14 thg 11, 2013

Ba thi hào họ Nguyễn cùng chung một dòng máu: Nguyễn Trãi - Nguyễn Du - Nguyễn Đình Chiểu !


Thái Doãn Hiểu 
Mộ Nguyễn Bặc tại xã Gia Phương, Gia Viễn, Ninh Bình
Năm 1991, sau khi công bố phát hiện Vương Bột tử nạn nơi nào !? ở báo Văn Nghệ, nhà thơ Hữu Thỉnh lúc đó là Tổng biên tập của báo đến nhà chúng tôi ở Sài Gòn chơi, cùng tác giả nhấm nháp thành tích phát hiện ra mộ tổ của nền thơ Đường bất hủ. Đó là sự kiện làm “sửng sốt cả thế giới”
(chữ dùng của tạp chí Liêu Vọng, cơ quan văn hóa đối ngoại của Hội nhà văn Trung Quốc). Nhà thơ Hữu Thỉnh phát giác ra là tôi có bản Ba thi hào họ Nguyễn… và cứ đòi xin nằng nặc. Tôi thưa với Hữu Thỉnh là các luận điểm của tôi còn non, chờ cho một thời gian để nó cứng cáp đã. Nay đã trên 24 năm, vấn đề này đã ổn và chín, tôi xin thông báo với nhà thơ Hữu Thỉnh là tôi công bố đây. Độc Chiêu cuối cùng trong 5 phát hiện quan trọng của tôi đối với văn học Việt Nam và thế giới, mà chúng tôi đang dự định in thành sách:
Nguyễn Trãi 1380-1442
1. Phát hiện nơi tử nạn của Thi hào Trung Quốc Vương Bột đời Đường cách đây 1.300 năm
      trên biển Cửa Hội sông Lam, Nghệ An. Bài công bố trên báo Văn Nghệ số  - !991 của Hội Nhà văn Việt Nam.
2. Truyện Kiều là tự truyện tâm linh của Nguyễn Du.  Đăng trên Tạp chí Sông Hương số 11-2010
3. Làng Vạc - phế đô nước Âu Lạc. Đăng ở VanVN.net của Hội Nhà văn Việt Nam
4. Chu Thần Cao Bá Quát là cha đẻ của Phó vương Bắc Kỳ Hoàng Cao Khải. Đăng Tạp chí Sông Hương số 4-2013
5. Ba thi hào họ Nguyễn cùng mang một dòng máu Nguyễn Trãi - Nguyễn Du - Nguyễn Đình Chiểu. Đăng Tạp chí sông Hương số 11- 2013


Nguyễn Du 1766-1820
Để khỏi vòng vo Tam quốc mất thì giờ quý vị bạn đọc, và mọi người đỡ sốt ruột, tôi xin thưa ngay: Vị thủy tổ của ba thi hào họ Nguyễn : Nguyễn Trãi - Nguyễn Du - Nguyễn Đình Chiểu là  Thái tể triều Đinh, Định Quốc công Nguyễn Bặc.

Vậy, Nguyễn Bặc là ai ?

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Wikiphedia thì Nguyễn Bặc sinh năm 924 –15 tháng 10979 âm lịch là công thần khai quốc nhà Đinh, cùng với Đinh Điền giúp Đinh Tiên Hoàng đánh dẹp, chấm dứt loạn 12 sứ quân vào thế kỷ 10 trong lịch sử Việt Nam. Theo sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Nguyễn Bặc là người động Hoa Lư, châu Đại Hoàng, Ninh Bình. Từ thuở nhỏ, ông đã cùng kết bạn với Đinh Bộ LĩnhĐinh ĐiềnTrịnh Tú và Lưu Cơ.


Nguyễn Đình Chiểu 1882-1888
Khi Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn tử trận (965), các sứ quân nổi dậy. Anh em Nguyễn Bặc theo Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp. Theo thần phả, khi đánh dẹp một sứ quân mạnh là Nguyễn Siêu, Nguyễn Bồ và Nguyễn Phục cùng 2 tướng khác bị tử trận. Vạn Thắng Vương liền sai Nguyễn Bặc, Đinh Điền và Lê Hoàn mang quân đánh báo thù, kết quả diệt được Nguyễn Siêu (967).
Ngoài trận đánh Nguyễn Siêu, Nguyễn Bặc đóng góp nhiều công lao trong việc đánh dẹp các sứ quân, thống nhất toàn quốc dưới tay vua Đinh.
Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, tức là Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Bặc được phong làm Định quốc công, Đinh Điền được phong làm ngoại giáp. Chính sử không nói rõ nhưng các gia phả họ Nguyễn có giải thích thêm rằng: Nguyễn Bặc làm quốc công, coi việc nội giáp, tức là việc nội chính, còn Đinh Điền làm ngoại giáp coi việc bên ngoài.

·          
Theo các gia phổ họ Nguyễn và tài liệu “Lược sử họ Nguyễn tại Việt Nam”, Nguyễn Bặc được coi là bậc tiền thủy tổ họ Nguyễn ở Việt Nam. 


Sau khi vương quyền nhà Đinh mà Thái hậu Dương Vân Nga cùng quần thần chuyển giao sang tay họ Lê, Đinh Điền,  Nguyễn Bặc khởi binh đánh Lê Hoàn và cả hai vị khai quốc công thần này đều tử trận. Nguyễn Bặc có một  người con trai cả là Nguyễn Đê ở lại làm quan cho triều Lê Đại Hành. Cuối đời ông dời cư vào Gia Miêu  Thế thứ các đời họ Nguyễn ở Gia Miêu từ thế kỷ X sắp xếp như sau: Nguyễn Bặc : 1-Nguyễn Đê. 2-Nguyễn Viễn. 3- Nguyễn Phụng. 4- Nguyễn Nộn. 5- Nguyễn Thế Tứ. 6- Nguyễn Hoằng Du. 7- Nguyễn Biện. 8- Nguyễn Sử. 9-Nguyễn Công Duẩn (hay Chuẩn). 10- Nguyễn Đức Trung.


Muốn nghiên cứu nguồn gốc họ Nguyễn ở Việt Nam, chúng ta hãy tìm đến Gia Miêu ngoại trang, là cái nôi, nơi xuất phát điểm của nhiều dòng họ Nguyễn tỏa đi khắp nước.

Gia Miêu ngoại trang là một trang ấp có từ xa xưa. Trang là làng, ấp nhưng ở tiếp giáp với núi, nằm trong thung lũng nhỏ sông Tống Giang, có Long Khê chảy qua ở phía tây bắc huyện Tống sơn tức huyện Hà Trung, Thanh Hóa bây giờ, phía bắc Gia Miêu có rặnng núi Răng Cưa, nằm ở Bắc Thiên Tôn Sơn, ngọn núi thiêng của dòng họ Nguyễn. Gia Miêu là nơi tập kết an nghỉ của tổ tiên bao đời dòng họ Nguyễn sau khi tung hoành khắp bốn phương, tận trung báo quốc xây dựng và bảo vệ đất nước. Rặng núi Rặng Cưa phía bắc Thiên Tôn Sơn là biên giới tỉnh Ninh Bình và tỉnh Thanh Hóa. Phía Tây Gia Miêu cách 5 km là núi Thạch Thành nơi ngày xưa có một đồn binh gọi là Man Bảo (hay Vạn Bảo), nơi tận cùng phía đông mường Thạch Thành mà Nguyễn Biện (đời thứ7) đã xây dựng thành công 12 sơn động cuối đời Trần, làm hậu thuẫn căn cứ địa cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, trở thành rất nhiều khai quốc công thần kháng Minh thời Lê Lợi. ! Làng Mường này đến thời Pháp cai trị trở thành 37 làng Mường trực thuộc dòng lang cun Nguyễn Đình ở Quảng Tế. Vùng thung lũng này cao so với các cánh đồng trũng phía đông và nam, nên không bao giờ ngập lụt. Từ khi ngăn đập Bến Quân làm thủy lợi lấy nước suối Rồng thì vùng này phì nhiêu không thể thiếu nước

Gia Miêu là quê gốc của nhiều dòng họ Nguyễn. Từ xa xưa, nhiều người họ Nguyễn đã từ đây chuyển cư đi khắp mọi miền đất nước và thành lập những dòng họ rất lớn ở Bắc, Trung, Nam. Dòng họ ở đây là con cháu Định quốc công Nguyễn Bặc, nhưng từ đầu đời Lê đã tách ra làm ba họ Nguyễn : Họ Nguyễn Đình thờ vị tổ là Bình Ngô khai quốc công thần  Nguyễn Lý. Họ Nguyễn Hữu thờ vị tổ là bình Ngô khai quốc Công thần Nguyễn Công Duẩn. Dòng họ Nguyễn Văn thờ Thịnh Quận công Nguyễn Chữ. Vì họ to và họ xa phải tách ra làm ba họ Nguyễn để con cháu có điều kiện kết hôn với nhau. Trong làng còn có họ Mai là họ ngoại của họ Nguyễn. Từ xa xưa, đình làng Gia Miêu chỉ có thờ bốn vị tiên hiền là tổ của bốn vị tổ họ Nguyễn Hữu, Tổ họ Nguyễn Lý, Tổ họ Nguyễn Văn và Tổ họ Mai. Từ trước 1945, ở Gia Miêu  chỉ có 4 họ trên. Trong thời Nguyễn, không thể có họ nào khác lọt vào sống ở đây. (1)

Sử sách thường ghi Nguyễn Kim (1468-1545) - cha của chúa Nguyễn đầu tiên Nguyễn Hoàng – là danh tướng Việt Nam thời nhà Lê sơ và là người đặt nền móng cho sự thành lập nhà Lê trung hưng
Theo phả hệ họ Nguyễn Gia Miêu cho rằng Nguyễn Kim và Nguyễn Hoằng Dụ là anh em họ. Người sinh ra Nguyễn Kim là Nguyễn Văn Lưu, anh Nguyễn Văn Lang và bác Nguyễn Hoằng Dụ (đời thứ 6).


Sau khi tướng  Lê - Trịnh là Nguyễn Kim (2) chết do bị đầu độc bởi hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất, bộ tướng của ông lên thay là Trịnh Kiểm. Để diệt trừ hậu hoạ, Trịnh Kiểm giết Nguyễn Uông. Thấy anh trai bị hại, có ngày vạ lây, Nguyễn Hoàng nhờ chị gái là vợ Trịnh Kiểm nói khéo cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa, sinh ra chúa Nguyễn sau này.

Danh sách tổ tiên chúa Nguyễn nối đời là: Nguyễn Đức Trung  · Nguyễn Văn Lang  · Nguyễn Hoằng Dụ  · Nguyễn Kim  · Nguyễn Hoàng · Nguyễn Phúc Nguyên  · Nguyễn Phúc Lan  · Nguyễn Phúc Tần  · Nguyễn Phúc Thái  ·Nguyễn Phúc Chu  · Nguyễn Phúc Trú  · Nguyễn Phúc Khoát  · Nguyễn Phúc Luân.

*

Ở Gia Miêu, ông tổ của dòng Nguyễn Đình là Bình Ngô khai quốc công thần Nguyễn Lý. Cháu của Nguyễn Lý là Nguyễn Đình Thuận theo Chúa Tiên Nguyễn Hoàng di cư vào xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, Thừa Thiên.

Nguyễn Đình Chiểu nhà thơ lớn nhất của miền Nam nửa cuối thế  kỷ XIX xuất thân trong gia đình nhà nho là hậu duệ của 1 trong 3 họ Nguyễn Đình ở Phong Điền.(3) Cha ông là Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên; nay thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Theo gia phả của dòng họ Nguyễn Đình, ông tổ của họ theo chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào lập nghiệp tại nơi này. Lớn lên, ông Nguyễn Đình Huy cưới vợ ở đây và đã có hai con (một trai và một gái).Mùa hạtháng 5 năm Canh Thìn (1820) Tả quân Lê Văn Duyệt được triều đình Huế phái vào làm Tổng trấn Gia Định Thành. Đến đầu mùa thu, Nguyễn Đình Huy đi theo Tả quân, để tiếp tục làm thư lại ở Văn hàn ty thuộc dinh Tổng trấn. Ở Gia Định, ông Huy có thêm người vợ thứ là bà Trương Thị Thiệt, người làng Tân Thới, sinh được 7 con (4 trai, 3 gái), và Nguyễn Đình Chiểu chính là con đầu lòng.

Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 13 tháng 5 năm Nhâm Ngọ (1 tháng 7 năm 1822), tại quê mẹ là làng Tân Thới , phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (thuộc phường Cầu KhoQuận 1Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay). Năm 1854, Nguyễn Đình Chiểu cưới Lê Thị Điền (1835-1886, người làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc, trước thuộc Gia Định; nay thuộc tỉnh Long An) làm vợ. Bà Điền là em gái thứ năm của Lê Tăng Quýnh, học trò ông, vì cảm phục và mến thương thầy, đã xin gia đình tác hợp. Con của Nguyễn Đình Chiểu có tất cả là ba trai ba gái. Trong số ấy có nữ sĩ Sương Nguyệt Anh (con gái thứ tư) và Nguyễn Đình Chiêm (con trai thứ sáu) là người có tiếng trong giới văn chương, nối nghiệp cầm bút của cha.

 

Mộ Nguyễn Đình Chiểu (giữa), mộ vợ Lê  Thị  Điền (phải), mộ
Sương Nguyệt Anh (trái), đằng sau là đền thờ ở Ba Tri, Bến Tre.

*
Sau khi cha là Nguyễn Bặc tử nạn, trừ người anh cả Nguyễn Đê ở lại làm quan cho Lê Hoàn, còn người con thứ hai của Nguyễn Bặc là Nguyễn Thứ bất cộng đái thiên với triều đình mới nên dời cư về  huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang (nay thuộc Chí LinhHải Dương). Sau non bốn thế kỷ thì sinh ra Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi (1380–19/9/1442), quê gốc ở làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang. Ông là con trai của hàn sĩ Nguyễn Phi Khanh và bà Trần Thị Thái, là cháu ngoại của thân vương Trần Nguyên Đán. Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh năm 1400, ông từng làm quan dưới triều Hồ. Sau khi Việt Nam bị rơi vào sự cai trị của nhà Minh, Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống lại ách đô hộ nhà Minh. Ông trở thành mưu sĩ của nghĩa quân Lam Sơn trong việc bày tính mưu kế cũng như soạn thảo các văn thư ngoại giao với quân Minh. Nguyễn Trãi là khai quốc công thần và là văn thần có uy tín ở thời đầu nhà Hậu Lê. Tuy nhiên, năm


Đền thờ Nguyễn Trãi tại Côn Sơn, xã Cộng Hòa –
                                             huyện Chí Linh- Hải Dương



1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho ông. Nòi giống của Nguyễn Trãi còn sót lại từ  Anh Vũ – con bà Phạm Thị Mận
vẫn được duy trì phát triển. Năm 1969, khi khoa Văn Đại học Sư Phạm Vinh sơ tán về xã Quỳnh Thạch, Quỳnh Lưu, Nghệ An, lớp chúng tôi thường mượn nhà thờ họ Nguyễn làm nơi hội thoáng mát. Ông tộc trưởng cho biết chi họ của ông thuộc dòng Nguyễn Trãi, trực tiếp thờ ông tổ Anh Vũ. Trên đường Nguyễn Trãi kéo dài từ quận 1 đến quân 5 tp Hồ Chí Minh hiện có một nhà thờ lớn thờ Nguyễn Phi Khanh khá lâu đời, do con cháu Anh Vũ lập. Tôi có chơi thân với nhà thơ Nguyễn Phi Nguyện. Anh Nguyện thuộc dòng trực hệ Anh Vũ. Như vậy con cháu Nguyễn Trãi vẫn không bị tuyệt chủng.

Nguyễn Trãi là anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới.


*

Có một hậu duệ xuất sắc của Nguyễn Bặc thế kỷ XVI là Tướng quân Nguyễn Quyện. Nguyễn Quyện là người làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, xứ Sơn Nam, Hà Tây, nay thuộc Hà Nội. Ông cùng dòng họ với Nguyễn Trãi. Cha ông là Nguyễn Thiến (có chỗ ghi là Thuyến) đỗ trạng nguyên năm NhâmThìn niên hiệu Đại Chính Nhà Mạc 1532. Dưới triều vua Mạc Phúc Nguyên, Nguyễn Thiến giữ chức Thượng thư bộ Lại, tước Thư Quận công. Tướng Nguyễn Quyện được giao giữ vệ Phù Nam, tước Văn Thái hầu và là con rể Thái tể Lê Bá Ly. Tháng ba năm Tân Hợi, Lê Bá Ly đem 17.000 quân các đạo Tây Nam  sang hàng Lê thì Nguyễn Thiến và Nguyễn Quyện cùng đi theo. Nguyễn Thiến được vua Lê cho giữ nguyên chức tước. Tháng 8 năm Đinh Tỵ, niên hiệu Quang Bảo thứ tư  triều Mạc 1557, Nguyễn Thiến chết,  Nguyễn Quyện cùngg em là Nguyễn Miễn trốn về hàng vua Mạc Phúc Nguyên.

