tống quân quy cố khâu, Ngã diệc phù Giang Hán.(Tiễn anh về quê cũ, Tôi sang sông Hán đây) Nguyễn Du tiễn Nguyễn Đại Lang về quê cũ vùng Quế Lâm nơi cao sơn lưu thủy, vùng Việt Đông nơi quê hương người Choáng,(Tráng) người Việt cổ thời Việt Vương Câu Tiễn và Triệu Đà, ngày nay còn 15 triệu người vẫn còn giữ tiếng nói. Và cho biết mình sẽ sang sông Hán đểđi Trường An. Giáo sư Nguyễn Huệ Chi dịch thành : Tiễn anh về núi cũ, tôi cũng trẩy sang sông, bỏ sót mất địa danh  Giang Hán.
                Hai câu : Sinh tử giao tình tại, Tồn vong thổ tiết đồng cho biết Nguyễn Du có kết nghĩa sinh tử với Nguyễn Đại Lang, cùng khởi nghĩa bị bắt và được tha.
                Trang 109, 114,115 hai bài Sơn Thôn và Sơn Cư Mạn Hứng tả cảnh Vân Nam :nơi non sâu lớp lớp, Trưởng giả còn ăn mặc theo nhà Hán, ở trong núi (lịch theo Tây Tạng) không theo lịch nhà Tần. Phạm Tú Châu dịch áo mũ người già, và lịch năm trong túi không đúng.  Ông Quách Tấn dịch  câu : Nam khứ Trường An thiên lý dư (Phía Nam ngàn dậm cách Trường An), thành Ngoảnh lại trời Nam khuất Đế thành không đúng. Vìông không nghĩ Vân Nam cách Trường An ngàn dậm. Nếu Trường An là Thăng Long hay Phú Xuân thì Nguyễn Du không thểở cách hơn ngàn dậm phía Nam. Bài Thu Chí câu : Tuyết ám cùng thôn hiểu giác ai (Tuyết xuống làng xa não tiếng tù)ông Phạm Khắc Khoan, Lê Thước dịch : Cõi sớm làng xa tuyết phủ đầy, thiếu tiếng tù nghe ai oán, não ruột và tù và là một nhạc khí thường dùng ở Vân Nam. Cảnh tuyết này không thểở vùng Quảng Tây được.
                Trang 105, 106 bài Thôn dạ Nguyễn Du viết ở Hồng Lĩnh câu :Niên niên kết đắc ngư tiều lữ – Ngư tiều là bạn quanh năm đó, Nguyễn Du đang đi giang hồ không thể kết bạn với ngư tiều quanh năm, bài Giang đầu tản bộ viết ở Quảng Bình : câu Bất tài đa khủng tốc quan phi- Bất tài quan vẫn sợ đơn sai, không hợp với thời đi giang hồ, chưa làm quan.
                Trang 111, 112 bài Pháo Đài : Nam Bắc xa thư khánh đại đồng – Nam Bắc mừng nay cuộc đại đồng, thống nhất Nam Bắc sau Trịnh, Nguyễn phân tranh,  trong Nam Trung Tạp ngâm, Nguyễn Du làm lúc làm quan Cai Bạ(Trấn Thủ) ở doanh Quảng Bình, chép vào cảnh lúc Nguyễn Du đi giang hồ ở Trung Quốc không đúng.
                Trang 116 bài , Thu dạ II Nguyễn Du trả lời họa bài Thu Vũ của Hồ Xuân Hương, Xuân Hương khóc khi nghe tin Nguyễn Du bị bệnh ba tháng cuối năm ở Hồng Lĩnh. (Xem Phạm Trọng Chánh. Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình Nguyễn Du - Hồ Xuân Hương site Vanhoanghean).
                Trang 123 Nguyễn Du đọc Kinh Kim Cương nghìn lượt (Bài Phân Kinh Thạch đài), vì thời bấy giờ, Lê QuýĐôn có viết quyển Kinh Kim Cương chú giải, được trí thức Bắc Hà yêu chuộng, được nhà chùa Thăng Long khắc bản in. Lê QuýĐôn nhà bác học, là một thần tượng thời bấy giờ, khi mất được chúa Trịnh để tang bãi chầu ba ngày, việc hiếm có. Nguyễn Du tất có bên mình quyển Kinh của Lê Quý Đôn chú giải. Trên bước đường giang hồ đi Trung Quốc, Nguyễn Du đọc kinh kim cương, nghìn lượt, tức là ba năm, ngày đi du lịch tối về một ngôi chùa trên đường đi tụng kinh làm công quả, nhà chùa thết đãi món chay rau đậu. Đây là một chi tiết khá thú vị.
                Trang 163, năm 1790, Nguyễn Du đọc Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ở Hàng Châu, lúc đó Nguyễn Du mới 24 tuổi, chưa đến tuổi « tam thập nhi lập ».