Trong trận chống nhau với vua Lê ở Hồ Trì tháng 9 năm Đinh Tỵ, Nguyễn Quyện đánh tan quân Lê do Vũ Lăng hầu  và Phạm Đức Kỳ chỉ huy, lập chiến công rực rỡ.

Tháng 6 năm Diên Thành thứ 9 năm 1574 vua Mạc Mậu Hợp sai tướng Nguyễn Quyện đánh Nghệ An, huyết chiến với tướng Lê Công Tích và Trịnh Mô (tức Nguyễn Cảnh Mô) vài tháng không phân thắng bại, lại rút quân về.

Ngày 6 tháng giêng năm Diên Thành thứ 10 năm 1575, Nguyễn Quyện lại cất quân tiến đánh Nghệ An giết được Lại Quốc công Phan Công Tích ngay giữa trận tiền ở Lèn Hai Vai, Diễn Châu.

Tháng 7 năm Diên Thành thứ 11 năm 1576, Nguyễn Quyện lại đánh vào Nghệ An, truy bắt sống được Tấn Quốc công Nguyễn Cảnh Mô (Trịnh Mô) ở núi Ngọc Sơn Thanh Hóa, giải về kinh sư.



               Nhà thờ Nguyễn Du ở Tiên Điền, Hà Tĩnh
 
Từ đó uy danh của Nguyễn Quyện.càng lẫy lừng. Đương thời coi ông là một danh tướng. Tháng 4 năm Đan Thái Nguyễn Quyện được vua thăng Thượng Đẳng Quốc công.

Mùa xuân ngày 6-1 năm Hồng Ninh thứ 3 năm 1592, khi kinh thành Thăng Long thất thủ, Nguyễn Quyện bị quân Trịnh bắt, được Trịnh Tùng biệt đãi. Ông than rằng “Ông tướng bại trận không thể nói mạnh được. Trời đất bắt Mạc suy thì dẫu anh hùng cũng khó ra sức”.

Sau khi vua Mạc Hồng Ninh  (Mạc Mậu Hợp) bị giết, Nguyễn Quyện và các con cháu phải khuất theo nhà Lê, nhưng không phục, tìm cách chống lại. Việc bại lộ, cả nhà cùng  bị thảm sát, chỉ có một người con trai của Nguyễn Miễn trốn thoát. Đó là Nam Dương hầu Nguyễn Nghiệm. Ông giong buồn vượt biển chạy trốn vào làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, giấu tên họ, tung tích, chỉ  gọi là ông già Nam Dương. Sau này, con cháu tập hợp lại thành chi phái họ Nguyễn Tiên Điền, tức là dòng họ của Đại Thi hào Nguyễn Du, tác giả Truyện  Kiều bất hủ. Danh nhân văn hóa thế giới.

 Tác giả gửi Quê Choa
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả




(1) Viết theo tài liệu Gia phả dòng họ Thái tể triều Đinh, Định Quốc công Nguyễn Bặc. Bộ thế phả do tiến sĩ Nguyễn Văn Lý (1795-1868) biên soạn.

(2) Nguyễn Kim được các vua nhà Nguyễn sau này truy tôn miếu hiệu là Triệu Tổ, thụy hiệu là Di Mưu Thùy Dụ Khâm Cung Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Khải Vận Nhân Thánh Tĩnh hoàng đế.

(3) Ban tu thư Tuyển tập Nguyễn Đình Chiểu có về xã Bồ Đề điều tra nhưng không ra manh mối gì cả.
tqs post ngày 14/11/2013





12 thg 11, 2013


(Nhà Xuất bản Văn Học. Hà Nội.  2013)
TS PHẠM TRỌNG CHÁNH
logobut2Có gì vui hơn, khi những thành quả nghiên cứu văn học của mình được bè bạn Hội Kiều Học trong nước hưởng ứng viết thành tiểu thuyết.  Nhận được sách anh Hoàng Khôi,  Nguyễn Du trên đường gió bụi với lời đề tặng: «Thân tặng anh Phạm Trọng Chánh. Cám ơn anh vì những bài viết của anh đã gợi ý nhiều và tạo cảm hứng cho tôi hoàn thiện cuốn sách này». Người viết vội vàng viết bài về quyển sách anh gửi tặng, giúp anh «nhặt sạn » những sơ sót trong lúc say sưa viết. Tiếc là không được đọc bản thảo lúc sách chưa ra đời để công trình anh được hoàn hảo hơn, thôi thì góp ý kiến để lần tái bản anh xem xét lại. Bài viết cũng trả lời các thắc mắc nhiều bạn khi thấy dàn bài sách anh Hoàng Khôi trùng hợp với tên tựa các bài tôi đã viết đăng trên nhiều site trong nước và hải ngoại, gửi Email hỏi tôi, mong rằng bài viết này giải toả các nghi ngờ về sách anh Hoàng Khôi.
Người nghiên cứu văn học sau bao năm tìm kiếm giải quyết những thắc mắc của  các học giảđi trước :  Tại sao Nguyễn Du có những bài thơ làm ở Trường An, Hàng Châu không nằm trên đường đi sứ năm 1813 ? Tại sao trong Thanh Hiên thi tập có các địa danh : Liễu Cao Lâm, Trường An, Giang Hán, Giang Bắc, Giang Nam, Nam Đài, Long Thủy, những địa danh ấy ởđâu ?Những người đi trước không nghĩ tới chỉ dịch phớt qua hay bỏ quên !   Nhân vật Nguyễn Đại Lang trong Thanh Hiên thi tập là ai ? Nguyễn Du trong thơ tiễn biệt có nói đã cùng kết nghĩa sinh tử, cùng tồn vong, chia tay tại đâu mà hẹn gặp lại tại Trung Châu ? Trung Châu là Hà Nội hay ở Trung Quốc. Nguyễn Du từ năm 1783 làm Chánh Thủ Hiệu Quân Hùng Hậu hiệu tại Thái Nguyên. Sách sử các tài liệu rãi rác : Nguyễn Khản làm Thượng Thư Bộ Lại kiêm trấn thủ Thái Nguyên, Hưng Hóa, Hoàng Lê Nhất Thống Chí có nói đến Cai Gia, tay giặc già, thuộc hạ của Nguyễn Khản nắm binh quyền tại Thái Nguyên. Lê Quý Kỷ Sự của Nguyễn Thu có nói đến cuộc khởi nghĩa tại Tư Nông của cựu Trấn Thủ Thái Nguyên Nguyễn Đăng Tiến, tước Quản Vũ Hầu, bị tướng Tây Sơn bắt giải về cho Vũ Văn Nhậm, Nhậm trọng khí khái dụ hàng, lại tha bổng cho phép muốn đi đâu thìđi. Gom lại các tài liệu, tôi tìm được một nhân vật, vừa là thầy, là anh kết nghĩa Nguyễn Du và cũng là Từ Hải, mở cách cửa  Nguyễn Duđã vào bước đường đi giang hồ khắp Trung Quốc thời thanh niên..
                Những chi tiết rành rành trong Thanh Hiên thi tập có những bài tả cảnh tuyết, núi non trùng điệp, lá vàng, trưởng giảăn mặc còn theo nhà Hán (không theo nhà Thanh để tóc bính đuôi sam, áo quần Mãn Châu), dân chúng theo lịch nhà Tần, xử dụng nhạc cụ« tù và » ? Nguyễn Du có hư cấu, ở Quỳnh Hải, Hồng Lĩnh theo sách vở mà tưởng tượng làm thơ, hay thơ chữ Hán Nguyễn Du là những trang nhật ký ?
                Tại sao Nguyễn Du có những câu thơ kỳ lạ : Tôi đọc kinh Kim Cương nghìn lượt ?. Muôn dậm mũ vàng chiều nắng xế ?  Giang Bắc, Giang Nam cái túi không ? Nguyễn Du làm gì màđọc kinh Kim Cương trong ba năm, đội mũ vàng nhà sưđi muôn dậm (khoảng 5000km), làm gì không tiền màđi hết các sông phía bắc đến sông phía nam Dương Tử Giang ? Nguyễn Du ởđâu mà cách Trường An ngàn dậm về phía Nam ?
Theo Nguyễn Hành, cháu Nguyễn Du, có viết ông có một cuộc đời giang hồ như cuộc đời làm quan : Giang hồ long miếu hai điều đủ, Thi họa cầm thư bốn nghệ tinh.
                Theo gia phả từ năm 1786 đến 1796 Nguyễn Du về quê vợ tại Quỳnh Hải, Thái Bình hợp cùng Đoàn Nguyễn Tuấn khởi nghĩa chống Tây Sơn.  Nhưng điều này không đúng vì từ năm 1788 Đoàn Nguyễn Tuấn ra làm quan Tây Sơn vàđi sứ trong đoàn 158 người năm 1790. Đoàn Nguyễn Tuấn có hai bài thơ viết tặng một văn nhân họ Nguyễn, gặp tại Hoàng Châu, Trung Quốc  vào mùa thu bàn luận về văn chương sôi nổi chuyện gì ?, Đoàn Nguyễn Tuấn phải lên Nhiệt Hà nơi vua Càn Long đang nghỉ mát ? Văn nhân họNguyễn đi xe song mã về Nam và hẹn gặp lại tại nước nhà vào mùa xuân. Trên đường đi cớ gì màĐoàn lại viết một bài thơ Vô Đề về Hồng nhan đa truân khi gặp một ca nhi hát cho sứđoàn tại bến sông Hán?.
                Mang những thắc  mắc bao nhiêu năm, năm 2009, tôi đi Trung Quốc qua những thành phố Nguyễn Du đi sứ và các địa danh trong thơ, tôi nghiên cứu, tham khảo sách vở từng con sông, từng hồ, từng thắng cảnh Nguyễn Du đãđi qua, tôi dịch lại toàn bộ thơ chữ Hán Nguyễn Du, do không nghĩ đến Nguyễn Du có một thời gian đi giang hồ tại Trung Quốc thời trẻ, những địa danh bị người đi trước không hiểu nên bỏ qua hay dịch sai vàtôi hoàn thành quyển Nguyễn Du mười năm gió bụi và mối tình Hồ Xuân Hương. Khuê Văn Paris Xb 2011. Và gần đây tôi viết thành nhiều bài nhỏđểphổ biến trên các báo điện tử.
                Nghiên cứu không phải là chuyện độc quyền của riêng ai, không phải chuyện người sau đánh đổ người trước để được nổi danh hơn mà  người đi sau nối tiếp người trước , làm giải quyết những nghi vấn còn tồn động, làm cho việc nghiên cứu ngày càng phát triển, sáng tỏ. Điều may mắn trong nghiên cứu về Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương tôi có dịp gặp gỡ bàn bạc với Giáo sư Hoàng Xuân Hãn và Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn.
                Những thắc mắc về Nguyễn Du tôi đã từng bàn với Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, từ những năm 1980 thuở còn thanh niên trong những lần tôi về nghỉ hè hàng tháng trời tại dã thự Cam Tuyền, tại Trouville bờ biển Normandie, Giáo sư khuyến khích, chỉ dẫn tôi những điều giáo sư nghi ngờ và chưa tìm ra câu giải đáp. Tôi mang nặng những lời hướng dẫn của giáo sư suốt mấy mươi năm, nên đọc lại, dịch lại từng câu từng chữ thơ chữ Hán, chữ Nôm Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du. Ở Paris mà nghiên cứu Văn Học Việt Nam quả thật là chuyện gàn, vì ban ngày nói tiếng Pháp, làm ăn sinh sống bằng tiếng Pháp, mà ban đêm cứ thao thức ngồi viết bằng tiếng Việt, dịch thơ tiếng Việt chữ Hán, chữ Nôm. Được tiếp xúc với kho tàng văn hóa Hán Nôm lưu trử tại Trường Viễn Đông Bác Cổ Paris, di sản cha ông mình nhiều quá, mà người nghiên cứu lác đác như lá mùa thu, vì việc làm chẳng ai trả lương, chỉ để tiêu khiển. Ngày xưa, tôi tò mò hỏi giáo sư Hoàng Xuân Hãn : Vì sao Bác tốt nghiệp trường Bách Khoa Paris, tốt nghiệp Kỹ sư Hầm Mỏ, Thạc Sĩ Toán mà lại dành cả đời đi nghiên cứu văn chương Việt Nam ? Bác trả lời :  « Việc ấy các anh em trẻ có nhiều sẽ làm giỏi hơn bác, nhưng kho tàng văn học Việt Nam nếu không ai làm, di sản tổ tiên sẽ mất đi rất nhiều ». Rồi từ lúc, ngồi trên ghế trường Bách Khoa Paris, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã viết tựđiển danh từ Khoa Học bằng tiếng Việt, đặt nền tảng cho việc giảng dạy tiếng Việt, chỉ một năm làm Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục và Mỹ Thuật, giáo sưđã đặt nền tảng cho Chương Trình giảng dạy bằng tiếng Việt còn tồn tại cho đến ngày nay. Trong tiếng súng chiến tranh Pháp Việt, giáo sư Dương Quảng Hàm lao vào cứu thư viện của mình và bị chết cháy. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn vẫn tiếp tục đi mua hàng gánh sách vở các đại gia bị con cháu đem bán làm giấy bổi, rồi mang nó ra xa nơi chiến tranh ngồi tiếp tục nghiên cứu, chẳng màng đến danh lợi.Bác Hãn viết sách cả đời, công sức nhưcả một Viện Văn Học nhưng không hề hưởng được một đồng nào do sách vở mang lại. Với địa vị, bằng cấp tại Pháp, Bác Hãn có thể trở nên giàu có, nhưng Bác biết dừng lại khi đã có đầy đủ và dành thì giờ nghiên cứu di sản tổ tiên.
Tôi vốn nặng nợ với nghiệp văn chương, thuở học trung học đã làm thơ viết báo, nhiều khi tự nhủ lòng : Trang Tích xưa khi bệnh mới rên bằng tiếng Việt, chứ tôi đi du học từ năm 19 tuổi, mà cứ rên bằng tiếng Việt suốt hơn 43 năm. Thôi thì như Tú Xương : Một chè, một rượu, một đàn bà.. mình thì chẳng rượu chè, cờ bạc chỉ mê có cô Hồ Xuân Hương và cô Kiều..
                Công trình Nguyễn Du, mười năm gió bụi và mối tình Hồ Xuân Hương sau khi hoàn thành từ Paris năm 2011, tôi gửi sang Moscou tặng Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn trong những ngày cuối đời, giáo sư cho biết bị phong thấp tê liệt cả nửa người, chỉ còn một tay gỏ chữ, bao ngày tháng trông đợi, thường xuyên viết Email hỏi thăm khuyến khích, không có quyển Hoàng Lê Nhất Thống Chí tại Moscou, Giáo sư nhờ môn sinh từ trong nước gửi qua, cầm quyển sách trong tay, giáo sưđánh Email hỏi gấp : Cai Gia ở trang mấy, anh nói gấp cho tôi biết,  giáo sư rất vui khi đọc được những khám phá mới của tôi về Nguyễn Du, nhất là về Cai Gia Nguyễn Đại Lang sẽ mở ra cánh cửa về cuộc đời giang hồ của Nguyễn Du và Giáo sưvui vẻ nói rằng khám phá này rằng « sẽ làm mưa làm gió »… không ngờđây  là quyển sách cuối cùng Giáo sưđọc trước khi nhắm mắt lìa đời.
                Được Giáo Sư Nguyễn Văn Hoàn, vốn đã quen biết từng sang chơi Paris hơn 30 năm, nay là Chủ Tịch Hội Kiều Học, mời tham gia Hội Kiều Học vừa mới thành lập, nay được anh Vũ Ngọc Khôi, một hội viên Kiều Học viết chuyện Mười năm gió bụi của Nguyễn Du thành tiểu thuyết còn gì vui hơn. Hy vọng có một đạo diễn tài ba, một nhà sản xuất phim, một nhà viết kịch bản phim..sẽ có cảm hứng làm phim truyện nhiều tập về Nguyễn Du – Hồ Xuân Hương chắc chắn sẽ ăn đứt các bộ phim Trung Quốc – Hàn Quốc, sẽ phục hưng văn hóa Việt đánh bạt được các ảnh hưởng văn hóa tình cảm lẩm cẩm, giúp cho giới trẻ Việt Nam biết lịch sử Việt Nam nhiều hơn là sử Trung Quốc,  Hàn Quốc. Hàn Quốc đã làm được bộ phim Xuân Hương, một truyện thơ hàng đầu của Triều Tiên, còn Việt Nam chờ đến bao giờ ?
                Mơ ước nhiều, nhưng trước tiên đề nghị với anh Hoàng Khôi, xây dựng lại quyển tiếu thuyết hoàn hảo hơn,  và mắc các sự kiện trên chiếc đinh lịch sử vững chắc.
                Trước tiên, đểđóng những chiếc đinh sự kiện vào lịch sử, cần tóm lược các sai lầm năm tháng trong  Thanh Hiên thi tập, và mười năm gió bụi. Thời gian các tài liệu cũ dựa theo gia phả cho rằng Nguyễn Du theo vua Lê Chiêu Thống không kịp vềẩn lánh quê vợở Quỳnh Hải, hợp cùng Đoàn Nguyễn Tuấn chống Tây Sơn 1786-1796 và từ 1796-1802 là thời kỳ dưới chân núi Hồng, Vợ chết năm 1796, Nguyễn Du cõng con Nguyễn Tứ về Hà Tĩnh, làm Hồng Sơn Liệp Hộ. Năm 1802 Nguyễn Du đón đường vua Gia Long tại Hà Tĩnh dâng sớ và được đưa ra Bắc phong làm Tri huyện Phù Dung trấn Sơn Nam.
Cách chia này không đúng vì có các mâu thuẩn : Ngược lạiĐoàn Nguyễn Tuấn ra làm quan Tây Sơn. Bài thơ Quỳnh Hải Nguyên tiêu :  Nguyễn Du hạnh phúc bên vợ : Nguyên dạ không đình nguyệt mãn thiên, Trăng sáng đầu xuân tỏa ngập tràn., và mình đã trải qua chân trời góc biển đến 30 tuổi. Các tài liệu cũ không biết vợ Nguyễn Du tên gì, không biết năm sinh, làm sao biết năm mất ? Tại Hồng Lĩnh, Nguyễn Du bị tù, Trấn thủ Nguyễn Văn Thận giữ vững Hà Tĩnh cho đến năm 1802, Nguyễn Du không thể chiêu tập thủ hạ và không thểcó lương thực, bò, ngựa để dâng vua Gia Long. Ngườiđã làm quan được mời ra (cùng Nguyễn Thiếp) năm 1802 và đi theo vua Gia Long từ Phú Xuân ra Bắc là Nguyễn Nể chứ không phải Nguyễn Du. Bài thơ Chí Hiên tặng của Nguyễn Du lưu trong Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương ,  có hai câu : Ra Bắc phen này mong nổi việc, Vào Nam ngẩm trước cũng hoài công . Chứng tỏ Nguyễn Du không tìm được ai ủng hộ mình tại Hà Tỉnh  (Tụđầu nan đắc thường thanh mục – Họp bạn khó tìm người mắt biếc) Hà Tĩnh trải qua cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quýnh, làng Tiên Điền bị làm cỏ, không ai còn muốn phiêu lưu chống Tây Sơn,(Tiếu đề tuẫn tục can qua tế – Khóc cười thời loạn theo trần thế. Tạp thi II). Nguyễn Du không thểở lại dạy học vì người bạn thân là Thực  Đình dạy học cũng không sống nổi, cái tên Thực Đình tự cười mình, nói lên số phận chỉăn no khi cóđám tiệc ởđình làng. Nguyễn Du thất bại, bị tù tại Hà Tĩnh, mới ra trở lại Thăng Long, thì Hồ Xuân Hương đãđi lấy chồng thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm. Nguyễn Du về Quỳnh Hải cưới vợĐoàn Nguyễn Thị Huệ, do hai ông anh Nguyễn Nể – Đoàn Nguyễn Tuấn thu xếp năm ấy Nguyễn Du 30 tuổi. Tại Quỳnh Hải Nguyễn Du dạy học văn võ, chiêu tập thủ hạ, hoàn tất Truyện Kiều, làm ăn khấm khá mới có bò ngựa lương thực dâng vua Gia Long. Từ Quỳnh Hải, Nguyễn Du dẫn thủ hạđi không xa đến Phù Dung cùng trấn Sơn Nam, thì gặp vua Gia Long, vua phong ngay làm Tri huyện tại đây cho nên có danh hiệu là Phi Tử.  Nguyễn Nể cũng được vua Gia Long để lại Bắc Hà  giúp  Tổng Trấn Nguyễn Văn Thành các nghi lễ cho sứđoàn do Binh Bộ Thượng thư Lê Quang Định làm Chánh sứ  xin nhà Thanh phong vương và đổi quốc hiệu là Nam Việt, nhưng không giữ chức vụ gì. Nguyễn Nể không bị Đặng Trần Thường đem ra Văn Miếu đánh đòn như Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích, Nguyễn An Lịch.. nhưng năm 1805 về Hà Tỉnh thì bị tri phủ Trần Văn Chiêu tuy bức, ông uất ức mà chết.  Nguyễn Du vợ mất năm 1804 để lại một con Nguyễn Tứ.
                                                                NIÊN BIỂU NGUYỄN DU
1766. Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu, tính ra dương lịch là ngày 3-1-1766, mới đúng. (Các tài liệu cũ đều lầm lẫn khi viết Nguyễn Du sinh năm 1765).
1771  Cha là Nguyễn Nghiễm xin về hưu trí sĩ, được gia thăng chức Đại Tư Đồ. Chúa Trịnh cấp cho xe bồ, ngựa tứ và thuyền hãi mãđưa về làng. Nguyễn Du theo cha về. Nguyễn Nghiễm lại được gọi ra làm quan Tham Tụng.
1774. Nguyễn Nghiễm được sung chức Tả Tướng cùng Hoàng Ngũ Phúc đánh Chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
1776 Nguyễn Nghiễm bị nhiễm bệnh dịch cùng hàng ngàn quân sĩ, đưa về quê dưỡng bệnh và mất tại Hà Tĩnh 7 tháng 11 Ất Mùi (7-1-1976). Được truy tặng tước Huân dụ Đô hiến đại vương, Thượng đẳng phúc thần.
1778 Bà Trần thị Tần (1740-1778) mẹ Nguyễn Du qua đời ngày 20-7-1978.
1780 Trong vụ án Canh Tý. Anh cả Nguyễn Khản (1734-1786) thầy dạy Trịnh Tông bị khép tội mưu loạn cùng Trịnh Tông, được tha chết nhưng bãi chứcx, giam ở nhà Châu Quận công. Nguyễn Du về Tiên Điền học với chú Nguyễn Trọng.
1782.Chúa Trịnh Sâm mất, Trịnh Tông nối ngôi Chúa, cử Nguyễn Khản làm Thượng Thư bộ Lại, tước Toản Quận công.
1783 Nguyễn Du thi Hương ở trường Sơn Nam, Nam Định đậu tam trường. Nguyễn Khản thăng Thiếu Bảo, cuối năm thăng Tham Tụng kiêm trấn thủ Hưng Hóa, Thái Nguyên. Cử Nguyễn Du làm Chánh Thủ Hiệu quân Hùng Hậu Hiệu cai quản đội quân tinh nhuệ nhất Thái Nguyên. Cai Gia Nguyễn Đăng Tiến tước Quản Vũ Hầu vốn là tay giặc già, phản Thanh phục Minh Trung Quốc, gốc người Việt Đông, là tân khách (thủ hạ) dưới trướng, thầy dạy võ cho Nguyễn Du và các anh em được giao quyền Trấn thủ Thái Nguyên, nơi có nhiều người Trung Quốc sang khai mõ bạc. Nguyễn Nể(1761-1805) đỗ tứtrường trường thi Hương Phụng Thiên, Hà Nội, Nguyễn Khản phong làm Cai quản đội quân Phấn Nhất trong phủ Chúa.
1784 Nhân vụ 7 kiêu binh bị nhà chúa giết vì bữa tiệc  vua Lê đãi kiêu binh có công phò Hoàng Tự Tôn Lê Duy Kỳ từ trong tù ra, kiêu binh nổi loạn đốt phá dinh thự Bích Câu. Nguyễn Khản chạy trốn lên Sơn Tây vớiem Nguyễn Điều (1745-1786), trấn thủ Sơn Tây, Nguyễn Nể phụ tá làm Hiệp tán Nhung vụ,họtoan hợp quân các trấn về đánh kiêu binh, nhưng kiêu binh giữ chặt chúa Trịnh Tông, âm mưu bất thành. Kiêu binh áp lực bãi chức Nguyễn Khản vàgiáng chức Nguyễn Điều, hai người về Hà Tĩnh. Nguyễn Điều về huyện Thanh Chương lập nhà ở đấy, khi nghe nhà Trịnh mất ông uất ức mà chết năm 1786.
1786 Tây Sơn ra Bắc,  Nguyễn Khản từ Hà Tỉnh  theo ghe mành ra Bắc  giúp chúa Trịnh chủ trương đóng quân theo lối vẩy sộp(theo Lê Quý Kỷ sự) , nhưng kiêu binh vu cáo ông rước giặc Tây Sơn  về. Nguyễn Khản phải bỏ chạy, ông mất trong hoàn cảnh đó, thi hài được đưa về an táng tại Hà Tĩnh.
1787 Nguyễn Du, Nguyễn Quýnh cùng Cai Gia Nguyễn Đăng Tiến, quyền trấn thủ Thái Nguyên khởi nghĩa tại Tư Nông thất bại, bị bắt và cùng được Vũ Văn Nhậm tha chết, họ đi sang Vân Nam. Nguyễn Quýnh quay trở về Hồng Lĩnh khởi nghĩa bị bắt và bị giết năm 1791 tròn 30 tuổi,  dinh thự và làng Tiên Điền bị đốt sạch.
1787-. Đến Vân Nam, Nguyễn Du bị bệnh ba tháng mùa xuân. Hết bệnh họđi Liễu Châu và chia tay, Nguyễn Đại Lang về thăm quê nhà vùng Quế Lâm, cao sơn lưu thủy. Nguyễn Du đi giang hồ ba năm ở Trung Quốc trong áo mũ nhà sư mang danh Chí Hiên, từ Quảng Tây theo thuyền đi dọc sông và Hồ Động Đình đến Hán Khẩu, rồi theo sông Hán rồi lên Trường An viết bài Dương Quý Phi, Bùi Tấn Công mộ, Phân Kinh thạch đài, rồi lại theo kinh Đại Vận Hà đến Hàng Châu .
1790 Tại Hàng Châu Nguyễn Du cư ngụ tại chùa Hổ Pháo bên Tây Hồ, nơi Từ Hải tức Minh Sơn Hoà thượng từng tu hành, trước khi đi giang hồ thành cướp biển. Tại đây Nguyễn Du có được bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Gặp lại Nguyễn Đại Lang tại miếu Nhạc Phi cũng bên cạnh Tây Hồ,( nơi đây Nguyễn Du viết 5 bài thơ, một bài Nhạc Phi hai bài Tần Cối và hai bài Vương Thị), sau đó hai người đi Yên Kinh (gặp vua Lê Chiêu Thống), trở về Hoàng Châu thì gặp Đoàn Nguyễn Tuấn sứ đoàn Tây Sơn tại một lữ quán, gặp bạn văn chương, Nguyễn Du bàn chuyện sôi nổi về Hồng nhan đa truân. Đoàn Nguyễn Tuấn viết hai bài thơ tặng văn nhân họ Nguyễn. Nguyễn Du về Long Châu và trở về Thăng Long.
1790-1793. Nguyễn Du về ở với anh Nguyễn Nể, đang làm quan Tây Sơn tại Bắc Thành giữ chức Hàn Lâm thị thư, sung chức Phó sứ tuế công, năm 1791 đi sứ về, đã xây dựng lại một phần dinh thự Bích Câu, tại đây Nguyễn Du nghe cô Cầm, người nhạc nữ cũ cung vua Lê đánh đàn. Nhưng Nguyễn Du thường ở gác tía, nơi câu cá anh Nguyễn Khản cạnh đền Khán Xuân, tại đây Nguyễn Du quen biết Xuân Hương Hồ Phi Mai, mối tình ba năm.
1794. Nguyễn Nể được triệu về Phú Xuân thăng chức Đông Các Đại Học Sĩ, gia tăng Thái Sử Tả Nghị Lang, chức vụ thầy dạy vua Cảnh Thịnh. Nguyễn Nể giao phó cho hai em Nguyễn Du và Nguyễn Ức tiền bạc để về Tiên Điền xây dựng lại từ đường và làng Tiên Điền. Về Phú Xuân, quyền hành nhà Tây Sơn trong tay Thái sư Bùi Đắc Tuyên, cậu vua Cảnh Thịnh, Thái sưđày Quân sư Trần Văn Kỷ ra Hoàng Giang làm lính thú. 1795  Nguyễn Nể xin ra Quy Nhơn vừa mới lấy được từ vua Trung Ương  Nguyễn Nhạc, trấn đóng để tránh xa xung đột triều đình, cuối năm được cử làm Chánh Sứ (Hành Khánh Sứ) lễ bộ mừng lễ truyền ngôi vua Càn Long cho vua Gia Khánh.