                Trang 170, Nguyễn Nể có hai lần đi sứ. Lần thứ nhất năm 1789 sứ bộ đầu tiên của Tây Sơn, Vũ Huy Tấn Chánh sứ, Nguyễn Nể làm Phó sứ. Vũ Huy Tấn đi sứ lần thứ nhất trở về, lại ở trong sứđoàn đi sứ lần thứ hai năm 1790. Theo học giả Thái Văn Kiểm, Nguyễn Nểđi sứ đến năm 1791 mới về,( trong bài Nguyễn Du đi sứ, Việt Nam Gấm Hoa, Làng Văn Canada xb 1797 tr 101). Khi sứ thần nhà Thanh sang Thăng Long phong vương cùng năm, có cả Nguyễn Nể vàĐoàn Nguyễn Tuấn tiếp rước, Đoàn giới thiệu với các sứ thần nhà Thanh : Quế Hiên Nguyễn Nể là đỉnh cao thi trận nước Nam. Lần thứ hai năm 1795 làm Chánh Sứ (Hành Khánh sứ) sang mừng lễ vua Càn Long truyền ngôi cho con là Gia Khánh. Có thểNguyễn Nể có trong sứ bộ năm 1790 do Phan Huy Ích làm Chánh sứ, cóĐoàn Nguyễn Tuấn, đoàn có 158 người, cóông vua Quang Trung giả do Phạm Công Trịđóng vai và hoàng tử Quang Thùy. Như thế Nguyễn Nể đi sứ ba lần chăng ?
                Nguyễn Công (con Nguyễn Khản) và Nguyễn Thiện (con Nguyễn Điều) có tham gia Sùng Chính Viện của Nguyễn Thiếp. Nguyễn Nhưng, đậu Tứ Trường đời Lê, đời Tây Sơn có ra làm Trấn Thủ Sơn Tây  thay thế Nguyễn Công Tấn thân phụ Nguyễn Công Trứ năm 1801. Nhà Nguyễn lên ông ởẩn làm nghề thuốc.
                Trang 171 Hai bài thơ Đoàn Nguyễn Tuấn tựa : Chí Hoàng Châu thích Nguyễn khế văn tự Yên Kinh hồi tẩu bút tặng chi. Đến Hoàng Châu thì vừa vặn gặp người bạn văn chương họ Nguyễn từ Yên Kinh trở về bèn phóng bút làm thơ tặng. Bài tựa chứng tỏ Nguyễn Du đã lên Yên Kinh và trở về. Sự kiện vua Lê Chiêu Thống và các quan lại đi theo muốn nhà Thanh làm áp lực để xin đất Thái Nguyên, Tuyên Quang mà không xin đất Cao Bằng như nhà Mạc, chứng tỏđã gặp cựu trấn thủ Thái Nguyên Nguyễn Đăng Tiến.
                Trang 178, Bài Lưu Biệt Nguyễn Đại Lang, đặt Nguyễn Du chia tay cùng Nguyễn Đại Lang tại Hoàng Châu không đúng vì có địa danh Liễu Cao Lâm. Liễu Châu ở vùng rừng cao nguyên, nơi sản xuất gỗ nam mộc đóng hòm rất tốt, giữ thi thể rất lâu (Trung Quốc có câu : sống ở Hàng Châu, cưới vợ Tô Châu, ăn ở Quảng Châu và chết ở Liễu Châu) Từ Vân Nam vùng núi, về đến Liễu Châu vùng cao nguyên, đến Quế Lâm là đồng bằng. Trong thơ Nguyễn Du, Tây phong thường ám chỉ quân Tây Sơn :  Vì quân Tây Sơn ra Bắc cho nên chúng ta lưu lạc nơi chốn rừng cao nguyên Liễu Châu, Tây phong qui tụ Liễu rừng cao. Ông Trương Chính trong Thơ  Chữ Hán Nguyễn Du. Nxb Văn Học 1965, vì không nghĩ đó là địa danh, nên cho rằng câu thơ không đúng cú pháp, ông chữa thành :Tây phong tiêu táp phất cao lâm, Gió Tây thổi qua ống tay áo phơ phất cành liễu. Ông Đào Duy Anh giữ nguyên nhưng dịch thành Rừng liễu ra về buổi gió Tây. Chữ ra về ngược lại với nghĩa chữ qui tụ.
                Trang 181, Đoàn Nguyễn Thục mất năm 1775, 57 tuổi, năm 1790 Đoàn Nguyễn Thị Huệ 16 tuổi, mồ cô cha lúc một tuổi, có thể con thứ thiếp, được anh cả Đoàn Nguyễn Tuấn nuôi dưỡng và kết hôn cùng Nguyễn Du năm 1796,  21 tuổi.