1794-1796. Nguyễn Du về Tiên Điền, bị bệnh ba tháng cuối năm. Ở nhà cạnh  Giang Đình bến sông để tiếp nhận  mua gỗđá, vật liệu chỡ bằng thuyền.  Nguyễn Ức vẽ kiểu và chỉ huy thợ xây cất. Nguyễn Du trao đổi thơ với Hồ Xuân Hương. Nguyễn Du đi săn làm Hồng Sơn liệp hộ. Nguyễn Du có vào Phú Xuân thăm anh và nhận một món tiền khác.
1796. Công việc xây dựng tạm xong. Nguyễn Du làm Nam Hải Điếu đồ, người đi câu biển Nam Hải toan theo thuyền về Nam. Lúc này chúa Nguyễn Ánh đãđánh chiếm đến thành Diên Khánh (Nha Trang). Nguyễn Du bị quận công  Nguyễn VănThận trấn thủ Hà Tĩnh bắt giam mười tuần. Nguyễn Du trở ra Thăng Long thì hay tin Hồ Xuân Hương đãđi lấy chồng thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm. Nguyễn Du viết hai bài thơ ký tên Chí Hiên oán trách nàng tệ bạc. Hồ Xuân Hương vẫn trân trọng chép trong Lưu Hương Ký. Nguyễn Du sang nhàĐoàn Nguyễn Tuấn, anh Nguyễn Nể  cũng vừa đi sứ về được thăng chức Hữu Trung Thư, chức vụ quân sư cho vua Cảnh Thịnh, trước biến loạn triều đình Nguyễn Nể xin ra xây dựng Phượng Hoàng Trung Đôở Nghệ An thay Trần Quang Diệu.
1797-1801  Nguyễn Nể cùng Đoàn Nguyễn Tuấn tác thành hôn nhân cho Nguyễn Du cùng Đoàn Nguyễn Thị Huệ và giao cho gia trang ở Quỳnh Hải. Từ đây Nguyễn Du có vợ con sống hạnh phúc chấm dứt cuộc đời gió bụi. Nguyễn Du hoàn tất Truyện Kiều, dạy văn, dạy võ chiêu tập thủ hạ tại Quỳnh Hải.
1801 Nguyễn Nểđược lệnh vua Cảnh Thịnh đưa La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp vào chầu, còn ở Phú Xuân thì kinh đô thất thủ. Nguyễn Nể và La Sơn Phu Tử được vua Gia Long gọi ra. Nguyễn Nể dâng sớ được trọng dụng khen thưởng và cho theo xe vua ra Bắc chỉ dẫn nghi lễ cho sứđoàn ngoại giao Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức đi sứ. Nguyễn Thiếp được cho về quê quán.
1802. Vua Gia Long ra Bắc truy lùng vua Tây Sơn Cảnh Thịnh. Nguyễn Du dẫn học trò, tráng đinh mang lương thực, bò, ngựa từ Quỳnh Hải đón đường đi gặp Vua Gia Long, đến huyện Phù Dung thì gặp vua, vua phong ngay làm tri huyện Phù Dung. Việc này tương tự với Phi Tử đời Chiến Quốc  dâng ngựa cho vua Chu Hiếu Vương được chức Phụ Dung, nên Nguyễn Du có danh hiệu là Phi Tử, Nguyễn Hành bài Đi Săn có nhắc đến danh hiệu này.
1803. Làm Tri huyện được mấy tháng nhờ tài nói lưu loát ngôn ngữ Trung Quốc trong thời gian đi giang hồ và tài năng ứng đối thi ca. Nguyễn Du được thăng Tri phủ Thường Tín lên Lạng Sơn đặc trách tiếp sứ sang phong vương cho vua Gia Long cùng Tri phủ Thượng Hồng Trần Quý Chuyên.Tri phủ Thiên Trường Ngô Nguyên Viễn, Tri phủ Tiên Hưng Trần Lưu. Thơ tống tiễn do Nguyễn Du viết.
1804. Xong việc ngoại giao tiếp sứ, Nguyễn Du trở về Thường Tín, vợ mất để lại một con Nguyễn Tứ. Nguyễn Du cáo bệnh xin nghĩ một tháng về quê. Nguyễn Du tìm về Cổ Nguyệt Đường mong nối lại duyên xưa thì Hồ Xuân Hương đang làm lẽ Cai Tổng Cóc Nguyễn Công Hòa ở Vĩnh Yên, nàng đau ốm tâm sự như nàng Tiểu Thanh. Bên song cửa Nguyễn Du viết bài Độc Tiểu Thanh Ký gửi Hồ Xuân Hương và tự hỏi : Ba trăm năm lẽ nữa ai khóc người phẩm hạnh cao quý như nàng Tiểu Thanh. Đó là lý do bài Độc Tiểu Thanh Ký nằm cuối Thanh Hiên thi tập., và hai chữ tố như chỉ có nghĩa là người phẩm hạnh cao quý như thế (như nàng Tiểu Thanh).
1805 Nguyễn Du được thăng Đông Các học sĩ, hàm ngũ phẩm, tước Du Đức hầu vào nhậm chức ở kinh đô Phú Xuân.Chức vụ dâng sách cho vua Gia Long đọc mỗi ngày. Nguyễn Nể về quê bị Tri phủ Trần Văn Chiêu truy bức ông uất ức mà chết.
1807 Làm giám khảo trường thi Hương, Hải Dương.
1808 Mùa thu, xin về quê nghỉ.
1809 Đầu năm được bổ làm Quan Cai Bạ (Trấn thủ) doanh Quảng Bình, một trong bốn doanh đất kinh kỳ,  hàm tứ phẩm.
1812 Cuối năm Nguyễn Du xin về quê xây mộ cho anh Nguyễn Nể, được hai tháng thì có chiếu chỉ triệu vào kinh.
1813 Thăng Cần Chánh điện học sĩ và được cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc. viết Bắc Hành tạp lục.
1815 Thăng Hữu Tham tri Bộ Lễ hàm Tam phẩm.
1816 Kết thúc vụán Nguyễn Văn Thuyên. Trung Quân thống lĩnh toàn quân đội Nguyễn Văn Thành tự tử. Anh rễ Nguyễn Du, Tiến sĩ Vũ Trinh thầy dạy Nguyễn Thuyên bị giam hậu và đày đi Quảng Nam 12 năm. Vụán Binh bộ Thượng ThưĐặng Trần Thường, vụán Trần Phúc Hiển chồng Hồ Xuân Hương.
1818. Trần Phúc Hiển bị xử tử,  Hiệp trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán, thi tướng Tao Đàn Cổ Nguyệt Đường chết, có lẽ tự tử.
1819 Được cử làm Đề Điệu Trường Thi Quảng Nam, Nguyễn Du dâng biểu cố từ được vua chuẩn y.
1820. Gia Long mất, Minh Mệnh lên ngôi cử Nguyễn Du làm Chánh sứ đi báo tang và xin thụ phong; Chưa kịp đi thì bị bệnh dịch mất ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn tức ngày 16-9-1820. Ngô Thời Vị làm Chánh sứ thay thế.  Thi hài  Nguyễn Du được an táng đồng Bầu Đá, xã An Ninh, huyện Quảng Điền Thừa Thiên. Năm 1924 con là Nguyễn Ngũ cải táng đưa về làng Tiên Điền.
                                ĐÍNH CHÁNH NHỮNG SƠ SÓT
                Đọc sách anh Hoàng Khôi, tôi xin nhặt ra những sơ sót, và bổ túc thêm những chi tiết, mong rằng anh sẽ chữa lại , mài dũa thêm viên ngọc quý để trở thành một tác phẩm hoàn hảo tuyệt tác, nếu có thì giờ viết thành kịch bản truyện phim cũng nên.
                Trang 14, Trấn Sơn Nam thời Lê, đến đời Gia Long được chia làm Sơn Nam Thượng đặt trị sở tại Châu Cầu. Sơn Nam Hạ đặt trị sở tại Nam Định.  Sang năm 1831 đời Minh Mạng  chia Sơn Nam Thượng gồm hai tỉnh Hà Nội và tỉnh Hưng Yên. Sơn Nam Hạ chia làm hai  tỉnh Nam Định và Thái Bình.
Đời Gia Long, Bắc Thành có 11 trấn : gồm 5 nội trấn là Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương, Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ. 6 ngoại trấn là : Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hưng Hóa, Yên Quảng. Ngoài ra có hai đạo Thanh Bình (Ninh Bình) và Hoà Bình và phủ Hoài Đức gồm Thăng Long và vùng phụ cận. Do đó Ninh Bình và Thăng Long đời Gia Long về trước, không thuộc về Sơn Nam.
                Trang 18. Bà Đặng Thị Thuyết (không phải Tuyết) sinh mẫu Nguyễn Điều, em bà chánh thất Đặng thị Dương. Bà Nguyễn Thị Xuân quê Bắc Ninh, sinh mẫu NguyễnTrứ, Nguyễn Nghi  thay vì bà Hồ Thị Ngạn ( là sinh mẫu Nguyễn Nhưng, thay vì Nguyễn Nhung).
                Mẹ Nguyễn Du là Trần Thị Tần, con người thuộc hạ làm chức Câu kế lo việc kế toán, quản gia cho cụ Nguyễn Nghiễm, quê làng Hoa Thiều họ này có hai người đỗ Tiến Sĩ, bà Tần là vợ thứ ba có con đông nhất (Nguyễn Trụ, Nguyễn Nể, Nguyễn Thị Diên, Nguyễn Du, Nguyễn Ức) . Do đó tôi nghĩ mẹ Nguyễn Du là người có thế lực trong gia đình, chứ không phải là mối tình qua đường, số phận người hầu, con mọn như anh Hoàng Khôi viết ? Theo phong tục ngày xưa bà chánh thất thường do cha mẹ hỏi cưới để làm dâu phụng thờ cha mẹ, cai quản gia trang nguyên quán, bà thứ hai do bà cả cưới cho chồng, thường là em hay họ hàng của mình để « làm bạn » cho mình. Bà ba là người được chồng lựa chọn, theo chồng đi khắp các nơi trấn nhậm và được chồng yêu thương nhất, có nhiều quyền hành nhất và có con đông nhất. Cụ Nguyễn Nghiễm có tám bà vợ và 21 người con.  Thường các gia đình quan lớn ngày xưa, bà chánh thất giữ sổ sách kế toán và tiền bạc cho một gia trang khoảng 50 người, vừa các bà, con cái người hầu, người bảo vệ, tân khách, thầy dạy văn, dạy võ…. Trong trường hợp bà cả quê mùa không biết tính toán mới có người làm câu kế.
                Trang 30. Nguyễn Du không thể về  Hải An, Quỳnh Hải học với cha vợ là Đoàn Nguyễn Thục năm 1782, năm Nguyễn Du 16 tuổi vì ông Đoàn Nguyễn Thục sinh năm 1718 và mất năm 1775. Thời gian 1780-1782 Nguyễn Khản bị phải vụ án Trịnh Tông, nên bị giam lỏng, chúa nghĩ tình bạn cũ tha không giết, do đó Nguyễn Khản không thể cưới vợ cho em, người trụ cột trong gia đình như thế, thì còn vui gì mà lấy vợ. Nguyễn Du về Hồng Lĩnh học với chú là Nguyễn Trọng. Trong bài thơ Tặng Thực Đình năm 1794 có câu :La Thành nhất biệt thập niên thâm. Một biệt La Thành đã chục năm. Nguyễn Du có bạn ở thành Nghệ An trước năm 1783, sau đó Nguyễn Du ra thi Hương trường Sơn Nam, Nam Định, đỗ Tam Trường.(đỗ trường  thi, phú, chiếu-biểu và hỏng kỳ tứ trường thi văn sách).Năm 1783 Nguyễn Du không thể vừa trấn đóng Thái Nguyên, vừa ở quê vợ Quỳnh Hải ?
                Trang 98 bài biệt Nguyễn Đại Lang : hai câu : Tống quân quy cố khâu, Ngã diệc phù Giang Hán.(Tiễn anh về quê cũ, Tôi sang sông Hán đây) Nguyễn Du tiễn Nguyễn Đại Lang về quê cũ vùng Quế Lâm nơi cao sơn lưu thủy, vùng Việt Đông nơi quê hương người Choáng,(Tráng) người Việt cổ thời Việt Vương Câu Tiễn và Triệu Đà, ngày nay còn 15 triệu người vẫn còn giữ tiếng nói. Và cho biết mình sẽ sang sông Hán đểđi Trường An. Giáo sư Nguyễn Huệ Chi dịch thành : Tiễn anh về núi cũ, tôi cũng trẩy sang sông, bỏ sót mất địa danh  Giang Hán.
                Hai câu : Sinh tử giao tình tại, Tồn vong thổ tiết đồng cho biết Nguyễn Du có kết nghĩa sinh tử với Nguyễn Đại Lang, cùng khởi nghĩa bị bắt và được tha.
                Trang 109, 114,115 hai bài Sơn Thôn và Sơn Cư Mạn Hứng tả cảnh Vân Nam :nơi non sâu lớp lớp, Trưởng giả còn ăn mặc theo nhà Hán, ở trong núi (lịch theo Tây Tạng) không theo lịch nhà Tần. Phạm Tú Châu dịch áo mũ người già, và lịch năm trong túi không đúng.  Ông Quách Tấn dịch  câu : Nam khứ Trường An thiên lý dư (Phía Nam ngàn dậm cách Trường An), thành Ngoảnh lại trời Nam khuất Đế thành không đúng. Vìông không nghĩ Vân Nam cách Trường An ngàn dậm. Nếu Trường An là Thăng Long hay Phú Xuân thì Nguyễn Du không thểở cách hơn ngàn dậm phía Nam. Bài Thu Chí câu : Tuyết ám cùng thôn hiểu giác ai (Tuyết xuống làng xa não tiếng tù)ông Phạm Khắc Khoan, Lê Thước dịch : Cõi sớm làng xa tuyết phủ đầy, thiếu tiếng tù nghe ai oán, não ruột và tù và là một nhạc khí thường dùng ở Vân Nam. Cảnh tuyết này không thểở vùng Quảng Tây được.
                Trang 105, 106 bài Thôn dạ Nguyễn Du viết ở Hồng Lĩnh câu :Niên niên kết đắc ngư tiều lữ – Ngư tiều là bạn quanh năm đó, Nguyễn Du đang đi giang hồ không thể kết bạn với ngư tiều quanh năm, bài Giang đầu tản bộ viết ở Quảng Bình : câu Bất tài đa khủng tốc quan phi- Bất tài quan vẫn sợ đơn sai, không hợp với thời đi giang hồ, chưa làm quan.
                Trang 111, 112 bài Pháo Đài : Nam Bắc xa thư khánh đại đồng – Nam Bắc mừng nay cuộc đại đồng, thống nhất Nam Bắc sau Trịnh, Nguyễn phân tranh,  trong Nam Trung Tạp ngâm, Nguyễn Du làm lúc làm quan Cai Bạ(Trấn Thủ) ở doanh Quảng Bình, chép vào cảnh lúc Nguyễn Du đi giang hồ ở Trung Quốc không đúng.
                Trang 116 bài , Thu dạ II Nguyễn Du trả lời họa bài Thu Vũ của Hồ Xuân Hương, Xuân Hương khóc khi nghe tin Nguyễn Du bị bệnh ba tháng cuối năm ở Hồng Lĩnh. (Xem Phạm Trọng Chánh. Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình Nguyễn Du - Hồ Xuân Hương site Vanhoanghean).
                Trang 123 Nguyễn Du đọc Kinh Kim Cương nghìn lượt (Bài Phân Kinh Thạch đài), vì thời bấy giờ, Lê QuýĐôn có viết quyển Kinh Kim Cương chú giải, được trí thức Bắc Hà yêu chuộng, được nhà chùa Thăng Long khắc bản in. Lê QuýĐôn nhà bác học, là một thần tượng thời bấy giờ, khi mất được chúa Trịnh để tang bãi chầu ba ngày, việc hiếm có. Nguyễn Du tất có bên mình quyển Kinh của Lê Quý Đôn chú giải. Trên bước đường giang hồ đi Trung Quốc, Nguyễn Du đọc kinh kim cương, nghìn lượt, tức là ba năm, ngày đi du lịch tối về một ngôi chùa trên đường đi tụng kinh làm công quả, nhà chùa thết đãi món chay rau đậu. Đây là một chi tiết khá thú vị.
                Trang 163, năm 1790, Nguyễn Du đọc Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ở Hàng Châu, lúc đó Nguyễn Du mới 24 tuổi, chưa đến tuổi « tam thập nhi lập ».
                Trang 170, Nguyễn Nể có hai lần đi sứ. Lần thứ nhất năm 1789 sứ bộ đầu tiên của Tây Sơn, Vũ Huy Tấn Chánh sứ, Nguyễn Nể làm Phó sứ. Vũ Huy Tấn đi sứ lần thứ nhất trở về, lại ở trong sứđoàn đi sứ lần thứ hai năm 1790. Theo học giả Thái Văn Kiểm, Nguyễn Nểđi sứ đến năm 1791 mới về,( trong bài Nguyễn Du đi sứ, Việt Nam Gấm Hoa, Làng Văn Canada xb 1797 tr 101). Khi sứ thần nhà Thanh sang Thăng Long phong vương cùng năm, có cả Nguyễn Nể vàĐoàn Nguyễn Tuấn tiếp rước, Đoàn giới thiệu với các sứ thần nhà Thanh : Quế Hiên Nguyễn Nể là đỉnh cao thi trận nước Nam. Lần thứ hai năm 1795 làm Chánh Sứ (Hành Khánh sứ) sang mừng lễ vua Càn Long truyền ngôi cho con là Gia Khánh. Có thểNguyễn Nể có trong sứ bộ năm 1790 do Phan Huy Ích làm Chánh sứ, cóĐoàn Nguyễn Tuấn, đoàn có 158 người, cóông vua Quang Trung giả do Phạm Công Trịđóng vai và hoàng tử Quang Thùy. Như thế Nguyễn Nể đi sứ ba lần chăng ?
                Nguyễn Công (con Nguyễn Khản) và Nguyễn Thiện (con Nguyễn Điều) có tham gia Sùng Chính Viện của Nguyễn Thiếp. Nguyễn Nhưng, đậu Tứ Trường đời Lê, đời Tây Sơn có ra làm Trấn Thủ Sơn Tây  thay thế Nguyễn Công Tấn thân phụ Nguyễn Công Trứ năm 1801. Nhà Nguyễn lên ông ởẩn làm nghề thuốc.
                Trang 171 Hai bài thơ Đoàn Nguyễn Tuấn tựa : Chí Hoàng Châu thích Nguyễn khế văn tự Yên Kinh hồi tẩu bút tặng chi. Đến Hoàng Châu thì vừa vặn gặp người bạn văn chương họ Nguyễn từ Yên Kinh trở về bèn phóng bút làm thơ tặng. Bài tựa chứng tỏ Nguyễn Du đã lên Yên Kinh và trở về. Sự kiện vua Lê Chiêu Thống và các quan lại đi theo muốn nhà Thanh làm áp lực để xin đất Thái Nguyên, Tuyên Quang mà không xin đất Cao Bằng như nhà Mạc, chứng tỏđã gặp cựu trấn thủ Thái Nguyên Nguyễn Đăng Tiến.
                Trang 178, Bài Lưu Biệt Nguyễn Đại Lang, đặt Nguyễn Du chia tay cùng Nguyễn Đại Lang tại Hoàng Châu không đúng vì có địa danh Liễu Cao Lâm. Liễu Châu ở vùng rừng cao nguyên, nơi sản xuất gỗ nam mộc đóng hòm rất tốt, giữ thi thể rất lâu (Trung Quốc có câu : sống ở Hàng Châu, cưới vợ Tô Châu, ăn ở Quảng Châu và chết ở Liễu Châu) Từ Vân Nam vùng núi, về đến Liễu Châu vùng cao nguyên, đến Quế Lâm là đồng bằng. Trong thơ Nguyễn Du, Tây phong thường ám chỉ quân Tây Sơn :  Vì quân Tây Sơn ra Bắc cho nên chúng ta lưu lạc nơi chốn rừng cao nguyên Liễu Châu, Tây phong qui tụ Liễu rừng cao. Ông Trương Chính trong Thơ  Chữ Hán Nguyễn Du. Nxb Văn Học 1965, vì không nghĩ đó là địa danh, nên cho rằng câu thơ không đúng cú pháp, ông chữa thành :Tây phong tiêu táp phất cao lâm, Gió Tây thổi qua ống tay áo phơ phất cành liễu. Ông Đào Duy Anh giữ nguyên nhưng dịch thành Rừng liễu ra về buổi gió Tây. Chữ ra về ngược lại với nghĩa chữ qui tụ.
                Trang 181, Đoàn Nguyễn Thục mất năm 1775, 57 tuổi, năm 1790 Đoàn Nguyễn Thị Huệ 16 tuổi, mồ cô cha lúc một tuổi, có thể con thứ thiếp, được anh cả Đoàn Nguyễn Tuấn nuôi dưỡng và kết hôn cùng Nguyễn Du năm 1796,  21 tuổi.
                Trang 214, cụ Đồ Diễn đã mất năm 1786, thọ 83 tuổi. Do đó năm 1790-1793 ba năm mối tình Hồ Xuân Hương – Nguyễn Du cụ Đồ Diễn không còn nữa. Hồ Xuân Hương nếu sinh năm 1772 lúc đó đã 18-21 tuổi  với tài hay chữ có thể đã dạy trẻ họ vỡ lòng. Văn bản Landes, Lê Quý chép thường tả Hồ Xuân Hương đi đâu cũng có 5, 7 đứa hầu gái, có lẽ là học trò. Làng Nghi Tàm sau khi cụ Đồ Diễn có Tử Minh tức Cả Tân học trò cụ Đồ Diễn dạy học, Tử Minh mất 40 tuổi năm 1811, Hồ Xuân Hương sau mười năm phong trần : Thập tải phong trần quán nhỉ linh, mười năm phong trần như ăn trộm bị tai đi trộm chuông (lấy lẽ Cai Tổng Cóc, trở về mở hiệu sách, rồi đi buôn, vì tình bất an vùng Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ do loạn Đặng Trần Siêu, VõĐình Lục thường chặn đường cướp bóc các thương nhân, nàng thôi đi buôn). Làng Nghi Tàm mời Xuân Hương  thay Tử Minh dạy học. Học trò các lớp thi Hương sang học với ông nghè Phạm Quý Thích. Nguyễn Thị Hinh tức Bà Huyện Thanh Quang, sinh sống cùng làng Nghi Tàm, học với Hồ Xuân Hương sau đó học với Tiến Sĩ Phạm Quý Thích cùng thời với Phương Đình Nguyễn Văn Siêu..
                Trang 234 : năm 1774 cụ Nguyễn Nghiễm cầm quân dẹp loạn vùng Hội An, điều này không đúng. Đó là cuộc chiến lớn chấm dứt Trịnh Nguyễn phân tranh sau hơn 200 năm. Nhân tại Phú Xuân Trương Phúc Loan chuyên quyền. Tây Sơn nổi dậy đánh phá chiếm từ Bình Định tới Diên Khánh. Chúa Trịnh Sâm biết như vậy bèn sai đại tướng là Hoàng Ngũ Phúc, cùng Nguyễn Nghiễm làm Tả Tướng quân đem thủy bộ 3 vạn quân cùng Hoàng Phùng Cơ, Hoàng Đình Thể, Hoàng Đình Bảo vào đất Bố Chính đểđánh họ Nguyễn, giả vào đánh Trương Phúc Loan. Các quan ở Phú Xuân bèn bắt Phúc Loan đem nộp. Nhà Trịnh thừa cơ chiếm lấy Phú Xuân, sai Nguyễn Hữu Chỉnh đem sắc phong cho Nguyễn Nhạc trấn thủ đất Quảng Nam. Các chúa Nguyễn,Thái Thượng Vương và Tân Chính Vương bị Nguyễn Huệđuổi bắt và giết chết, chỉ còn Nguyễn Ánh 17 tuổi chạy thoát. Trong trận này quân nhà Trịnh hàng ngàn người bị bệnh dịch cụ Nguyễn Nghiễm cũng nhiễm bệnh đưa về quê quán Tiên Điền dưỡng bệnh, năm 1776 cụ mất tại quê nhà.
                Trong tình hình đọc sách hiện tại trong nước và hải ngoại, mỗi người Việt Nam đọc không đến một quyển sách một năm, các nhà xuất bản tại hải ngoại chỉ sống nhờ sự hy sinh của tác giả, tự viết tự bỏ tiền in, không kể gì lời lỗ. Sách gửi đi các nơi không hy vọng gì thu tiền lại. Trong nước sách in được 1500 quyển như  Nguyễn Du trên đường gió bụi anh Hoàng Khôi là thuộc loại khá.Đáng cho chúng ta khuyến khích. Phải chăng vì thiếu sách hay, các nhà văn ngày nay không đủ sức hấp dẫn lôi kéo người đọc chăng. Nghĩ lại ngày xưa thời Tự Lực Văn Đoàn, Thơ Mới, những năm 1930-1940 mỗi năm người đậu Tú Tài chỉ vài chục người, người biết chữ quốc ngữ có là bao nhiêu trên 25 triệu dân thế mà sách  đã tạo ra những trào lưu văn học lớn mạnh. Ngày nay chúng ta có 90 triệu dân trong nước và 4 triệu người Việt hải ngoại, mà tình hình sách vở còn thua các nước nhược tiểu, nghĩ thật đáng buồn. Chúng ta không nâng cao được dân trí, mà dân trí lại thụt lùi.  Được một nhà văn như anh Hoàng Khôi, hy sinh thức đêm thức hôm để viết sách, để mua vui một vài trống canh, tôi mừng và mong có nhiều người như anh Hoàng Khôi. Đừng để các thế hệ mai sau không còn biết viết văn, biết đọc mà chỉ còn biết bấm mấy câu vớ vẫn trên điện thoại di động.
Paris 9-11-2013
PTC
*Tiến sĩ Khoa Học Giáo Dục Viện Đại Học Paris V

6 thg 10, 2013

VNG-HCM-PVD

Võ Nguyên Giáp – Hồ Chí Minh – Phạm Văn Đồng

Tháng Mười 6, 2013 — Lê Mai

        Chọn cách đặt tên bài viết như trên, tôi muốn liên tưởng đến câu chuyện dân gian mà ai cũng đã từng nghe. Ấy là Hồ Chí Minh có hai người trợ thủ đặc biệt thân tín, văn võ song toàn, một bên tả, một bên hữu. Văn thì có “Văn Đồng”; Võ thì có “Võ Giáp”. Thật là một hình ảnh hết sức thú vị, nói lên một sự thật lịch sử, vừa dân gian lại vừa đúng thực tế khiến người dân VN rất đỗi tự hào.
     Tháng 5.1940, Hoàng Văn Thụ bố trí để Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp sang TQ gặp Hồ Chí Minh. Đây là lần đầu tiên, ông Giáp gặp Hồ Chí Minh, còn ông Đồng đã gặp Hồ Chí Minh năm 1926 tại Quảng Châu.
     Cuộc gặp gỡ giữa Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh diễn ra tại Thúy Hồ, Côn Minh, TQ là một cuộc gặp gỡ lịch sử. Hồ Chí Minh nói với ông Đồng, trông chú không có gì khác trước. Còn chú này – Hồ Chí Minh chỉ ông Giáp, đẹp như một cô gái vậy.
       Nói đến cái đẹp của Võ Nguyên Giáp – một cái đẹp hoàn hảo từ con người đến nhân cách, tôi chợt nhớ đến chuyến trinh sát Cao Bằng của ông chuẩn bị cho chiến dịch Biên giới mà nhà văn Sơn Tùng đã mô tả rất hay qua tác phẩm Trái tim quả đất. Trên đường đi, một người cất giọng lễ phép: - Ngày được học với thầy ở trường tư thục Thăng Long, chúng tôi ngồi dưới lớp cứ khen trộm thầy đẹp, da trắng như công chúa cấm cung. Nghe thầy giảng, chúng tôi cứ lịm người đi…
        Trong đoàn tùy tùng của Đại tướng còn có nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Nhà văn cố giấu niềm xúc động mỗi khi nhìn Đại tướng trong bộ đồ chàm Nùng, da rám nắng leo dốc, lội suối. Vượt qua những đoạn đường đá dăm sắc cạnh, những gốc cây nhọn hay đám cỏ tranh như những mũi kim châm, anh em dẫn đường phải đau chảy nước mắt, càng thương Đại tướng có đôi chân đã vạn dặm quan san mà chưa hết lốt gót son học trò.
          Tại Thúy Hồ, Võ Nguyên Giáp nhận thấy ở Hồ Chí Minh một sự điềm đạm, bình thản, thân thuộc như đã gặp từ lâu rồi. Trong câu chuyện, thỉnh thoảng Hồ Chí Minh nói xen vào những tiếng địa phương miền Trung làm ông Giáp rất ngạc nhiên, vì Hồ Chí Minh xa nước đã lâu ngày. Ông nghĩ, vĩ nhân bao giờ cũng giản dị.
         Cùng ý nghĩ đó, trong tác phẩm Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc, Phạm Văn Đồng viết: “Bình sinh, Hồ Chủ tịch là người giản dị, lão thực. Vĩ nhân, thật vĩ nhân bao giờ cũng giản dị, lão thực. Đã cầu kỳ là thiếu bản lĩnh, cố làm trò để đánh lừa thiên hạ và hậu thế”. Có thể nói, Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc là tác phẩm đầu tiên viết về Hồ Chí Minh hay nhất.
          Không như Tố Hữu, đôi lúc ca ngợi thái quá thành ra thần thánh hóa lãnh tụ, ngòi bút của Phạm Văn Đồng về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh đầy chiều sâu tư tưởng, lay động tâm hồn chúng ta. Sau này, là một nhà nghiên cứu có uy tín rất lớn về Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng đã viết một loạt tác phẩm: Hồ Chí Minh – một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp; Hồ Chí Minh, quá khứ, hiện tại và tương lai; Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu nước mạnh…
          Hồ Chí Minh cũng dành cho hai người học trò, hai trợ thủ đặc biệt của mình những tình cảm vô cùng thân thiết. Phạm Văn Đồng kể lại, “một lỗi lầm của tôi có ảnh hưởng không hay đến một việc Bác dự định làm. Mặc dù vậy, Bác chỉ nói với tôi vẻn vẹn một câu: “chú làm hỏng việc”. Chính thái độ này là một bài học mãi mãi ghi sâu trong ký ức tôi”.
         Hai người cùng sống trong Chủ tịch phủ, thường ăn cơm với nhau, sáng ra đã nhìn thấy nhau. Hồ Chí Minh còn có ý định dành một phòng trong nhà sàn cho Phạm Văn Đồng, vì ông có nỗi đau riêng trong cuộc sống gia đình.
         Võ Nguyên Giáp sống tại ngôi biệt thự cổ, số 30 Hoàng Diệu, Hà Nội. Hồ Chí Minh gọi Võ Nguyên Giáp một cách thân thiết, trìu mến mà thâm thúy: chú Văn. Lại nói: “Chú đã có Văn, giờ cách mạng cần có Võ, chú nghiên cứu Võ hơn nữa”.
          Nhà văn Sơn Tùng kể lại, một tối, Hồ Chí Minh đến thăm nhà ông Giáp. Giữa câu chuyện, Hồ Chí Minh bỗng quay sang chị Bích Hà cũng đang ngồi đó:
         - Có phải không cô Hà, nghe nói chú Văn chịu khó tập đàn? Sao không đánh thử Bác nghe?
          Hồ Chí Minh là người am hiểu văn chương, nghệ thuật, là bạn thân của những danh họa Picatso, nhà điện ảnh Giôrít Iven, văn hào Erenbua, Hăngri Bácbuýt…
         Một dịp quý hiếm biết bao. Ông Giáp ngồi vào trước cây đàn piano, trước hết chơi bản hùng ca quen thuộc: Chiến thắng Điện Biên. Hồ Chí Minh lắng nghe, xúc động. Cây đàn lại ngân tiếp bài Sonatin của Beethoven, Trống cơm, Trẩy hội đêm rằm… Hồ Chí Minh nghe rất thích thú.
          Tiếng đàn vừa dứt, Hồ Chí Minh tươi cười: - Chú đánh hay đấy…nhưng mà…chú đã đánh được bài Kết đoàn chưa?
        Một thoáng bối rối, như bị đột kích bất ngờ rồi Đại tướng tươi cười thưa thật với Bác: - Dạ, chưa.
         Hồ Chí Minh còn cười tươi hơn nữa: - Đánh giặc, chú đã đánh cả trận to lẫn trận nhỏ. Đánh đàn chú phải đánh cả bài khó lẫn bài dễ mới là giỏi. Bài Kết đoàn ai cũng hát, chưa đánh được bài Kết đoàn thì chưa giỏi…
          Có ngờ đâu vào buổi tối mùa thu này, ông đành chịu lỗi với Hồ Chí Minh, vì một lẽ đơn giản là chưa có ai viết bài hát nhỏ bé ấy cho đàn piano.
          Tình cảm của ba người thật vô cùng thân thiết. Có thời gian, nghe tin Hồ Chí Minh đã mất trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, hai ông hết sức lo lắng, dò hỏi khắp nơi. Cho đến khi nhận được nét bút nhắn tin Hồ Chí Minh gửi về trong một tờ báo, hai ông vô cùng mừng rỡ, khi đó mới thoát khỏi cái cảm giác bơ vơ.
           Ngày 2.9.1969, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng đều có mặt bên giường cấp cứu Hồ Chí Minh. Người ta thấy, Võ Nguyên Giáp còn nhoài người xoa ngực cho Hồ Chí Minh vào những giây phút cuối cùng… …
           Vào tuổi 14, Võ Nguyên Giáp ra Huế học tại Trường Quốc học. Một hôm, Nguyễn Chí Diểu đưa cho Võ Nguyên Giáp tấm chân dung Nguyễn Ái Quốc đội mũ phớt (tôi bỗng nhớ đến hình ảnh ông Giáp đội mũ phớt duyệt đội quân danh dự sau ngày Cách mạng thành công), đôi mắt nhìn xa thăm thẳm.
         Tâm hồn hoa niên của Võ Nguyên Giáp bừng sáng: Nguyễn Ái Quốc!…Nguyễn Ái Quốc!… Nguyễn Ái Quốc! …Bỏ lại sau lưng tất cả, ông ra đi tìm Nguyễn Ái Quốc, cho đến tháng 5.1940, ông đã gặp Nguyễn Ái Quốc tại Thúy Hồ, Côn Minh như chúng ta đã nói tới. Đây cũng là lần đầu tiên Nguyễn Ái Quốc sử dụng cái tên Hồ Chí Minh cho cả quãng đường sau này.
          Tại vùng rừng núi phía Bắc, Hồ Chí Minh chỉ đạo ông Giáp, ông Đồng hoạt động bí mật, xây dựng cơ sở, suy nghĩ về con đường giải phóng. Cuộc sống cực kỳ khó khăn, gian khổ, nguy hiểm.
        Bằng thiên tài dùng người của mình, Hồ Chí Minh giao cho ông Giáp phụ trách quân sự, ông Đồng phụ trách đối ngoại, hai ông phối hợp rất nhịp nhàng. Tại trận Điên Biên Phủ, trong khi Võ Nguyên Giáp là Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ huy chiến dịch thì Phạm Văn Đồng là Trưởng đoàn VNDCCH tại Hội nghị Geneve, khắc khoải chờ tin chiến thắng từ người bạn, người đồng chí của mình.
        Rồi năm 1975, Phạm Văn Đồng là Chủ tịch Hội đồng chi viện còn Võ Nguyên Giáp là Tổng tư lệnh chỉ đạo toàn bộ giai đoạn sau cùng của cuộc chiến. Hai ông đều am hiểu và ưa thích văn học, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, quan tâm các nhà văn, nhà báo, các nhà khoa học…Và dĩ nhiên, hai ông là bạn thân thiết của nhau.
        Năm 2000, khi Phạm Văn Đồng về với Hồ Chí Minh, nhà thơ Việt Phương có viết, anh Tô gặp Bác, chắc Người sẽ nói: trông chú không có gì khác trước.
        Giờ đây, Võ Nguyên Giáp lại về với Hồ Chí Minh, chắc Bác lại gọi “chú Văn” một cách trìu mến như xưa. Và giờ đây, ba nhân vật sáng chói nhất trong lịch sử VN hiện đại chắc đã gặp nhau ở đâu đó trong cõi Phật… (Ngày 6.10.2013 – những ngày tưởng niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp).TQS, post ngày 6/10/2013 để tưởng nhớ Đại tướng VNG