                Trang 214, cụ Đồ Diễn đã mất năm 1786, thọ 83 tuổi. Do đó năm 1790-1793 ba năm mối tình Hồ Xuân Hương – Nguyễn Du cụ Đồ Diễn không còn nữa. Hồ Xuân Hương nếu sinh năm 1772 lúc đó đã 18-21 tuổi  với tài hay chữ có thể đã dạy trẻ họ vỡ lòng. Văn bản Landes, Lê Quý chép thường tả Hồ Xuân Hương đi đâu cũng có 5, 7 đứa hầu gái, có lẽ là học trò. Làng Nghi Tàm sau khi cụ Đồ Diễn có Tử Minh tức Cả Tân học trò cụ Đồ Diễn dạy học, Tử Minh mất 40 tuổi năm 1811, Hồ Xuân Hương sau mười năm phong trần : Thập tải phong trần quán nhỉ linh, mười năm phong trần như ăn trộm bị tai đi trộm chuông (lấy lẽ Cai Tổng Cóc, trở về mở hiệu sách, rồi đi buôn, vì tình bất an vùng Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ do loạn Đặng Trần Siêu, VõĐình Lục thường chặn đường cướp bóc các thương nhân, nàng thôi đi buôn). Làng Nghi Tàm mời Xuân Hương  thay Tử Minh dạy học. Học trò các lớp thi Hương sang học với ông nghè Phạm Quý Thích. Nguyễn Thị Hinh tức Bà Huyện Thanh Quang, sinh sống cùng làng Nghi Tàm, học với Hồ Xuân Hương sau đó học với Tiến Sĩ Phạm Quý Thích cùng thời với Phương Đình Nguyễn Văn Siêu..
                Trang 234 : năm 1774 cụ Nguyễn Nghiễm cầm quân dẹp loạn vùng Hội An, điều này không đúng. Đó là cuộc chiến lớn chấm dứt Trịnh Nguyễn phân tranh sau hơn 200 năm. Nhân tại Phú Xuân Trương Phúc Loan chuyên quyền. Tây Sơn nổi dậy đánh phá chiếm từ Bình Định tới Diên Khánh. Chúa Trịnh Sâm biết như vậy bèn sai đại tướng là Hoàng Ngũ Phúc, cùng Nguyễn Nghiễm làm Tả Tướng quân đem thủy bộ 3 vạn quân cùng Hoàng Phùng Cơ, Hoàng Đình Thể, Hoàng Đình Bảo vào đất Bố Chính đểđánh họ Nguyễn, giả vào đánh Trương Phúc Loan. Các quan ở Phú Xuân bèn bắt Phúc Loan đem nộp. Nhà Trịnh thừa cơ chiếm lấy Phú Xuân, sai Nguyễn Hữu Chỉnh đem sắc phong cho Nguyễn Nhạc trấn thủ đất Quảng Nam. Các chúa Nguyễn,Thái Thượng Vương và Tân Chính Vương bị Nguyễn Huệđuổi bắt và giết chết, chỉ còn Nguyễn Ánh 17 tuổi chạy thoát. Trong trận này quân nhà Trịnh hàng ngàn người bị bệnh dịch cụ Nguyễn Nghiễm cũng nhiễm bệnh đưa về quê quán Tiên Điền dưỡng bệnh, năm 1776 cụ mất tại quê nhà.
                Trong tình hình đọc sách hiện tại trong nước và hải ngoại, mỗi người Việt Nam đọc không đến một quyển sách một năm, các nhà xuất bản tại hải ngoại chỉ sống nhờ sự hy sinh của tác giả, tự viết tự bỏ tiền in, không kể gì lời lỗ. Sách gửi đi các nơi không hy vọng gì thu tiền lại. Trong nước sách in được 1500 quyển như  Nguyễn Du trên đường gió bụi anh Hoàng Khôi là thuộc loại khá.Đáng cho chúng ta khuyến khích. Phải chăng vì thiếu sách hay, các nhà văn ngày nay không đủ sức hấp dẫn lôi kéo người đọc chăng. Nghĩ lại ngày xưa thời Tự Lực Văn Đoàn, Thơ Mới, những năm 1930-1940 mỗi năm người đậu Tú Tài chỉ vài chục người, người biết chữ quốc ngữ có là bao nhiêu trên 25 triệu dân thế mà sách  đã tạo ra những trào lưu văn học lớn mạnh. Ngày nay chúng ta có 90 triệu dân trong nước và 4 triệu người Việt hải ngoại, mà tình hình sách vở còn thua các nước nhược tiểu, nghĩ thật đáng buồn. Chúng ta không nâng cao được dân trí, mà dân trí lại thụt lùi.  Được một nhà văn như anh Hoàng Khôi, hy sinh thức đêm thức hôm để viết sách, để mua vui một vài trống canh, tôi mừng và mong có nhiều người như anh Hoàng Khôi. Đừng để các thế hệ mai sau không còn biết viết văn, biết đọc mà chỉ còn biết bấm mấy câu vớ vẫn trên điện thoại di động.
Paris 9-11-2013
PTC
*Tiến sĩ Khoa Học Giáo Dục Viện Đại Học Paris V