2 thg 10, 2013


logosachVIÊN MAI
Nguyễn Đức Vân tuyển dịch (An Dương lược trích)
I.1
Những kẻ anh hùng đời xưa, khi chưa gặp thời, đều chẳng có chí khí gì lớn lao (…) Vua Quang Võ lúc còn nghèo, cùng đi với Lý Thông, kêu kiện việc thiếu tô thuế với Nghiêm Vưu, Vưu thấy có vẻ lạ, để ý nhìn Quang Võ, sau khi về nhà, Quang Võ bảo Lý Thông rằng: “Ông Nghiêm có nhìn ông đâu?”, dò ý Quang Võ thì ra ông ta cho việc Nghiêm Vưu nhìn mình là vinh hạnh lắm. Hàn Thế Trung khi còn làm lính trơn, có người tướng sĩ đoán rắng, ngày sau sẽ được phong vương, Thế Trung cho là mỉa mai mình, vung nắm tay mà đánh. Tướng công Ngạc Tây Lâm khi còn làm chức thị vệ, trong bài “Tân Sửu nguyên nhật”có câu “Lãm kính nhân tương lão, Khai môn thảo vị sinh” (nghĩa là: Ngắm gương người sắp già, Mở cửa cỏ chưa mọc) và trong bài thơ “Vịnh hoài” có câu “Khan lai tứ thập do như thử, Tiện đáo bách niên dĩ khả tri” (Xem đây bốn chục còn như thế, Thì đến trăm năm [khi già] cũng biết rồi). Xem ý mấy câu thơ trên thì hình như ông ta không hề nghĩ rằng sau này mình sẽ làm nên tướng văn, tướng võ. Nhưng đến khi làm chức Kinh lược bảy tỉnh rồi thì khí tượng khác ngay, trong thơ ngang nhiên cho rằng mình là một Gia Cát Võ Lương hầu tái thế.
I.2
Dương Thành Trai nói rằng: “Xưa nay những người tài phận thấp kém thường hay nói cách điệu(tức cách luật và âm điệu) mà không hiểu phong thú. Vì sao vậy? Vì cách điệu là một thứ khung rỗng tuếch, còn phong thú thì chuyên môn miêu tả tính linh của con người, không phải người có thiên tài, không thể làm được.”
Tôi rất thích câu nói ấy. Phải biết, có tính tình tức có cách luật, cách luật không nằm ở ngoài tính tình. Ba trăm bài thơ trong “Kinh thi”, phân nửa đều là câu nói ngôn tình của những người lao khổ hoặc những người đàn bà nhớ thương, buột miệng nói ra, nào có ai bày cách luật cho họ, mà những người nghiên cứu cách điệu đời nay có ai vượt được ra ngoài phạm vi ấy không? Phương chi ca dao đời vua Võ khác với loại thơ “Kinh thi”, cách luật của loại thơ “Quốc phong” không giống như thơ “Nhã”, thơ “Tụng”, cách luật có gì là nhất định đâu! Hứa Hồn có câu thơ “Ngâm thơ hảo tự thành tiên cốt, Cốt lý vô thi mạc lãng ngâm” (Ngâm thơ giống như cốt thành tiên, Trong cốt không có thơ chớ ngâm bừa) cho nên thơ quan hệ ở cốt chứ không phải ở cách.
I.5
Thi nhân đời Đường có rất nhiều thơ hỏng thi, Đường Thanh Thần có bài thơ “Bất đề viễn quy lai, Thê tử sắc bất hỷ, Hoàng khuyển cáp hữu tình, Đương môn ngọa dao vĩ” (Thi hỏng về xa xôi, Vợ con mặt kém vui, Chó vàng hẳn có tình, Giữa cửa nằm vẫy đuôi).
I.6
Tôi làm thơ vốn không thích dùng điệp vần, họa vần hoặc dùng vần của người xưa, vì cho rằng, làm thơ cốt tả tính tình, thích như thế nào thì làm như vậy, trong một vần có trăm ngàn chữ, mặc ý mình chọn dùng, thế mà có lúc dùng xong rồi còn không vừa ý mà phải thay đổi lại, thì sao lại chịu gò bó mà dùng trong một vài vần, đã gò bó thì không thể không nhồi nhét, đã nhồi nhét thì còn đâu nữa là tính tình? Trang Tử có câu: “Vong túc lý chi thích dã” (Giày vừa quên chân), tôi cũng nói: “Thơ vừa quên vần”.
I.7
Triệu Nhân Thúc ở Thường Châu có đôi câu đối “Điệp lai phong hữu trí, Nhân khứ nguyệt vô liêu” (Bướm tới gió đẹp đẽ, Người đi trăng bùi ngùi). Một ông nọ có bài thơ “nghị cổ” như sau: “Mạc tác giang thượng châu, Mạc tác giang thượng nguyệt, Châu tải nhân biệt ly, Nguyệt chiếu nhân ly biệt” (Trên sông chớ làm thuyền, Trên sông chớ làm trăng, Thuyền chở người biệt ly, Trăng soi người ly biệt). Kim Thánh Thán hay phê bình tiểu thuyết, bị người ta chê trách, nhưng ông có bài thơ “Túc dã miếu” rất hay như sau: “Chúng hưởng tạm dĩ tịch, Trùng ư phật diện phi, Bán song quan dạ vũ, Tứ bích quải tăng y” (Mọi tiếng dần im lặng, Mặt tượng muỗi vi vu, Nửa song khép mưa tối, Bốn vách treo áo sư).
I.16
Hai chữ “Nhạc phủ” là tên của cơ quan giám sát trong cung đời xưa, thấy xuất hiện ở hai truyện Hoắc Quang và Trương Phóng. Các bài nhạc chương như “Quân mã hoàng”, “Lâm cao đài”… thất truyền đã lâu. Bởi vì trong “Nhạc phủ” khi sao chép khúc nhạc, dùng chữ lớn để tả “từ”, chữ nhỏ để tả “thanh”, từ và thanh viết chung vào như thế dễ bị nhầm lẫn. Vì thế người đời Ngụy đổi tên khúc “Tương tiến tửu” gọi là “Bình quan trung”, khúc “Thượng chi hồi” gọi là “Bình quan độ”, cả mười hai khúc đầu không noi theo người đời Hán. Người Tấn đổi khúc “Tư bi ông” gọi là “Tuyên thụ mệnh”, khúc “Chu lộ” gọi là “Linh chi tường”, gồm cả mười hai khúc đều không noi theo người Ngụy. Các ông Lý Bạch và Lý Tường Cát đời Đường biết như vậy nên họ đều theo tên cũ mà làm ra bài của mình. Các ông Đỗ Phủ, Nguyên Chẩn, Bạch Cư Dị cũng biết như vậy nên tự mình làm lấy thơ mà sáng tác loại “Nhạc phủ” mới. Trong bài tựa viết đầu tập thơ họ Đỗ, Nguyên Chẩn đã nói rõ, Trịnh Tiều cũng nói rằng, “Nhạc phủ” đời nay, Thôi Báo lấy nghĩa nói ra tên, Ngô Cạnh lấy việc mà giải thích đề mục, cũng như loại thơ đã thất truyền vậy. Khúc “Tương tiến tửu” mà Lý Dư dùng để làm bài tựa truyện “Liệt nữ”, khúc “Xuất môn hành” mà Lưu Mãnh không nói gì đến nỗi biệt ly, trong bài “Thu hồ hành” mà Lương Võ Đế viết câu “Thần tượng Tản Quan san, Thử đạo đương hà nan” (Sáng lên núi Tản Quan, Đường này không khó khăn), các bài trên, nội dung đều chẳng liên quan gì đến đề mục, thế mà người đời nay vẫn còn khăng khăng ôm lấy sách “Nhạc phủ giải đề”, cho là một bản sách bí ẩn, rồi mô phỏng từng chữ từng câu, chẳng khác gì tự dưng vẽ ra ma quỷ, chẳng có gì là bằng cứ, nhưng vẫn đặt lên đầu quyển để phô trương mặt mũi, cũng ví như bọn người tự ý khoe khoang dòng dõi, nêu lên những chức tước rất lớn của cha ông mình mà không biết rằng những cái ấy không hề liên quan gì đến mình cả.
I.17
Sách “Tả truyện” chép đời Xuân Thu, chúa nước Trịnh thiết tiệc sứ thần nước Tấn là Triệu Mạnh, có bảy người lên đọc thơ để làm vui khách, có người đọc bài “Thuần bôn” [1], Triệu Mạnh gạt đi mà rằng: “Câu chuyện buồng the không nên lộ ra khỏi ngưỡng cửa, bài này không phải là bài sứ thần nên nghe”, thế thì các bài cùng đọc lúc đó như “Dã hữu man thảo”, “Hữu nữ đồng xa” và “Thác hề” đều không phải là thơ dâm loạn, đã rõ lắm vậy.
[1] “Thuần bôn” là bài thơ ở “Vệ phong” chế bà Tuyên Khương hủ hóa với công tử Ngoan.
I.22
Sách “Tam dư biên” nói rằng, nhà thơ dùng sự tích không nên quá câu nệ, như trong bài “Trường hận ca” của Bạch Cư Dị có câu “Nga My sơn hạ thiểu nhân hành” (Dưới chân núi Nga My ít người đi), thực ra Đường Minh Hoàng vào Thục, có đi qua núi Nga My đâu. Thơ Tạ Tuyên Thành có câu “Trừng giang tịnh như luyện” (Sông trong sạch như lụa), thực ra Tuyên Thành cách sông đến hàng trăm dặm, xung quanh huyện lỵ ấy không hề có con sông nào cả.
I.23
Người ta hay nói, người có tài lớn giống như sông Hoàng Hà muôn dặm, cát và bùn đều trôi xuống. Tôi cho rằng, đó là người có tài thô kệch, chứ không phải tài lớn, tài lớn thì phải như nước biển liền trời, sóng cồn tắm nhật, cái người ta thấy đều là cung vàng điện bạc, cỏ lạ hoa kỳ, làm gì có loại cát bùn làm nhơ con mắt người ta!
Có người nói rằng, trong làng thơ, có loại nhà thơ nổi tiếng, có loại nhà thơ lớn, nhà thơ lớn thì hơi pha tạp cũng không hiếm gì, còn nhà thơ nổi tiếng thì phải chọn lọc từng chữ, đo đắn từng câu mới được. Tôi cho rằng, nhà thơ nên tự xưng là nhà thơ nổi tiếng để cho người đời sau xếp mình vào loại nhà thơ lớn, chứ không nên tự xưng làm nhà thơ lớn, rồi để cho người đời sau đuổi mình ra ngoài loại nhà thơ nổi tiếng. Tôi thường khuyên viên thái sử Tưởng Tâm Dư rằng: “Anh nhất thiết đừng để tay già của mình rời rã, người có tài thì gan phải to”, Tâm Dư cho là phải.
I.24
Làm hoành phi, câu đối ở các miếu thần khó ở chỗ dùng thành ngữ mà giàu ý vị. Có nơi xây miếu thờ Thương Hiệt, xin làm bức hoành, Hầu Gia Phiên cầm bút viết bốn chữ “Thủy chế văn tự” (Bắt đầu đặt ra chữ). Mọi người đều khen là hay tuyệt. Có người xin đôi liễn rạp hát, Diệu Niệm Tư tập thơ Đường cho câu “Thử khúc chỉ ưng thiên thượng hữu, Tư nhân mạc đạo thế gian vô” (Khúc này họa chỉ trên đời có, Người kia chớ nói cõi đời không). Tương Văn Mẫn cũng tập thơ Tống, làm thành câu đối rạp hát như sau: “Cổ vãng kim lai chỉ như thử, Dạm trang nồng mạt tổng tương nghi” (Nay tới xưa qua chỉ như thế, Bôi nồng tô đậm thảy thích nghi). Ở rạp hát Tô Châu có tập cú câu đối như sau: “Bả vãng sự kim triêu trùng đề khởi, Bá công phu minh nhật tảo la lai” (Đem chuyện cũ hôm nay nhắc trở lại, Tốn công phu mai đến sớm hơn nhé!). Mấy câu trên đều hay cả.
I.25
Tôi vốn không thích thơ của Hoàng Sơn Cốc đời Tống, mà ý kiến của người xưa cũng có người tán đồng. Ngụy Thái chê Sơn Cốc hay nhặt lấy những chữ người xưa đã loại bỏ mà dùng, tự khoe là kỳ dị. Tô Đông Pha nói: “Đọc thơ Sơn Cốc như ăn con tù mâu (một loại rạm biển) sợ phát phong động khí”. Quách Công Phủ nói: “Hoàng Sơn Cốc làm thơ, nhất định phải hao phí khí lực như vậy, chẳng hiểu là vì lẽ gì?”, Lâm Ngải Hiên nói: “Thơ của Tô Đông Pha như trang nam nhi ra ngoài gặp khách, cứ cao bước ra ngay. Thơ của Hoàng Sơn Cốc như cô gái gặp người, trước tiên còn khép nép làm bộ. Đó là sự hơn kém giữa hai ông vậy”. Tôi cũng thường ví thơ của Sơn Cốc chẳng khác gì loại bách hợp trong giống quả, hoặc loại đậu gươm trong giống rau, rốt cục vị kém.
I.26
Từ Ngưng Vịnh suối nước bay, có câu “Vạn cổ thường nghi bạch luyện phi, Nhất điều giới phá thanh sơn sắc” (Muôn thuở thường ngờ lụa trắng bay, Một đường vạch ngấn sắc núi biếc), đúng là câu thơ hay, nhưng Tô Đông Pha lại chê là kém [1] vì ý thơ chưa được siêu thoát, nhưng bài thơ hải đường của Đông Pha có câu: “Chu thần đắc tửu vựng sinh kiểm, Thúy tụ quyển sa hồng ánh nhục” (Môi son được rượu má đỏ hây, Áo thúy cuộn the hồng ánh thịt), so với thơ của họ Từ có phần kém [2] hơn, thế mà người ta sợ thanh danh ông Tô, không dám nói tới, vì thế, Ứng Thiều từng nói “theo tiếng thì nhiều, xét âm thì ít” vậy.
[1][2] Chữ “kém” dịch ép hai chữ “ác thi” vì dùng chữ “ác”, “xấu” đều không rõ, đành dịch tạm như thế. Mấy câu thơ ấy mà gọi là “ác thi” và “chưa siêu thoát” không rõ vì nghĩa lý gì?
I.27
Ông cử nọ có câu thơ “Lập thệ càn khôn bất thụ ân” (Xin thề trời đất, chẳng mang ơn), ý muốn khoe khoang phong cách đứng đắn của mình vậy. Tôi gửi thư răn ông ta rằng, người ta ở đời, làm sao mà không mang ơn của người khác được; người đời xưa cao thượng như Đào Tiềm chỉ xin có một bữa ăn mà còn báo đáp trong cõi u minh; Đỗ Phủ tự hẹn phải như Tắc, Tiết thế mà cảm ơn Tôn Hạnh giúp đỡ, đến nỗi xin kết nghĩa anh em; Phạm Trọng Yêm là người thế nào mà chỉ vì Yến Công một lần tiến cử mình, bèn trọn đời giữ lễ học trò. Bởi vì, trên hết quý đức, thứ ra cần biết bố thí đền bồi, cái đó thánh nhân không hề kiêng giấu. Như hai câu thơ của Thương Bảo Ý sau đây thì không hề kiêu căng: “Danh tâm vị liễu nan di thế, Vãn cảnh vô đa phạ thụ ân” (Danh lợi còn đeo không thoát tục, Cảnh già chẳng mấy sợ mang ơn). Thơ của Tưởng Thiện Sinh cũng thế, như câu: “Bất thị vi cầm trồ đại huệ, Chỉ sầu vô xứ mịch Kim hoàn” (Phải đâu chim nhỏ từ ơn lớn, Chỉ sợ không nơi kiếm xuyến vàng [1]), hai nhà thơ này đều không giành thân phận mà thân phận càng cao.
[1] Sách “Chí dị” chép: Vu Bảo xưa cứu sống con chim sẻ nhỏ, sau nó ngậm vành vàng đến tạ ơn.
I.29
Phương Vọng Khê sửa chữa văn của tám nhà văn lớn các đời Đường, Tống, Khuất Hối Ông thì chữa thơ Đỗ Phủ, người ta cho là càn rỡ, tôi cho rằng, nếu tám nhà văn lớn và Đỗ Phủ sống lại, tất cũng có chỗ họ cúi đầu suy nghĩ, cho chữa như vậy là đúng, mà cũng có chỗ họ tranh cãi qua lại mà không nghe theo. Tóm lại nếu đem từng câu từng chữ ra mà bới vạch thì dù văn chương của Lục Kinh vẫn có chỗ đáng bàn cãi, cho nên chẳng cần gì hai ông ấy bỏ ruộng mình mà cuốc cỏ ruộng người khác vậy.
I.31
“Nghi vu tập” của Vương Thứ Hồi triều ta là một tập thơ viết về phụ nữ rất hay, tiếc rằng ông ta chỉ có thành tựu về môn thơ ấy thôi, ông Thẩm Quy Ngu chọn lọc thơ bản triều, bỏ ra ngoài, không thèm ghi, sao mà kiến thức hẹp hòi như vậy? Tôi viết thư hỏi vặn ông Thẩm rằng, thơ “Quan Thư” mở đầu “Quốc Phong”, liền nói đến tình trai gái, Khổng Tử bỏ bớt thơ “Kinh Thi”, nhưng vẫn bảo tồn thơ “Trịnh”, “Vệ”, sao riêng ông lại không chọn thơ của Thứ Hồi? Họ Thẩm cũng không biết lấy gì mà trả lời. Lý Phi đời Đường chê thơ của các ông Nguyên Chẩn, Bạch Cư Dị là dâm, diễm, phóng túng, là người có tội với danh giáo, rốt cục, sau ngàn năm, người ta chỉ biết có Nguyên, Bạch, mà không biết có Lý Phi.
I.32
Tôi đùa khắc một con dấu để dùng riêng, trên có câu thơ “Tiền Đường Tô Tiểu thị lương thân” (Tô Tiểu Tiền Đường [1] là người quen). Viên thượng thư nọ qua Kim Lăng, đòi xem tập thơ của tôi, tôi tùy tiện đóng con dấu ấy mà đưa, ông quở trách rất gắt, ban đầu tôi còn xin lỗi, sau ông ta cứ quở mãi, tôi bèn nghiêm sắc mặt mà nói rằng: “Ngài cho con dấu ấy là thối tha ư? Cứ hiện nay mà nói, cố nhiên ngài là quan nhất phẩm, Tô Tiểu Tiểu là hèn mọn, nhưng e rằng, sau trăm năm, người đời chỉ biết có cô Tô Tiểu Tiểu ấy mà không còn biết có có ngài nữa”, cả nhà đều cười.
[1] Tô Tiểu Tiểu là một kỹ nữ nổi tiếng hay thơ đời xưa.
I.34
Sách thi thoại của Tống Dung Đường chê Bạch Cư Dị khi ở Hàng Châu, thơ nhớ kỹ nữ nhiều hơn thơ nhớ dân, đó là một lời bàn kỳ quặc và hủ lậu, thử xem tại sao trong thơ “Quan thư”, vua Văn Vương trằn trọc, vật vã, không nhớ Thái Vương, Vương Quý mà chỉ nhớ thục nữ, Khổng Tử bị kẹt ở Trần, Thái, không nhớ vua nhà Lỗ mà chỉ nhớ bọn học trò?
I.37
Người ta lo làm điều gì đã lâu mà không thành thì ý tứ nhạt dần. Tú tài Hà Thượng Ngu có câu thơ cảm hoài “Thân phi vô dụng bần thiên hạ, Sự đáo nan đồ niệm chuyển bình” (Thân nào vô dụng nghèo nên rảnh, Việc đến khôn lo ý lại yên) thật là một câu nói sau khi đã giác ngộ. Ông ta lại có câu “Bần do mãi tiếu vi thân lụy, Lão thượng đa tình hoặc thọ trưng” (Nghèo còn chơi gái lụy mình thật, Già vẫn đa tình điềm thọ chăng?) và câu “Thư nhân bổ độc tùy thời triển, Thi vị lưu san tận số sao” (Sách bởi đọc bù tùy lúc mở, Thơ dành phần chữa chép không dư), thật là những câu thơ đầy ý nghĩa. Sau khi ông mất, tôi cho người hỏa tốc tới nhà tìm bản thảo, được hơn ba trăm bài bèn đưa in để lưu hành.
I.42
Lục Lỗ Vọng qua thăm nhà cũ của Trương Thừa Cát ở Đan Dương, từng khen rằng “Thừa Cát khéo mô tả cảnh đẹp, cảnh ở chỗ này không thể đặt sang chỗ khác, đó là tài tử bậc nhất”. Tôi rất thích câu nói ấy, từ xưa, văn chương sở dĩ lưu truyền được đến đời nay đều là nhờ có tài tức cảnh, tức tình, như tạo hóa un đúc, động đến là thành màu xuân, cho nên lấy không hết mà dùng không kiệt, nếu không như thế, thì tất cả mọi lời, người xưa đã nói hết, sao các tài tử ở đời Đường, Tống, Nguyên, Minh đưa ra sau đó, đều có thể thành các nhà thơ riêng mà quang cảnh thường mới được? Tức như việc mời một người khách, thiết một bữa yến, mở miệng nói đến đều phải có phân tấc nhất định, sát với người ấy việc ấy, không thể vay mượn tơ tóc, mới là mô tả cảnh đẹp, nếu thơ làm hôm nay, mai cũng dùng được, thơ tặng người này cũng có thể đem tặng người khác, đó tức là loại văn chương sáo, rỗng, cũ kỹ rất mực vậy.
I.43
Tôi mọi khi làm thơ vịnh cổ hay vịnh vật, thế nào cũng lục tìm hết sách vở có liên quan đến đầu bài ấy, nhưng khi thơ làm xong thì không hề dùng một điển nào, tôi thường nói rằng, có điển mà không dùng, cũng như người có quyền thế mà không buông tuồng lạm dụng.
I.44
Bàn tay con gấu, bào thai con báo là thức ăn rất quý, nếu mà ăn tươi, nuốt sống thì không bằng rau, măng; mẫu đơn, thược dược là loại hoa rất đẹp, nếu cắt giấy ra mà làm thì không bằng hoa quỳ, hoa liễu. Vị ăn cho tươi, phong thú phải cho thật, người ta có biết điều đó, sau mới có thể nói đến thơ.
I.45
Ông Ngạc Dung An thích làm thơ, có nhiều câu hay, như thơ “Ngủ trọ chùa” có câu “Sơ địa tương phùng nhân tự cựu, Tiền thân an kiến ngã phi tăng” (Người mới gặp nhau ngờ biết cũ, Kiếp xưa sao biết tớ không [phải là] sư) và thơ khóc vợ có câu “Thương tâm tối thị hoài trung nữ, Thác nhận trường miên tác mạn miên” (Đau lòng gái nhỏ trên tay bế, Mẹ chết ngỡ là tạm ngủ chơi).
Người ta có tự học mới biết mình chưa đầy đủ, cho nên những ai cho mình đầy đủ rồi, đều là người vô học, chả trách gì họ hay khoe khoang. Ngạc Công đề chùa Cam Lộ có câu “Đáo thử dĩ cùng thiên lý mục, Thùy tri tài thượng nhất tằng lâu” (Đến đấy đã nhìn cùng ngàn dặm, Ai hay mới đến một tầng lầu); Phương Tử Vân làm thơ “Ngẫu thành” có câu “Mục trung tự vị không thiên cổ, Hải ngoại thùy tri hữu cửu châu” (Trong mình tự nghĩ hơn ngàn thuở, Ngoài biển ai hay có chín châu).
I.46
Người xưa nói rằng, thơ của Bạch Cư Dị câu nào cũng tỏ ra thoải mái dễ chịu nên tính ông ta hiền hòa dễ dãi, thơ của Vương An Thạch câu nào cũng không thoải mái dễ chịu nên tính ông ta câu nệ trái nết. Tôi cho rằng, cổ văn của Vương An Thạch sát hẳn Hàn Dũ, người đời Tống không ai sánh kịp, còn đối với thơ thì suốt đời ông ta chỉ là người khách ngoài cửa.
I.48
Kỹ nữ nọ có câu thơ tặng biệt “Lâm kỳ kỷ điểm tương tư lệ, Trích hướng thu giai phát hải đường” (Chia tay mấy giọt tương tư lệ, Nhỏ xuống thềm thu nở hải đường), đó là câu nói đa tình, đến như câu thơ tặng kỹ nữ của Trang Tôn Phục “Bằng quân mạc thức tương tư lệ, Lưu trứ minh triêu cánh tống nhân” (Xin nàng chớ gạt tương tư lệ, Dành để ngày mai lại tiễn người) rõ ràng nói toạc ra, nhạt phèo như gặm sáp. Đông Hải Pháp có câu thơ viếng Tỳ Bà đình “Tư Mã thanh sam hà tất thấp, Lưu tương lệ nhãn khốc thương sinh” (Áo xanh Tư Mã cần gì ướt, Để dành nước mắt khóc nhân dân) cũng là loại câu nói làm mất hứng thú.
I.49
Có người điếu viên quan to chết bệnh với đôi câu đối như sau: “Đường thâm nhân bất tri hà bệnh, Thân quý y tranh thí nhất phương” (Nhà kín bệnh gì chẳng ai biết, Thân sang thầy thuốc thử từng phương) thật là nói rõ tình trạng ốm đau của bọn quyền quý.
I.50
Trần Tinh Trai đề bức vẽ có câu “Thu tự mỹ nhân vô ngại sấu, Sơn như hảo hữu bất hiềm đa” (Thu như người đẹp gầy không ngại, Núi tựa bạn hiền nhiều càng hay). Trong bài thơ “Thượng hồ vãn bộ” của ông Trưng Sĩ có câu “Hữu như tác họa tu cầu đạm, Sơn tự luân văn bất kỷ bình” (Bạn như vẽ cảnh cần cho nhạt, Non giống bàn văn chẳng thích bằng), mấy câu trên đều cùng một phong điệu.
I.51
Hồi người Thanh vào đánh chiếm Trung Quốc, thành Giang Âm ra hàng sau cùng, lúc đó trong thành xác chết chồng chất, thối không chịu nổi, có người con gái bị lính Thanh bắt, cô nhảy xuống sông tự vẫn, trước đó, cô cắn ngón tay lấy máu đề câu thơ rằng: “Ký ngữ lộ nhân hưu yểm tị, Hoạt nhân bất cập tử nhân hương” (Nhắn khách đi đường đừng bịt mũi, Người sống không bằng người chết thơm).
II.3
Đỗ Phủ có nói, nhiều người làm thầy của ta, không phải chọn người đáng làm thầy mà học họ đâu, dù cho một câu, một tiếng của các em thôn quê hay các em chăn trâu đều là thầy của chúng ta, nếu ta khéo nhặt lấy thì đều thành câu thơ hay. Người gánh phân trong Tùy Viên, một hôm về tháng mười, anh ta ngồi dưới gốc mai bỗng vui mừng mà nói rằng, cây mai mọc hoa đầy thân rồi, do đó, tôi có câu thơ “Nguyệt ánh trúc thành thiên cá tự, Sương cao mai dựng nhất thân hoa” (Trăng dọi trúc thành ngàn con chữ, Sương cao mai nở một thân hoa). Một hôm tôi đi xa, có nhà sư thông dã tới tiễn đưa mà nói, tiếc thay hoa mai trong vườn nở rộ mà ông không mang đi được. Nhân đó tôi có câu thơ “Chỉ liên hương tuyết mai thiên thụ, Bất đắc tùy thân đái thượng thuyền” (Tiếc thay thơm tuyết mai ngàn gốc, Không thể mang theo lên thuyền được).
II.4
Hễ các tác phẩm của người xưa đã thất truyền thì người sau làm bù vào đều không thể hay, là vì tính tình bị câu thúc vậy [1]. Như tác phẩm còn đó mà người sau đọc thấy âm điệu chẳng ra làm sao [2].
[1] Bản Uông – Đường dịch là “… nguyên do đều vì tính tình không giống với người xưa”
[2] Bản Uông – Đường dịch là “Tác phẩm của họ còn đó mà người sau rất ít tiếp thu chúng”
II.6
Trương Duyệt đời Đường cho thơ của Diêm Triều Ẩn như người ăn mặc lòe loẹt, tránh sao khỏi làm người có tội với Phong Nhã. Vương An Thạch nhân đó làm ra lời “Tự thuyết” trong có câu “Thơ là tự ngôn vậy [1], tự là chỗ ở của chín quan khanh, không phải là lời nói lễ phép thì không nên vào, cho nên Khổng Tử nói là “tư vô tà” (nghĩ không lệch)”. Gần đây có viên thái sử nọ kính cẩn giữ lời nói ấy, bạ đâu cũng nói là xem thơ có thể biết phẩm cách của con người. Tôi bèn đọc lại thơ tặng gái điếm của ông Lý Văn Chính cho nghe như sau: “Tiện khiên hồn mộng tàng kim nhật, Tái đổ thuyền quyên thị kỷ thời” (Vấn vương hồn mộng từ nay nhỉ, Gặp lại thuyền quyên ấy lúc nào?). Lời thơ thật là tình sâu một mạch, do cõi lòng phát ra, mà ông Văn Chính là một vị công thần mở nước, có hại gì đến phẩm cách con người đâu. Thiên “Hàm thần vụ” trong “Hiếu kinh” nói rằng: Thơ là “trì” (giữ gìn) vậy, bảo trì tính tình để khỏi mất đi, ý này có phần đúng hơn ý của Vương An Thạch.
[1] “Tự ngôn” hợp lại thành chữ “thi”. “Tự” lại có nghĩa là cơ quan của nhà nước, như Đại lý tự chẳng hạn.
II.7
Lưu Chiêu Võ nói rằng, một bài thơ ngũ ngôn luật (gồm tám câu), cả bốn mươi chữ phải như bốn chục người hiền, trong đó vướng phải một chú lái buôn thịt là không được. Tôi thường dạy các thiếu niên học thơ nên bắt đầu từ loại thơ ngũ ngôn luật, thì trên có thể với tới thơ cổ phong, dưới có thể tiếp liền thơ thất luật.
II.15
Chữa thơ khó hơn làm thơ, sao vậy? Là vì lúc làm thơ, ý hứng phát sinh trong đầu óc, dễ dàng mà làm nên bài, còn khi chữa thơ thì ý hứng đã qua rồi, đại cục đã xong rồi, chỉ còn một vài chữ trong lòng áy náy, dùng hết muôn vàn khí lực mà thay đổi cũng không xong, có khi, sau một vài tháng, trong khi không cố ý lại tìm được chữ hay, đúng như Lưu Ngạn Hòa nói: “Giàu với ngàn bài, quẫn vì một chữ”, thật là câu nói “ngọt bùi từng trải”. Tuân Tử nói rằng: “Có người làm mất cái kim, tìm mãi không được, bỗng dưng lại được, không phải mắt có sáng thêm, “mâu” mà được vậy”. Chữ “mâu” ở đây, có nghĩa là ngẫu nhiên liếc đúng chỗ vậy. Thơ Đường có câu “Tận nhật mịch bất đắc, Hữu thời hoàn tự lai” (Suốt ngày tìm không được, Có lúc nọ tự đến) ý nói “mâu” (liếc) mà được vậy.
II.17
Ông Doãn Văn Đoan bàn thơ rất tinh tế, có nêu lên thuyết “sai nửa chữ”, như thơ Đường có câu “Dạ cầm tri dục vũ, Vãn đạm giác tân thu” (Đàn đêm biết muốn mưa, Chiếu chiều thấy thu mới), hai chữ “thu mới” là từ hiện thành, còn hai chữ “muốn mưa” thì lấy chữ “muốn” để đề lên chữ “mưa” không phải là từ hiện thành, thế là sai nhau nửa chữ. Do loại ấy mà suy rộng ra thì có nhiều nhà thơ nổi tiếng cũng phạm phải bệnh ấy, như hai câu thơ trên thì phải đổi câu sau làm “Vãn đạm cáp nghi thu” (Chiếu chiều vừa hợp thu), dùng chữ “nghi” mới đối được với chữ “dục”.
II.22
Khoảng năm Khang Hy, Tào Luyện Đình làm ở xưởng chế tạo Giang Minh, mỗi lúc đi xe ra vào nhất định đều cầm một quyển sách để xem, người ta hỏi ông sao ham học quá, ông nói: “Không phải thế đâu, tôi không phải là quan địa phương, mà nhân dân trông thấy tôi thế nào cũng đứng dậy, lòng tôi áy náy nên vờ làm như thế để che mắt mà thôi.” Ông vốn bất hòa với viên thái thú Giang Minh là Trần Bằng Niên, lúc Trần bị tội, ông lại dâng tờ sớ bí mật tiến cử Trần, vì thế được người ta trọng. Con của ông là Tào Tuyết Cần soạn bộ sách “Hồng Lâu Mộng”, chép đủ cảnh phong nguyệt phồn hoa, trong có cái vườn Đại quan tức là Tùy Viên của tôi. Lúc đó có cô gái hồng lâu (gái điếm hạng sang) rất đẹp, Tuyết Cần tặng bài thơ rằng: “Bệnh dung tiều tụy thắng đào hoa, Ngọ hạn triều hồi nhiệt chuyển gia, Do khủng ý trung nhân khán xuất, Cưỡng ngôn kim nhật hiệu sai ta” (Dung nhan tiều tụy quá hoa đào, Trưa sốt quay về nóng trở cao, Còn sợ người yêu nhìn thấy rõ, Gượng rằng nay đã bớt phần nào). Và bài nữa: “Uy nghi đệ đệ nhược xuất ba, Ứng bả phong lưu đoạt ỷ la, Bất tự tiểu gia câu thúc thái, Tiếu thời thiên thiểu mặc thời đa” (Uy nghi nhàn nhã nước sinh hoa, Hẳn lấy phong lưu thể lụa là, Khác bọn tiểu gia vẻ câu thúc, Cười thì có ít lặng thì nhiều).
II.24
Trước đây tôi đọc bài thơ vịnh núi Tiểu Cô của tú tài Tôn Thiều rằng: “Giang tâm đột ngột túng cô loan, Phiếu diểu hoàn nghi nguyệt lý khan, Tuyệt tự lăng vân nhất chi bút, Dạ thâm hoành tháp thủy tinh bàn” (Lòng sông đột ngột dựng non cô, Thấp thoáng ngờ xem giữa nguyệt mờ, Giống đứt ngất trời một cây bút, Đêm khuya mâm ngọc cắm ngang vô), sau đi ngang núi ấy, mới biết câu thơ ấy thật là hay.
Ngoài lề: ỏ.õ Không hiểu sao mình thấy câu “Tuyệt tự lăng vân nhất chi bút” dịch thành “Giống đứt ngất trời một cây bút” hơi ba trấm, hỏi Nguyên Vi hắn bảo “nghĩa là giống như một cây bút chọc vỡ mây”, còn tìm giúp mình câu nguyên văn “绝似凌云一枝笔”, đa tạ tiểu bảo bối :”)
Nhân tiện, nhờ bảo bối tìm và dịch nghĩa luôn cả bốn câu  ”江心突兀耸孤峦, 飘渺还疑月里看, 绝似凌云一枝笔, 夜深横插水晶盘” (giữa lòng sông đột ngột dựng đứng một ngọn núi lẻ, ẩn hiện còn ngỡ rằng trông thấy giữa bóng trăng, (núi) trông giống như một ngọn bút chọc vào mây, đêm khuya tựa như cắm xuyên qua một cái mâm bằng thủy tinh), đa tạp tập hai X”)
II.28
Lưu Tăng đọc “Văn tuyển” bên đèn, mệt nằm ngủ quên, mơ màng thấy một người ăn bận áo mão đời xưa nói với ông ta rằng: “Văn các đời Ngụy, Tấn là thơ trong văn, thơ các đời Tống, Nguyên là văn trong thơ”. Tỉnh dậy nói lại với tôi, tôi nói, luận điểm của tôi vốn là như thế.
II.36
Mao Tây Hà chọn thơ hay của giới phụ nữ, mà bỏ sót thơ của cô gái Sơn Âm, tên là Vương Đoan Thục, Vương gửi cho ông ta câu thơ “Vương Tường vị tất vô nhan sắc, Tranh nại Mao quân bút hạ hà” (Vương Tường vị tất không phải đẹp, Dưới bút ông Mao [1] biết tính sao?), một bên là giấu tên mình, một bên là ám chỉ Mao Tây Hà.
[1] Mao Diên Thọ đời Hán vẽ xấu nàng Vương Tường (Vương Chiêu Quân) để nàng bị gả cho chúa Hồ, đây mượn để chỉ Mao Tây Hà.
II.39
Về cổ văn, triều Thanh có Phương Vọng Khê, cũng như về thơ có Vương Nguyễn Đình, đều là dòng chính trong một triều đại mà tài lực có phần mỏng manh, người cận đại mà suy tôn hai ông ấy, thế nào thơ văn cũng yếu, trái lại, nếu ai chê bai hai ông ấy, thế nào thơ văn cũng thô, đúng như người ta hay nói: “Nịnh Phật là ngu, mà bài trừ Phật là viển vông”.
II.41
Làm người không thể không phân biệt giữa nhu mì và nhu nhược, giữa cương cường và cường bạo, giữa kiệm ước và biển lận, giữa trung hậu và hôn ngu, giữa sáng suốt và khắc bạc, giữa tự trọng và tự đại, giữa tự khiêm và tự tiện, mấy cái đó hình như giống nhau mà thực khác nhau; còn làm thơ thì không thể không phân biệt giữa bình đạm và khô khan, giữa tân kỳ và tiêm xảo, giữa mộc mạc và vụng về, giữa cường kiện và thô bạo, giữa hoa lệ và khinh phù, giữa thanh tú và mỏng manh, giữa trọng hậu và cứng đờ, giữa tung hoành và tạp loạn, mấy cái đó hình như giống nhau mà kỳ thực khác nhau, sai một ly đi một dặm.
III.1
Tôi thường nói với người ta rằng, tài thì muốn cho lớn, chí thì muốn cho nhỏ. Tài lớn thì làm việc thừa sức, chí nhỏ thì muốn gì đều thỏa mãn. Khổng Dung chí lớn tài sơ rốt cục bị nạn, Bính Man Dung không chịu làm quan bổng quá sáu trăm thạch, thành ra suốt đời an nhàn, Đổng Nhị Thụ có câu thơ “Sở dục bất cầu đại, Đắc hoan thường hữu dư” (Cái muốn không cầu lớn, Được vui thường có thừa), thật là câu nói thấu đáo.
III.2
Dụng binh là việc nguy mà Triệu Quát nói một cách dễ dàng, cho nên mới thua trận, làm thơ là việc khó mà Lý Lão nói một cách dễ dàng, cho nên thơ ông quê mùa. Đường Tử Tây nói rằng: “Thơ mới làm xong chưa thấy chỗ nào đáng chê, tạm để đấy, ngày mai lấy ra đọc thì thấy sai phạm lung tung, bèn sửa chữa mãi, cách vài hôm đem ra xem, lại thấy sai phạm, lại sửa chữa thêm, như vậy đến vài bốn lần mới dám đem ra cho người khác xem.” Mấy câu này đúng là người biết khó mà dùng sức sâu sắc. Nhưng cũng có lúc, một khi cơ trời đã đến thì nhất thiết không thể chữa nữa. Trong bài “Tục thi phẩm” của tôi có câu “Tri nhất trùng phi, tiến nhất trùng cảnh, Diệc hữu sinh kim, nhất chú nhi định” (Biết một lần sai, tiến lên một trùng, Cũng có vàng sống, một đúc là xong).
III.3
Có người hỏi tôi rằng, thơ triều ta ai là đệ nhất? Tôi hỏi vặn trở lại rằng, ba trăm bài thơ ở “Kinh thi”, anh cho bài nào là đệ nhất? Anh ta không trả lời được. Tôi bèn giải thích cho anh hiểu rằng, thơ cũng như hoa cỏ trời sinh, xuân lan thu cúc đều tốt về từng mùa, không cho phép người ta xem bên nào hơn, bên nào kém; bài nào mà âm luật, phong phú rung động lòng người, mắt người, tức là thơ hay, chẳng có gì gọi là đệ nhất, đệ nhị; nhưng cũng có bài do ở chỗ đặc biệt thành công mà bàn, như câu thơ “Bất sầu minh nguyệt tận, Tự hữu dạ châu lai” (Sầu gì minh nguyệt hết, Đã có dạ châu sang), người ta hay nói thơ Dương Nhữ Sĩ áp đảo Nguyên Bạch là thế; cũng có khi tóm cả toàn cục mà bàn, như nhà Đường thì lấy họ Lý, họ Đỗ, họ Hàn, họ Bạch làm nhà thơ lớn, nhà Tống thì lấy họ Âu, họ Tô, họ Lục, họ Phạm làm nhà thơ lớn. Nếu nhất thiết chỉ lấy một người để trùm lên cả một triều đại thì như hoa mẫu đơn được gọi là vua hoa, mà hoa lan cũng cũng được gọi là hương của vua, đối với cỏ cây còn không thể cho loại nào là đệ nhất, huống gì là thơ.
III.7
Vương Thủ Nhân đời Minh nói rằng: “Đối với thơ văn của người ta, trước hết phải lấy ý chân thực, như trẻ con rủ đôi bím tóc mà vái chào, tự nhiên thấy đẹp, nếu mang mặt nạ đeo râu vào, làm bộ lom khom thì sẽ khiến cho người ta đâm ghét.”
Cố Ninh Nhân viết thư cho tôi, có đoạn nói: “Thơ văn của túc hạ không phải không hay, khốn nỗi lúc hạ bút cứ để một họ Đỗ, một họ Hàn ở trong lòng, không sao làm ngơ đi được, vì thế mà thơ văn không đến vậy.”
III.8
Vương Mạnh Lân nói rằng: “Gia số trong làng thơ cũng như nha môn trong quan trường, nói về nha môn, nha môn tổng đốc là lớn, nha môn điển sử là nhỏ, nhưng nếu đem người gánh nước ở nha tổng đốc mà so với viên điển sử ở nha điển sử thì thà làm điển sử chứ không ai làm người gánh nước, sao vậy? Là vì điển sử tuy nhỏ vẫn là chức quan triều đình, còn như nha môn của người gánh nước kia tuy tôn quý mà chẳng liên quan gì đến anh ta, cũng như người đời nay học thơ Đỗ, Hàn không thành công mà vẫn hơn hớn cho mình thuộc loại đại gia, chẳng qua chỉ là người gánh nước trong nha môn tổng đốc mà thôi.”
Diệp Hoành Sơn nói rằng: “Những người thích mô phỏng thơ của người xưa, nếu bắt chước mà giống thì như áo mão của bọn phường tuồng, bắt chước mà không giống thì như vẽ cọp giống chó, đi mượn hơi hám của người ta để rồi huênh hoang lên mặt, chi bằng cam làm chức thiên tỳ (võ biền nhỏ) mà tự nắm một đội quân!”
III.9
Loại thơ cận thể của Tô Đông Pha ít công phu un đúc rèn luyện cho nên lời hết mà ý cũng hết, tuyệt nhiên không có âm vị gì ở ngoài lời thơ cả, Nguyễn Sĩ Trinh cho là loại thơ ấy không phải là môn sở trường của Tô Đông Pha, người sau không nên bắt chước, lời nói ấy là đúng. Nhưng Mao Tây Hà lại chê bai quá đáng. Có người đọc câu thơ “Xuân giang thủy noãn áp tiên tri” (Sông xuân nước ấm vịt biết trước) của Tô Đông Pha, cho rằng đó là câu thơ hay trong loại thơ cận thể của ông, Tây Hà gạt đi mà rằng: “Thế thì sông xuân nước ấm chỉ có vịt biết mà ngỗng không biết hay sao?” Câu nói này thật là hồ đồ quá. Nếu theo cách ấy mà bàn thơ thì cả ba trăm bài thơ “Kinh thi”, câu nào cũng sai cả. Như câu “Tại hà chi châu” (ở trên bãi sông) thì các loại chim minh cưu, ban cưu đều ở đó được, hà tất phải là chim thư cưu! Câu “chỉ vu khâu ngu” (đậu ở góc đồi) thì các loại chim trắng, chim đen đều đậu được cả, hà tất phải nói chim vàng?
III.14
Tôi rất thích lời bàn về thơ của Chu Lịch Đình như sau: Thơ để nói lên mối tình của ta, cho nên ta muốn làm thì làm, không muốn làm thì thôi, chứ không hề có ai miễn cưỡng đốc thúc, bắt ta nhất định phải làm cả. Vì thế ba trăm bài thơ trong “Kinh thi” nói ra đúng như lòng mình, không ghi họ tên, không để ý gì đến việc truyền thơ, cũng không có ý gì về việc người sau truyền lại thơ mình, ôi, sở dĩ thơ rất hay là nhờ đấy chăng? Người đời nay muốn mượn điều làm thơ để tỏ ra học rộng và đua đòi thanh danh là lầm vậy.
III.36
Thơ tuy kỳ vĩ mà không rèn luyện tinh tế thì cũng là tài thô kệch, thơ tuy cao cả mà không mở mang khai thác thì khuôn khổ cũng chật hẹp. Người có tài, khi phóng ra thì đầy sáu cõi, khi thu lại thì trong gang tấc, gươm lớn sát trời, kim vàng thêu thùa, chỉ là một vậy. Gia Cát ở nhà gianh, đi cày ruộng, bỗng cầm quân sáu lần xuất chinh, Hàn Thế Trung thủ tướng đời trung hưng, lại có khả năng dạo chơi Tây Hồ. Thánh nhân lúc đắc dụng thì ra làm, lúc bị bỏ rơi thì về nghỉ, có thể co, có thể duỗi, thơ cũng như thế. Người ta nói, về nghề viết chữ, Khổng Bắc Hải như voi không bằng Vương Hữu Quân như rồng, cũng là ý ấy. Tôi thường răn Tưởng Tâm Dư rằng: “Khí của anh át cả chín châu, nhưng làm to thì được làm nhỏ không được, phóng ra thì được thu vào không được, cứng rắn thì được mà không biết kế thừa”. Tâm Dư rất phục và nói “Hôm nay tôi mới được người thầy chân chính”.
III.68
Hoàng Tử Vân ở Tô Châu, biệt hiệu Dã Hồng, tuy là người dân thường nhưng có tài làm thơ, có viên trung thừa nọ muốn gặp, ông ta không ưng, đề câu thơ rằng: “Không cốc y quan phi dị cấu, Dã nhân môn hạng bất khinh khai” (Áo mão rừng hoang không dễ thấy, Cửa nhà thôn dã nào dễ mở). Có hôm khách đến, ông mổ gà làm cơm mời ăn và giữ lại ngủ đêm, cha con ông đọc sách suốt đêm, khách khen là ham học, ông nói “Đâu phải, cha con tôi chỉ có cái chăn, nhường để đãi khách, chẳng biết ngủ ra sao, bèn tạm đọc sách đó thôi.”
IV.29
Thơ quý đạm, nhã, mà cũng không nên có mùi thôn dã, sao vậy? Là vì những người hay thơ đời xưa như Ứng, Lưu, Bào, Tạ, Lý, Đỗ, Hàn, Tô đều là quan chức, không phải người thôn dã. Người quân tử đọc vỡ muôn quyển cũng phải lên miếu đường, xem núi sông, giao du với người giỏi trong bốn biển, sau đó, khí cục và kiến giải tự nhiên rộng lớn, lại có bạn tốt giũa mài, tự nhiên tinh thông tiến bộ, nếu không chỉ khăng khăng vui với chim hót trùng ngâm, tuy cũng có chỗ hay nhưng khuôn khổ cố nhiên chật hẹp, trong bài “Diêm thiết luận” của Hoàn Khoan có câu “Nhà nho quê mùa không bằng kẻ học trò nơi phố thị” quả đúng là vậy.
IV.42
Người đời nay hễ bàn đến thơ thì cứ quý hậu (dày) mà khinh bạc (mỏng), đó cũng chỉ là lời nói “nghe rằng”, không biết rằng nên hậu hay nên bạc đều nhìn vào chỗ có tốt hay không mà định. Nói về hai vật thì da hồ quý hậu, lụa là quý bạc; nói về một vật thì sống dao quý hậu, lưỡi dao quý bạc; phải đâu hậu nhất định phải quý mà bạc nhất định phải khinh. Nói về thơ của cổ nhân, thơ Đỗ Phủ dường như hậu, thơ Lý Bạch dường như bạc, thơ Lý Nghĩa Sơn dường như hậu, thơ Ôn Phi Khanh dường như bạc, mà họ đều là nhà thơ nổi tiếng cả. Cũng như bàn về cách giao du, người ta hay nói người sâu sắc khó giao du, không biết rằng người nông cạn cũng khó giao du.
IV.47
Làm thơ mà tự mình chú thích xuất xứ, người xưa không hề làm. Trong bài chê Nguyên Chẩn chua bài bia ở quán Đồng Bách, Âu Dương Tu đã nói tường tận rồi, phương chi, làm thơ mà phải chờ chú thích đã không phải loại thơ hay. Ông Hàn Môn làm bài thơ “Văn yên” (Xông muỗi) gồm 12 vần mà chú thích đến 8 hàng, đó là văn sách nói về muỗi chứ không phải là thơ muỗi. Nhưng ông ta có bài thơ “Vịnh tơ liễu”, trong đó có câu “Thán tức xuân phong cánh hà ý, Đoàn nhu vô xứ bất thành miên” (Than thở gió xuân sao lại thế, Vo tròn đâu cũng trở thành bông), lời thật thanh diệu.
IV.53
Có người hỏi rằng, bảy thi gia đời Minh mô phỏng thơ Đường, Vương Nguyễn Đình cũng mô phỏng thơ Đường, nhiều người thích thơ Nguyễn Đình mà ít ai thích thơ của bảy thi gia kia, là tại làm sao? Tôi nói: “Bảy thi gia đời Minh hay khua chuông gõ trống, hát lên những âm điệu cung thương, lớn lao, dễ bị người ta chán, còn Nguyễn Đình thì khéo gảy đờn thổi sáo, hát lên điệu trưng, giốc nhẹ nhàng, dễ lọt tai người nghe. Nhưng trong bảy thi gia đời Minh, có người như Lý Không Đồng, tuy không có tính tình mà có khí phách, còn Nguyễn Đình thì cả tính tình lẫn khí phách đều kém, vì thế chỉ có thể làm cho lớp người hạng vừa ưa thích mà không lung lạc được hạng người thượng trí.”
IV.54
Gần đây, nhiều người truyền nhau tập “Phả thanh điệu” nói rằng do Vương Nguyễn Đình truyền lại, những người làm thơ thất ngôn cổ phong đều thờ làm bản sách bí ẩn, tôi xem qua, bất giác buồn cười. Thơ là nguyên âm của trời đất, có nhất định mà lại không nhất định, khi nào vừa đúng chỗ hay thì tự nó thành ra âm tiết, chỗ vi diệu trong đó, miệng không thể nói ra, thử xem như các loại thơ “Quốc phong”, “Nhã”, “Tụng”, “Ly tao”, “Nhạc phủ”, đều có thanh điệu mà không thể điền theo phả nào, trong loại thơ thất ngôn cổ phong của các ông Đỗ Phủ, Vương Duy, bằng trắc điều hòa cũng có bài như thơ thất ngôn Đường luật, thơ Hàn Dũ có bài bảy vần đều bằng, hoặc bảy vần đều trắc, Nguyễn Đình làm thế nào mà buộc họ vào cái lệ “bốn trắc, ba bằng” được! Nếu nhất định phải theo phả khúc mà sắp xếp thì cái phong cách “tứ thủy lục nghĩa” mất hết còn gì! Chính vì thế mà loại thơ thất ngôn cổ phong của Nguyễn Đình cũng như Bá Cơ [1] xưa không dám chuyển dời một bước.
[1] Bá Cơ người đời Xuân thu, vợ vua nước Tống, thờ chồng trực tiết, một hôm bị hỏa hoạn, vì vắng mặt bảo mẫu, không dám dời đi, bèn bị chết cháy
IV.56
Thơ tuy là nghề mọn, nhưng cũng phải học tập từ khi thơ ấu, bắt đầu học, phải trên từ Hán Ngụy, Lục triều, dưới đến Tam Đường, Lưỡng Tống, tự nhiên nguồn dòng nắm được, mạch lạc phân minh, còn sĩ phu đời nay thì đã bỏ hết tinh thần vào loại văn bát cổ rồi, sau khi làm quan mới mến tiếng thơ mà cố gắng học, lại mến tiếng các nhà thơ lớn mà bó hẹp phạm vi học lại, do đó, thơ Tống chỉ học Tô, Hoàng, thơ Đường chỉ học Hàn, Đỗ, ngoài ra đều không học đến, phải biết rằng, bốn nhà thơ ấy có phải người học cạn bắt chước được đâu! Vì thế, chỉ học được bề ngoài, khoe mình là cao cả, trọn đời noi theo, mà không biết đạo làm thơ là như thế nào. “Kinh thư” có câu: “Đức không có thầy thường, nhằm vào điều thiện để làm thầy.” Tử Cống có câu: “Phu Tử không gì không học, nhưng có thầy nhất định đâu”, đó là mấu chốt trong việc làm thơ vậy. Đào Hoàng Thôn nói rằng: “Lời nói của tiên sinh cố nhiên là phải, nhưng cũng phải nhìn đến tính chất trời cho như thế nào, người có tính chất gần gũi với thơ, dù trung niên rồi mới học cũng có thể trở thành nhà thơ nổi tiếng, người mà tính chất xa với thơ, thì dầu có học tập từ lúc thơ ấu cũng vô ích, mài sắt có thể nên kim, chứ mài gạch thì không bao giờ có thể nên kim được.”
Thẻ:
TQS post ngày 2/10/2013